PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thì các quan hệ tư pháp quốc tế đang
ngày càng diễn ra một cách phổ biến, và kéo theo đó là số lượng các tranh chấp
phát sinh giữa các chủ thể trong các quan hệ đó cũng ngày càng tăng. Các tranh
chấp này có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau, nhưng giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài đã và đang là một trong những phương thức phổ
biến ở các nước trên thế giới bởi những ưu điểm của phương thức này. Bên cạnh
những vấn đề khác được đặt ra đối với giải quyết tranh chấp về trọng tài thì vấn đề
công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài cũng là rất quan
trọng. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, ngày càng có nhiều tranh chấp phát sinh từ
các quan hệ có yếu tố nước ngoài được các bên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài,
và nhu cầu về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của Trọng tài
nước ngoài cũng cũng đang ngày một trở nên phổ biến hơn.
Bên cạnh đó, trong những năm vừa qua, việc áp dụng các quy định của pháp
luật về công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài trên thực tế
đã cho thấy một điều, đó là mặc dù pháp luật Việt Nam về vấn đề này đã tương đối
đồng bộ và hoàn thiện so với các giai đoạn trước đó, nhưng vẫn cón khá nhiều
những bất cập. Những bất cập này đã tạo ra những cản trở không nhỏ cho việc công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài.
Vì những lý do trên, có thể thấy việc nghiên cứu về vấn đề công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài là vô cùng quan trọng và
hết sức cần thiết, cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vì vậy, người viết đã chọn đề tài
“Công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài của Việt Nam, một
số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn các quy định của
pháp luật về vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài
tại Việt Nam, đồng thời tìm hiểu về thực trạng vấn đề này, qua đó đề ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật.
gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài
đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn
được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong
nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu”.
Như vậy, Công ước New York đã xác định quyết định của Trọng tài nước
ngoài dựa trên cơ sở tiêu chí “lãnh thổ” nơi quyết định Trọng tài được ban hành.
Theo Công ước New York, quyết định của Trọng tài nước ngoài là những quyết
định Trọng tài được tuyên bên ngoài lãnh thổ của quốc gia nơi việc công nhận và
cho thi hành quyết định đó được yêu cầu, mà không phân biệt quốc tịch của trọng
tài đưa ra quyết định đó. Như vậy, một quyết định trọng tài có thể (1) được đưa ra
bởi trọng tài nước ngoài ở nước ngoài, hay (2) bởi trọng tài của nước sở tại ở nước
ngoài thì đều được coi là trọng tài nước ngoài theo quy định của Công ước New
York. Sở dĩ như vậy là vì đây là một thông lệ bắt nguồn từ một nguyên tắc được
thừa nhận rộng rãi trong pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, đó là,
luật điều chỉnh tố tụng trọng tài (bao gồm cả các quy định pháp luật liên quan đến
hình thức và hiệu lực của phán quyết trọng tài) là luật pháp của quốc gia sở tại (lex
arbitri), bất kể quốc tịch của Trọng tài viên và Hội đồng trọng tài, trừ phi luật pháp
3
của quốc gia đó cho phép việc áp dụng pháp luật của quốc gia khác. Cơ sở của
nguyên tắc này chính là nguyên tắc về chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, Công ước New York cũng cho phép các quốc gia
thành viên quy định thêm các trường hợp khác được coi là quyết định của trọng tài
nước ngoài, đó là các quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước
tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu. Điều này tạo ra
thêm một khả năng nữa cũng có thể được coi là quyết định của trọng tài nước ngoài
(ngoài hai trường hợp (1) và (2) nêu trên), đó là quyết định của trọng tài nước ngoài
được đưa ra ở nước sở tại. Theo đó, mặc dù đây là quyết định được đưa ra trên lãnh
thổ nước sở tại, nhưng vẫn có thể được coi là quyết định của trọng tài nước ngoài
nếu pháp luật quốc gia đó quy định như vậy. Trên cơ sở lịch sử đàm phán công ước
New York và theo cách hiểu được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, đây là trường
Định nghĩa quyết định trọng tài nước ngoài trong Công ước New York đã
được đa số các nước thành viên tham gia Công ước này cụ thể hóa trong pháp luật
quốc gia thông qua con đường nội luật hóa.
Tuy nhiên, do khái niệm về quyết định của Trọng tài nước ngoài được Công
ước New York quy định rõ ràng những cũng rất linh động, do đó các quốc gia có
thể quy định cụ thể về vấn đề này trong pháp luật quốc gia theo những cách khác
nhau. Chúng vì lý do này mà pháp luật các quốc gia có quy định không giống nhau
về khái niệm “quyết định của Trọng tài nước ngoài”.
Ví dụ, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) của Nga tuy không đưa ra một khái
niệm chung về quyết định của trọng tài nước ngoài, nhưng lại giải thích cụm từ
“quyết định của trọng tài nước ngoài” (foreign arbitral awards) bằng cụm từ “quyết
định được tuyên bởi trọng tài nước ngoài” (judgments made by foreign arbitration).
Điều này có thể được thấy tại ĐIều 416, 417 của BLTTDS Nga.
5
Trong khi đó, pháp luật Pháp cũng không nêu ra một khái niệm chung về
quyết định của trọng tài nước ngoài, nhưng tại BLTTDS Pháp, Mục 4, Phần VI,
Chương I về Công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, quyết
định của trọng tài nước ngoài được đề cập đến bằng cụm từ “quyết định trọng tài
được tuyên tại nước ngoài” (arbitral awards given abroad).
Như vậy, có thể thấy, khái niệm về “quyết định của trọng tài nước ngoài”
vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau trên thế giới.
Tóm lại, có hai yếu tố có thẻ được sử dụng để xác định quyết định của trọng
tài nước ngoài, đó là: Yếu tố lãnh thổ và yếu tố quốc tịch của trọng tài.
− Theo yếu tố lãnh thổ, một quyết định trọng tài sẽ được coi là quyết định trọng
tài nước ngoài nếu nó được tuyên bên ngoài lãnh thổ của quốc gia mà vấn đề
công nhận và cho thi hành quyết định đó được đặt ra, bất kể trọng tài đó là
trọng tài của quốc gia nào;
− Theo yếu tố quốc tịch của trọng tài, một quyết định trọng tài sẽ được coi là
quyết định trọng tài nước ngoài nếu nó được tuyên bởi trọng tài nước ngoài,
bất kể quyết định đó được tuyên tại đâu. Việc xác định quốc tịch của trọng tài
dụng không tách rời khi đề cập đến quyết định của trọng tài nước ngoài là vì một
quyết định của trọng tài nước ngoài không thể được thi hành nếu không được công
nhận trước đó. Vê phương diện này, công nhận và cho thi hành là không thể tách
rời.
Tuy nhiên, hai thuật ngữ này cũng có thể được dùng tách biệt vì công nhận
quyết định của trọng tài nước ngoài có thể được yêu cầu độc lập mà không có cho
thi hành. Công ước Geneva 1927 đã phân biệt giữa công nhận và cho thi hành tại
Điều 1 với quy định “để đạt được sự công nhận hoặc cho thi hành…). Cũng có
trường hợp trong cùng một văn bản, có phần đề cập đến công nhận và cho thi hành
7
như một thuật ngữ, trong khi phần khác lại đề cập đến công nhận và cho thi hành
như hai thuật ngữ độc lập. Ví dụ, Công ước New York cũng quy định về công nhận
và cho thi hành tại Điều IV và V với tư cách là một thuật ngữ, trong khi đó lại quy
định tại Điều III về công nhận và cho thi hành với tư cách là hai thuật ngữ độc lập.
Sở dĩ như vậy là vì có sự khác nhau về ý nghĩa và mục đích của hai hành vi này.
Cụ thể, khi bên bên thắng kiện trong tố tụng trọng tài yêu cầu tòa án công
nhận quyết định trọng tài, việc công nhận này sẽ có ý nghĩa là bằng chứng để chứng
minh rằng tranh chấp đó đã được giải quyết bởi trọng tài và sẽ không phải trải qua
bất kỳ quá trình tố tụng nào khác. Bằng chứng này là cơ sở để ngăn chặn bất kỳ
khiếu kiện nào mà bên thua kiện có thể đưa ra về cùng một vụ tranh chấp. Như vậy,
mục đích của việc công nhận là một quá trình tự vệ nhằm tạo cơ sở để ngăn bên
thua kiện tiếp tục khởi kiện vụ việc đã được giải quyết. Trong trường hợp này, Tòa
án sẽ chỉ công nhận quyết định trọng tài nước ngoài mà không đưa ra bất kỳ biện
pháp cưỡng chế nào đối với bên thua kiện và như vậy, công nhận quyết định của
Trọng tài nước ngoài chỉ đơn thuần là sự thừa nhận giá trị pháp lý của quyết định
trọng tài đó.
Trong khi đó, việc cho thi hành lại hướng tới một bước xa hơn sau khi công
nhận quyết định của trọng tài nước ngoài, đó là buộc bên thua kiện phải thực hiện
quyết định trọng tài. Mục đích của việc cho thi hành là nhằm thực hiện các hành vi
để buộc bên thua kiện thực hiện các nghĩa vụ theo quyết định trọng tài. Trong
tranh chấp bằng trọng tài đang ngày càng trở nên phổ biến hơn do những ưu điểm
của nó, thì vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài
nói riêng càng giữ một vai trò quan trọng hơn nữa trong việc giải quyết các tranh
chấp quốc tế. Có thể nói, việc phát huy vấn đề công nhận và cho thi hành quyết
9
định của trọng tài nước ngoài trong những điều kiện phù hợp có ý nghĩa to lớn về
mặt chính trị, kinh tế cũng như pháp lý.
1.2.1. Về phương diện chính trị
Công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài sẽ thúc đẩy
quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia. Sự công nhận và cho thi hành quyết
định của Trọng tài nước ngoài ở một quốc gia vừa khẳng định chủ quyền về mặt tài
phán của quốc gia đó, vừa thể hiện thiện chí của quốc gia đó đối với các quốc gia
khác. Sự hợp tác giữa các quốc gia không thuần túy thể hiện sự hợp tác trong lĩnh
vực tư pháp mà còn thể hiện sự tôn trọng của cơ quan tài phán này với cơ quan tài
phán của nước khác. Bên cạnh đó, việc công nhận và cho thi hành còn thể hiện
chính sách bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp không chỉ của các tổ chức, cá nhân nước
mình mà còn cả lợi ích của các cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nươc
ngoài còn thể hiện quyền tài phán độc lập của bản than một quốc gia. Không một
quốc gia, tổ chức quốc tế nào có thể ép buộc một quốc gia hay tổ chức quốc tế khác
công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại nước mình. Cũng
như không một quốc gia nào có quyền ép buộc một quốc gia khác ký kết các điều
ước về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài.
Đối với Việt Nam, việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài
nước ngoài thể hiện chủ trương hợp tác của Nhà nước ta trong lĩnh vực tư pháp.
Việc ban hành BLTTDS và việc nước ta gia nhập Công ước New York 1958 là việc
làm cần thiết để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động này, đồng thời tạp tâm lý an toàn
cho các nhà đầu tư nước ngoài trong quan hệ kinh doanh với Việt Nam. Việc Nhà
nước ta công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài trong
những trường hợp cần thiết chính là Nhà nước thực hiện vai trò trong việc điều tiết
cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài thì việc quy định về quyền lựa
chọn Trọng tài nước ngoài sẽ là vô nghĩa.
Công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài còn là căn cứ
pháp luật quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các yêu
cầu giải quyết vụ việc của đương sự vì khi Tòa án có thẩm quyền đã giải quyết yêu
cầu công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài thì cũng đồng
nghĩa với việc tòa án của quốc gia đó không có thẩm quyền thụ lý để giải quyết vụ
việc đó theo thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng nữa. Ý
nghĩa này cũng được pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 413 BLTTDS.
Bên cạnh đó, việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước
ngoài còn tạo môi trường pháp lý thuận lợi và hiệu quả hơn cho cơ chế giải quyết
tranh chấp thông qua Trọng tài.
1.3. Khái quát pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế về công nhận và cho
thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài
Công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài hình thành
từ nhu cầu hợp tác về tư pháp giữa các quốc gia. Nghiên cứu pháp luật của các quốc
gia và Điều ước quốc tế về vấn đề này sẽ cho chúng ta cái nhìn khái quát về nội
dung và thực trạng pháp luật trên thế giới về công nhận và cho thi hành quyết định
của Trọng tài nước ngoài.
∗ Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật civil law, mà điển hình là Pháp và Đức,
vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài chủ yếu được
quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo pháp luật của Cộng hòa Pháp, quyết định của Trọng tài nước ngoài sẽ
được công nhận và cho thi hành tại Pháp bởi một phán quyết của tòa án. Quyết định
của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Pháp với điều kiện “sự
tồn tại” của quyết định đó đã được thiết lập bởi bên có quyền theo quyết định trọng
tài và việc công thận quyết định trọng tài này không trái với trật tự công cộng quốc
12
tế. “Sự tồn tại” của quyết định trọng tài nước ngoài được thiết lập khi bên có quyền
trình ra được bản gốc của quyết định trọng tài đó cùng với bản gốc thỏa thuận trọng
tách rời khỏi các quyết định về các vấn đề không được yêu cầu, thì
phần của quyết định trọng tài gồm các quyết định về vấn đề được yêu
cầu có thể được công nhận và thi hành; hoặc
• Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù
hợp với Phần này (Phần 10 BLTTDS Đức về Tố tụng Trọng tài) hoặc
với thỏa thuận của các bên và điều này ảnh hưởng đến quyết định
trọng tài; hoặc
− Tòa án thấy rằng:
• Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài
theo luật Đức; hoặc
• Việc công nhận và thi hành quyết định sẽ trái với trật tự công cộng.
Điều 1061 BLTTDS Đức cũng quy định, nếu việc tuyên bố cho thi hành
quyết định trọng tài nước ngoài bị từ chối thì tòa án sẽ phán quyết rằng quyết định
trọng tài đó không được công nhận tại Đức (khoản 2) và nếu quyết định trọng tài bị
hủy ở nước ngài sau khi đã được công nhận và cho thi hành, các bên có thể làm đơn
xin hủy quyết định công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài đó (khoản 3).
∗ Tại Anh, một quốc gia điển hình cho các nước theo hệ thống common law,
vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài được quy
định tại Đạo luật Trọng tài 1996. Theo Điều 66 Đạo luật này thì để một quyết định
của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Anh thì phải được tòa
án cho phép. Một khi đã được tòa cấp phép, bản án có thể được nhập vào quyết
định trọng tài và được thi hành với cách thức như một phán quyết hay bản án của
tòa. Tòa án sẽ không cho phép thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài nếu bên
14
bị thi hành chứng minh được rằng (i) trọng tài ra quyết định không có thẩm quyền
và (ii) bên bị thi hành vẫn chưa bị mất quyền phản đối.
Điều 100 đến 103 Đạo luật 1996 này cũng quy định về vấn đè công nhận và
cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài theo Công ước New York. Theo
đó, một quyết định trọng tài được coi là được tuyên theo Công ước New York nếu
nó được tuyên về một thỏa thuận trọng tài tại lãnh thổ một quốc gia là thành viên
Công ước New York phải trình bản gốc được xác thực hoặc bản sao được chứng
nhận của quyết định trọng tài và bản gốc hoặc bản sao được chứng nhận của thỏa
thuận trọng tài.
Theo pháp luật Anh, việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài
nước ngoài còn có thể được thực hiện dựa trên luật chung (common law). Bên có
thắng trong tranh chấp trọng tài có thể thực hiện một “hành vi về quyết định trọng
tài” dựa trên luật chung. Hành vi này dựa trên có sở là sự vi phạm thỏa thuận trọng
tài do bên thua không đã không thể thực hiện đúng các điều khoản của quyết định
trọng tài. Trong trường hợp này, các điều khoản chung của luật hợp đồng sẽ được
áp dụng để thi hành quyết định trọng tài.
∗ Theo pháp luật Liên bang Nga, việc công nhận và cho thi hành quyết định
của Trọng tài nước ngoài được quy định tại Điều 416 và 417 Chương 45 của Bộ
luật Tố tụng dân sự Nga. Theo đó, bên có yêu cầu công nhận và cho thi hành sẽ nộp
đơn yêu cầu cho tòa án cấp quận nơi bên có nghĩa vụ có trụ sở hoăc cư trú hoặc,
nếu không xác định được, nơi bên có nghĩa vụ có tài sản. Tòa án sẽ công nhận và
cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài bằng cách ban hành một Lệnh
16
cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài (Act on Compulsory Execution of an
Arbitral Award).
Việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài sẽ bị từ
chối bởi tòa án trong các trường hợp nêu tại Điều 417 Bộ luật tố tụng dân sự Nga.
Nhín chung, các trường hợp này là giống với các trường hợp nêu tại Điều V Công
ước New York. Trình tự, thủ tục của việc xét đơn và nội dung đơn yêu cầu được
nêu cụ thể tại các Điều 424, 425, 526 và 427 của Bộ luật tố tụng dân sự Nga.
∗ Các Điều ước quốc tế đa phương:
Có thể nói, Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành quyết
định của Trọng tài nước ngoài chính là một trong những công ước quan trọng và
thành công nhất của Liên hợp quốc về vấn đề này. Hiện nay đã có trên 140 quốc gia
tham gia Công ước và có thể nói, hầu hết việc công nhận và cho thi hành các phán
quyết của Trọng tài nước ngoài (về thương mại) đều thực hiện theo quy định của
hòa xã họi chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc (ký
ngày 12/10/1982);
− Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Bun-ga-ri
(ký ngày 03/10/1986).
Nội dung của các hiệp định này bên cạnh việc quy định các nội dung tương
trợ tư pháp đều có quy định tại một chương riêng về vấn đề công nhận và cho thi
hành quyết định của Trọng tài nước ngoài. Đây là những văn bản pháp lý để Nhà
18
nước ta xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật trong nước quy
định về vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài.
Để thi hành các hiệp định tương trợ tư pháp đã ký kết, Nhà nước ta đã ban
hành Thông tư liên bộ số 139-TT/LB ngày 12/3/2984 của Bộ tư pháp, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vu, Bộ Ngoại giao về việc thi
hành các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và
hình sự đã ký kết giữa nước ta với Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, Thông tư này lại không đề cập gì đến việc công nhận và cho thi hành quyết
định của trọng tài nước ngoài. Do đó, đến thời điểm này, cơ sở pháp lý cho việc
công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài vẫn chưa rõ ràng.
Trên cơ sở các hiệp định đã ký, ngày 25/3/1993, Bộ Tư pháp đã ban hành
THông tư 163/HTQT về việc thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài. Văn
bản này tuy không có quy định trực tiếp về công nhận và cho thi hành quyết định
của Trọng tài nước ngoài nhưng đã có những quy định hướng dẫn cho hoạt động ủy
thác tư pháp nói chung trong đó có hoạt động ủy thác tư pháp liên quan đến việc
công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài.
Ngày 28/7/1995, Chủ tịch nước đã ban hành quyết định số 453/QĐ-CTN về
việc tham gia Công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước
ngoài. Đây là dấu môc quan trọng trong sự hình thành và phát triển của pháp luật về
công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Khi
tham gia Công ước, Nhà nước ta đã tuyên bố 3 điểm bảo lưu:
− Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày
19/10/1998);
20
− Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Pháp (ký ngày 24/02/1999);
− Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hào Ukraina (ký ngày
06/04/2000);
− Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Mông Cổ (ký ngày
17/04/2000);
Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật quy định trực tiếp về công nhận và
cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, trong giai đoạn này, nhà nước
còn ban hành một số các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến vấn đề
này như:
− Pháp lệnh thi hành án dân sự do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông
qua ngày 14/01/2004;
− Pháp lệnh trọng tài thương mại do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua
ngày 25/02/2003;
− Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành…
Sau khi có Bộ luật tố tụng dân sự:
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định trước đây về công nhận và cho
thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, ngày 15/06/2004, Quốc hội khóa IX
đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó có quy định tương đối đầy đủ và có
hệ thống về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài. Vấn đề
công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài được quy định tại
Phần thứ sáu của Bộ luật tố tụng dân sự “Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài
nước ngoài” với 31 điều (từ Điều 342 đến Điều 373) quy định một cách chi tiết
Đối với dấu hiệu thứ nhất, cơ sở để xác định một quyết định là quyết định
của trọng tài nước ngoài theo pháp luật Việt Nam chính là yếu tố quốc tịch của
Trọng tài. Điều này cũng được Luật Trọng tài thương mại làm rõ khi khoản 12
Điều 3 Luật này quy định: “Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do
Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt
Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn”. Tuy nhiên, quy
định này là chưa thật sự hợp lý vì các lý do sau:
Thứ nhất, quy định của BLTTDS chưa làm rõ việc xác định quốc tịch của
Trọng tài, hay nói cách khác, làm thế nào để xác định được đâu là trọng tài nước
ngoài, đâu là trọng tài Việt Nam. Vấn đề này có thể được giải quyết dựa vào quy
định của Luật Trọng tài thương mại 2010, theo đó khoản 11 Điều 3 có quy định:
“Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật
trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh
chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”. Tuy nhiên, kể cả
khi căn cứ vào các quy định trên thì việc xác định một quyết định là quyết định của
trọng tài nước ngoài vẫn gặp khó khăn trong trường hợp quyết định đó được tuyên
bởi Trọng tài Thương mại quốc tế của các tổ chức quốc tế. Bởi Trọng tài Thương
mại quốc tế của các tổ chức quốc tế được thành lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các
quốc gia (trên cơ sở điều ước quốc tế). Đặc điểm của Trọng tài thương mại quốc tế
của các tổ chức quốc tế là nó không thuộc sự quản lý của bất kỳ quốc gia nào, kể cả
quốc gia nơi nó có trụ sở. Ví dụ: Trọng tài quốc tế ICC, Trung tâm trọng tài quốc tế
khu vự Kua-la-lăm-pơ…[7]
Thứ hai, quy định như khoản 2 Điều 342 BLTTDS là không phù hợp với
Công ước New York và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế. Khoản 1 Điều I
Công ước New York quy định “công ước này sẽ áp dụng đối với việc công nhận và
cho thi hành các quyết định trọng tài được tuyên ở một quốc gia không phải là
quốc gia nơi quyết định trọng tài được xin công nhận và cho thi hành”. Như vậy,
23
theo Công ước New York thì yếu tố để xác định một quyết định là quyết định của
trọng tài nước ngoài chính là yếu tố lãnh thổ nơi quyết định đó được tuyên. Điều
Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, việc xác định quyết định của trọng
tài nước ngoài dựa trên yếu tố lãnh thổ như quy định của pháp luật Việt Nam lại có
lợi và phát huy tác dụng trong việc quản lý Trọng tài Việt Nam tại nước ngoài, bởi
như vậy thì một quyết định của Trọng tài Việt Nam được tuyên ở ngoài lãnh thổ
Việt Nam, do không được xem là quyết định của trọng tài nước ngoài, sẽ phải tuân
thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và có thể bị kiểm tra, xem xét bởi Tòa án
theo Luật Trọng tài thương mại 2010.
Đối với dấu hiệu thứ hai, quyết định của Trọng tài nước ngoài không chỉ bao
gồm những quyết định giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật
thương mại mà còn cả những quyết định giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan
hệ pháp luật kinh doanh, lao động cũng cần được xem xét lại. Theo Luật Thương
mại 2005, thì việc sử dụng song song hai thuật ngữ “kinh doanh” và “thương mại”
là rườm rà, không cần thiết và có thể gây hiểu nhầm rằng quan hệ pháp luật thương
mại và quan hệ pháp luật kinh doanh là hoàn toàn khác biệt với nhau bởi lẽ theo
khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại thì bất kỳ hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nào
cũng được coi là hoạt động thương mại.
Việc mở rộng phạm vi quyết định của Trọng tài nước ngoài được công nhận
và cho thi hành ở Việt Nam đến cả quyết định của Trọng tài lao động cũng cần
được cân nhắc một cách thận trọng. Theo các bảo lưu mà Nhà nước đưa ra khi gia
nhập Công ước New York (Điều 2 Quyết định 453/QĐ-CTN) thì Việt Nam không
có nghĩa vụ công nhận và cho thi hành các phán quyết của Trọng tài lao động nước
ngoài theo Công ước New York. Hơn nữa, cho đến nay, vẫn không có sự thống
nhất giữa các quốc gia thành viên xung quanh vấn đề quan hệ thuê mướn lao động
25