TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
QUAN HỆ MỸ – NHẬT BẢN
SAU CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NAY
HOÀNG THỊ NHƯ Ý
I. Những biến đổi tình hình quốc tế 18
1. Chấm dứt sự đối đầu giữa hai siêu cường 18
2. Vấn đề nhận thức quan hệ Mỹ – Nhật Bản 19
II. Quan hệ hợp tác an ninh - quân sự giữa Mỹ và Nhật Bản thời kì sau chiến tranh
lạnh
20
1. Hợp tác trong lónh vực quân sự 20
2. Quan hệ Mỹ – Nhật trong lónh vực an ninh 22
III. Quan hệ kinh tế Mỹ –Nhật Bản thới kỳ sau chiến tranh lạnh 27
1. Quan hệ Mỹ – Nhật trên lónh vực thương mại 28
2. Quan hệ trên lónh vực đầu tư 35
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 2
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT QUAN HỆ MỸ – NHẬT
THỢI KÌ TRƯỚC 1945
I. Quan hệ Mỹ – Nhật thế kỉ XIX đến những thập niên đầu XX
Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, làn sóng bành trướng mạnh mẽ của chủ
nghóa tư bản phương Tây tràn vào châu Á. Nhật Bản là nước duy nhất ở Đông Á không
những bảo vệ được nền độc lập của mình mà còn tiếp tục phát triển vươn lên “hòa
nhập” vào quỹ đạo chung của quá trình chuyển biến lên chủ nghóa tư bản độc quyền.
Trong khoảng trên dưới 200 năm trước đó trong quan hệ đối ngoại, Nhật Bản
cũng giống như những nước Đông Á khác, thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng. Đầu
thế kỷ XIX, tàu thuyền của Mỹ đã nhiều lần tới Nhật Bản nhưng đều bò từ chối buôn
bán giao thương. Sau nhiều lần dùng các biện pháp ngoại giao thông thường, Mỹ thấy
rằng phải dùng áp lực quân sự mạnh mới có thể đạt được mục đích.
- Mỹ được hưởng quyền ưu đãi tối huệ quốc
Như vậy, Nhật đã rơi vào vò thế phải chấp nhận những quan hệ bất bình đẳng
với các nùc tư bản phương Tây. Những sự bất bình đẳng này thể hiện tập trung nhất
trong vấn đề trò ngoại pháp quyền của các công dân nước ngoài và trong vấn đề quan
thuế.
Năm 1868, Nhật Bản tiến hành cuộc cách mạng, kết thúc chế độ Mạc phủ kéo
dài hơn 7 thế kỉ, tạo ra bước ngoặt quan trọng tiến mạnh trên con đường Duy Tân dưới
thời Minh Trò (1868 – 1912). Thành công trong công cuộc cách tân đất nước, Nhật Bản
đã bảo vệ thắng lợi nền độc lập của mình trước sự bành trướng xâm lược của chủ
nghóa tư bản phương Tây. Thế nhưng các hiệp ước bất bình đẳng mà Nhật đã kí với
Mỹ và các nước tư bản phương Tây trước đó vẫn tồn tại; do đó, Nhật Bản phải trải qua
một thời gian dài đấu tranh để thủ tiêu tính chất bất bình đẳng của các hiệp ước đó.
Đầu thế kỷ XX, Nhật đã bước lên hàng ngũ các cường quốc và được các cường
quốc thừa nhận đòa vò đó của Nhật. Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905),
tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven (1858-1919) đã đứng ra làm vai trò trung gian hòa giải cho
cuộc đàn phán hòa bình Nga – Nhật. Thực ra, Mỹ đã giúp đỡ rất nhiều cho Nhật trong
cuộc chiến tranh này để thông qua Nhật đẩy Nga ra khỏi khu vực ảnh hưởng tại Đông
Bắc Trung Quốc và Triều Tiên.
Ngày 29-7-1905, Nhật – Mỹ đã thỏa thuận là Nhật sẽ ủng hộ Mỹ trong vấn đề
Mỹ giành quyền được “bảo hộ” Phi-líp-pin từ tay Tây Ban Nha, còn Mỹ sẽ ủng hộ
Nhật trong vấn đề Triều Tiên.
Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh Nga – Nhật đã đưa lại cho Nhật
một vò thế hoàn toàn mới trên trường quốc tế và rất nhiều quyền lợi. Nhật chẳng
những vươn lên ngang hàng mà còn đánh bại một cường quốc Châu Âu là Nga, và lần
đầu tiên buộc một cường quốc nổi tiếng châu Âu phải kí một hiệp ước bất bình đẳng
với mình.
Từ đó, Nhật Bản nghiễm nhiên gia nhập vào hàng ngũ các cường quốc trong
cuộc đấu tranh phân chia lại thò trường thế giới và đòa vò của Nhật Bản đặt biệt cao
trên trường quốc tế, trở thành người “anh cả da vàng” đã “rửa nhục” cho người châu Á,
vốn từ lâu bò châu Âu đè nén áp bức.
chấp xu thế của lòch sử và sự tiến bộ của xã hội.
Mặc dù cuối cùng âm mưu giúp Viên Thế Khải thất bại, nhưng Nhật nhờ đó đã
giành được nhiều lợi ích ở Trung Quốc. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ
(1914-1918), Nhật đã thi hành chính sách lợi dụng thời cơ các nước châu u tư bản
đang vướng bận vào chiến tranh để tăng cường bành trướng theo kiểu “đục nước béo
cò”, mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Trung Quốc, gây sức ép buộc Trung Quốc phải phụ
thuộc vào mình. Điều đó đã được một nhân vật trong chính phủ Nhật Bản I-nu-tê Ka-
ô-ren viết trong một bức thư gửi cho thủ tướng Nhật Bản rằng: “Họa loạn lớn ở châu
u lúc này là dòp trời cho để phát triển quốc vận của Nhật Bản trong thời kì “Tai Sô
dân chủ”.
Ngày 18-1-1915, chính phủ Nhật đã gửi cho Viên Thế Khải “21 điều yêu sách”
đòi Trung Quốc phải thực hiện với âm mưu là tiến dần đến biến Trung Quốc thành
thuộc đòa riêng của Nhật.
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 5
Về phía Mỹ, chính quyền Mỹ cũng ra sức tuyên bố rằng, căn cứ vào quyền “ưu
đãi tối huệ quốc” mà Trung Quốc đã kí kết với Mỹ. Mỹ cũng có quyền được hưởng tất
cả các quyền lợi như Nhật Bản.
III. Quan hệ Mỹ – Nhật thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
(1919 –1939)
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất chấm dứt, quan hệ Mỹ – Nhật tiếp tục
diễn ra căng thẳng về vấn đề Trung Quốc và Viễn Đông trong hai hội nghò Véc –xây
(1919) và hội nghò Oa-sinh-tơn (1921-1922).
Yêu sách của Nhật đưa ra trong hội nghò Véc xây đòi Trung Quốc trao toàn bộ
bán đảo Sơn Đông cho Nhật. Điều này chẳng những vi phạm chủ quyền, lãnh thổ của
Trung Quốc mà còn đụng chạm tới quyền lợi của Anh, Pháp, Mỹ tại đây. Vì vậy, trong
thời gian đầu, Mỹ đã kiên quyết chống lại đòi hỏi này của Nhật Bản, dùng chính sách
“mở cửa” để đạt quyền ngang hàng với Nhật ở Trung Quốc. Phía Nhật đã cương quyết
Hành động theo hướng này, trước hết Nhật công khai đòi xem xét lại vấn đề
về lực lượng hải quân do Hiệp ước Washinton quy đònh (6-2-1922). Quan điểm chủ đạo
của Nhật đòi được quyền bình đẳng với Anh, Mỹ về lực lượng hải quân, thậm chí còn
mưu toan đạt được ưu thế về vấn đề này ở Viễn Đông. Tuy nhiên với khả năng thực tế
của Nhật chưa cho phép xây dựng một lực lượng hải quân lớn như Anh, Mỹ nên Nhật
chỉ đưa ra yêu sách có một hạm đội bằng 70% của Mỹ, tức là vượt 10% so với mức
quy đònh trước đây.
Ngày 22-4-1930, hội nghò London đã đi đến kí kết hiệp đònh về hạn chế lực
lượng hải quân giữa tam cường Anh, Mỹ , Nhật như sau:
Tên nước
Trọng tải (ngàn tấn)
Tuần dương hạm Khu trực hạm Tầu ngầm
ANH 339,0 150,0 52,7
MĨ 323,0 150,0 52,7
NHẬT 209,0 105,0 52,7
Mặc dù Anh –Mỹ đã nhượng bộ ,nhưng các tướng lónh và giới quân nhân Nhật
vẫn không thoả mãn với kết quả đó. Vì vậy trong các phiên họp trù bò cho hội nghò
mới về hạn chế lực lượng hải quân ở London tháng 10-1934, Nhật kiên quyết đòi hỏi
phải được ngang bằng với Anh –Mỹ về hải quân và thủ tiêu hiệp ước Washinton về
vấn đề này.
Mỹ bác bỏ những yêu sách trên của Nhật Bản, Nhật đã đưa ra tuyên bố rằng kể
từ ngày 31-12-1936, Nhật sẽ không bò ràng buộc bởi các thỏa thuận Washinton nữa.
Việc chạy đua vũ tranh chuẩn bò cho một cuộc chiến tranh lớn ở Nhật ngày càng mạnh
hơn.
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 nổ ra trong lòng thế giới tư bản dẫn
đến quá trình phát xít hóa ở Nhật Bản gắn liền với cuộc chiến tranh xâm lược bành
trướng ra bên ngoài và mục tiêu trước hết là Trung Quốc. Nhật muốn độc chiếm thò
với Mỹ. Mỹ gây áp lực lại bằng cách cấm xuất khẩu dầu mỏ từ Mỹ sang Nhật, giáng
một đòn rất mạnh vào Nhật Bản.
Quyết đònh trên đã gây ra một cuộc khủng hoảng mới trong quan hệ Nhật –
Mỹ. Cuối cùng, đã đi đến chấm dứt đàm phán ngoại giao giữa Nhật và Mỹ.
Kết cục, ngày 7-12-1941, không quân và hải quân Nhật Bản dưới sự chỉ huy
của đô đốc Ya-ma-mô-tô đã mở cuộc tấn công dữ dội vào Trân Châu cảng, là căn cứ
chủ yếu của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trên quần đảo Haoai, chính thức mở
đầu cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.
Ngày 8-12-1941, Nhật chính thức tuyên chiến với Mỹ. Quốc hội Mỹ ra quyết
đònh tuyên chiến với Nhật.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh không
điều kiện. Quan hệ Mỹ Nhật từ đó bước sang trang mới.
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 8
Tóm lại, quan hệ Mỹ – Nhật thời kì trước chiến tranh thế giới thứ hai từ chỗ
bất bình đẳng theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” chuyển sang quan hệ đối đầu căng thẳng
từ khi Nhật mạnh lên, đứng ngang hàng với các cường quốc lớn trên thế giới.
Cả Mỹ và Nhật đều có tham vọng lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương,
không ai chòu nhường ai vì lợi ích của mỗi bên ở khu vực này. Việc phát xít Nhật thất
bại trong chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo ra một bước ngoặt mới trong quan hệ Nhật
– Mỹ.
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 9
CHƯƠNG II
QUAN HỆ MỸ – NHẬT BẢN
THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH (1945-1990)
tuyên bố thành lập Ủy ban tư vấn Viễn Đông bao gồm đại biểu 9 nước tham gia kí kết
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 10
văn kiện về sự đầu hàng của Nhật Bản ngày 2-9-1945 (Mỹ, Liên Xô, Anh, Trung
Quốc, Pháp, Niu Di-lân, Canada, Hà Lan và Otxtrâylia). Ủy ban này đã được tuyên bố
thành lập ở Oasinhtơn vào tháng 10-1945, theo sự xác đònh của Mỹ chỉ là có chức năng
tư vấn đối với bộ chỉ huy chiếm đóng ở Mỹ. Liên Xô đã phản đối bằng việc cự tuyệt
tham gia vào hoạt động của ủy ban này.
Về phía Mỹ, sau 1945, Mỹ âm mưu duy trì một nước Nhật yếu ớt cả về kinh tế,
chính trò và quân sự, để Nhật không trở thành đối thủ cạnh tranh nguy hiểm của Mỹ ở
Châu Á và Thái Bình Dương, như đã xảy ra trước và trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Chủ trương này của Mỹ được thể hiện qua một loạt các chỉ thò của tướng Mác c – tơ,
như “Về việc cấm các tổ chức độc quyền”, “về thủ tiêu các trung tâm kinh tế cực
hữu”…
Theo tinh thần này, cho đến năm 1947 có 47 tổ chức lũng đoạn – “Đai-bát-su”
bò giải tán. Hai tập đoàn lớn nhất là Mít-sui và Mít-su-bi-xi đã bò phân tán thành 240
công ti riêng biệt. Theo sắc lệnh của cơ quan chiếm đóng ngày 26-2-1946 về việc
thanh lọc ra khỏi các cơ quan xã hội và các tổ chức chính trò các phần tử trước đây có
liên quan tới các hoạt động phát xít và quân phiệt, hơn 200.000 người bò loại khỏi các
hoạt động chính trò và xã hội. Các tội phạm chiến tranh của Nhật Bản bò xét xử tại tòa
án quân sự quốc tế ở Tokyo tháng 1-1946.
Tóm lại, Nhật bại trận trong thế chiến lần hai, đã mở ra một thời kỳ mới trong
quan hệ Mỹ – Nhật. Kết thúc chiến tranh cũng có ý nghóa là mở đầu thời kỳ chiếm
đóng của Mỹ ở Nhật Bản. Điều này phản ánh đúng thực trạng của kẻ bại trận và thắng
trận; Nhật bò ràng buộc bởi nhiều điều khoản quốc tế và bò tiêu điều kiệt quệ kinh tế
buộc phải phụ thuộc vào Mỹ và chấp nhận sự đảm bảo an ninh của Mỹ để khôi phục
và phát triển.
Còn về phía Mỹ, chính sách trong quan hệ với Nhật, bộc lộ âm mưu bá chủ
toàn cầu trong chiến tranh lạnh của Mỹ, trong đó Nhật, Châu Á, Thái Bình Dương là
Nhật và có mưu toan củng cố một cách không hợp pháp sự có mặt quân đội nước ngoài
ở Nhật.
Kết quả, ngày 8-9-1951, hòa ước San Franxitxco được kí kết gồm 27 khoản,
được trình bày trong 7 phần. Trong phần C điều 2 viết: Nhật Bản từ chối tất cả mọi
quyền lợi và tham vọng của mình đối với các đảo Cu-rin và với các phần lãnh thổ
thuộc đảo Xa-kha-lin cũng như các đảo khác thuộc về Xa-kha-lin, và chủ quyền đối
với chúng. Nhật đã có được theo hiệp ước Pôt-xmao ngày 5-9-1950. Nhưng trong hòa
ước lại không chỉ ra rằng, phần phía nam Xa-kha-lin và các đảo Ku-rin được trả về
cho Liên Xô, như điều đó đã được quy đònh bởi các hiệp ước trước đây của các cường
quốc đồng minh.
Theo hòa ước này, tình trạng chiến tranh của Nhật với Liên Xô, Trung Hoa và
một số nước khác vẫn chưa chấm dứt trên tư cách pháp lí; vì thế trên phương diện
pháp quyền, hòa bình vẫn chưa hoàn toàn được khôi phục; các quan hệ giữa Nhật với
nhiều nước Châu Á khác chưa được giải quyết; các vấn đề lãnh thổ cũng không được
xác đònh được rõ ràng. Hòa ước còn phê chuẩn việc ở lại vô thời hạn của quân đội Mỹ
ở Nhật Bản.
Với việc kí hòa ước San Franxitxco Mỹ đã đạt được mục đích riêng của mình,
nó mở đường cho Mỹ và Nhật đi đến kí kết một loạt những hiệp ước song phương
khác, cụ thể:
- Ngay trong ngày 8-9-1951, chỉ năm giờ sau khi kí hòa ước trên Mỹ đã kí với
Nhật Bản một hiệp ước rất quan trọng khác đó là Hiệp ước an ninh Mỹ –
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 12
Nhật. Hiệp ước này trao cho Mỹ quyền duy trì quân đội của mình ở Nhật
Bản với sứ mệnh “đảm bảo hòa bình và an ninh ở Biển Đông và an ninh
của Nhật Bản”; Mỹ còn nhận được quyền thiết lập các căn cứ của Mỹ ở
Nhật, tiến hành các hoạt động quân sự ở biển Đông và Đông Nam Á; Mỹ
còn được sử dụng các đảo của Nhật như là các bàn đạp quân sự cơ sở.
- Ngày 28-2-1952, Mỹ lại kí với Nhật hiệp ước hành chính thực ra là củng cố
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 13
Ở Tây u Mỹ xây dựng khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Ở Thái Bình Dương, Mỹ coi việc xây dựng Hiệp ước phòng thủ với Nhật Bản
lâu dài là hết sức cần thiết ,thậm chí coi Nhật bản như một NATO phương
Đông .
Mỹvới Nhật đã thỏa thuận kí hiệp ước phòng thủ chung 1960 tại Oasinhton.
Hiệp ước nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn của các căn cứ quân
sự Mỹ ở Nhật. Hơn nữa hàng năm, Mỹ muốn kiểm soát trực tiếp và kiềm chế
khả năng quân sự của Nhật Bản
Việc kí hiệp ước này cả hai nước đều xuất phát từ những mục đích khác nhau:
Về phía Nhật
- Thứ nhất, sử dụng chiếc ô an ninh của Mỹ ,Nhật coi nó như một sự đảm bảo
an ninh từ xa nếu bò tấn công . Sự lo sợ của Nhật bản trong thời kỳ này là khả năng
quốc phòng của Liên Xô ngày càng được tăng cường với tiềm năng về vũ khí hạt nhân
của nước này buộc Nhật phải dựa vào Mỹ trong lónh vực phòng thủ.
- Thứ hai, Ký hiệp ước này với Mỹ , Nhật sẽ có thêm khoản chi phí quốc
phòng lớn, giúp Nhật chỉ tập trung vào một mối quan tâm chủ yếu là phát
triển kinh tế.
- Mặt khác , Thời kỳ đầu sau chiến tranh Nhật chưa đủ mạnh để mặc cả với
Mỹ, Nhật ở vào vò trí phụ thuộc chấp nhận
Thực ra, trong quan hệ an ninh quân sự Mỹ ,Nhật thập niên 50-60 , mang tính
phòng thủ nhiều hơn là vấn đề liên kết chiến lược quân sự của quân đội hai nước.
Trên thực tế kể từ 1964 trở đi, viện trợ quân sự của Mỹ cho Nhật Bản đã chấm dứt,
Mỹ cho rằng Nhật cần phải tăng thêm chi tiêu quân sự của mình và phải có những
đóng góp khác vào việc “bảo vệ thế giới tự do”. Mỹ nhìn thấy ở Liên minh Tôkiô –
Sêun khả năng đặt lên vai Nhật một phần gánh năng về viện trợ cho Cộng hòa Triều
Tiên.
Bước sang những năm 70, đặc biệt là sau khi Mỹ sa lầy trong chiến tranh Việt
và kéo theo sự phối hợp tác chiến giữa lực lượng bộ binh của Nhật với lực lượng thủy
đánh bộ Mỹ.
Nói tóm lại, hợp tác về an ninh quân sự Mỹ – Nhật trong thời gian này đã tìm
được tiếng nói chung, hàn gắn được những lỗ hổng vốn tồn tại trong nhiều năm giữa
những điều khoản của hiệp ước và những hoạt động cụ thể trong sự phối hợp của lực
lượng quân sự hai bên.
Vào những năm cuối của thập niên 80, Nhật Bản đã cam kết với Mỹ tăng
cường ngân sách quốc phòng, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc phòng
thủ xa trên dưới 1000 dặm kể từ bờ biển của Nhật.
Chính phủ Nhật Bản còn tài trợ cho chương trình nghiên cứu quốc phòng trung
hạn 5 năm với tổng số tiền 18,4 ngàn tỉ yên, phối hợp với Mỹ sản xuất các loại vũ khí,
và thỏa thuận sẽ tham gia vào chương trình chiến tranh giữa các vì sao của My
õ.
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 15
Biểu đồ so sánh về chi phí quốc phòng Mỹ-Nhật từ 1986 đến 1991 (tỷ đô la)
24.77
265.48
26.05
273.97
27.41
không chậm trể việc thực hiện ổn đònh nền kinh tế Nhật Bản theo kế hoạch mà Mỹ
vạch ra. Trong bức thư ngày 19-12-1948, gửi cho chính phủ Nhật, tướng Mác ctơ
công khai trình bày những điều kiện trong việc khôi phục nền kinh tế của Nhật Bản:
bằng con đường can thiệp có ý nghóa tích cực của một cường quốc bên ngoài có thể
nhanh chóng hơn bao giờ hết giải quyết được nhiều trở ngại liên quan tới những xung
đột chính trò nặng nề, hành động của Mỹ có liên quan tới vấn đề viện trợ và cấp vốn
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 16
cho việc khôi phục, những công việc trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự “tiến bộ” mà
nhân dân Nhật Bản đặt được trên con đường thực hiện những mục đích đã nêu ra điều
đó yêu cầu một sự đổi mới tư duy và đổi mới hành động của người Nhật, yêu cầu tăng
cường chế độ tiết kiệm và từ bỏ một số những đặc quyền và sự tự do vốn thuộc vế một
xã hội tự do.
Điều đó chứng tỏ lúc ban đầu chính sách của Mỹ là không hề quan tâm đến sự
khôi phục kinh tế của Nhật, họ cho rằng công việc đó thuộc về người Nhật. Thậm chí
Mỹ còn thi một chính sách nghiệt ngã như đòi hỏi nhiều về bồi thường chiến tranh
hoặc chủ trương thủ tiêu các tổ chức độc quyền lớn ví dụ giải thể các tập đoàn
Zaibatsu, thực hiện đạo luật cải cách ruộng đất nhằm nâng cao sản xuất nông nghiệp,
khắc phục nạn khủng hoảng lương thực thực phẩm ở Nhật lúc đó, thế nhưng không đặt
ra nhiệm vụ thủ tiêu những tàn tích phong kiến ở nông thôn, không cải thiện đời sống
của phần lớn nông dân Nhật Bản. Liên Xô đã cực lực lên án đạo luật này và đưa ra
một đạo luật cải cách ruộng đất khác. Dự án của Liên Xô chủ trương tòch thu toàn bộ
các ruộng đất cho thuê và chuyển vào tay những người đang canh tác, thủ tiêu những
tàn tích phong kiến, nâng cao đời sống nhân dân. Dự luật cải cách của Liên Xô không
được thông qua do sự chống đối của Mỹ nhưng đã được công bố rộng rãi trên báo chí
Nhật Bản, được dư luận nhân dân Nhật ủng hộ và đã có ảnh hưởng lớn đến vấn đề cải
cách ruộng đất ở Nhật Bản. Kết quả là chính phủ trưng thu ruộng đất của đòa chủ vắng
mặt và nông dân có thể mua lại ruộng và trở thành chủ sở hữu.
Từ mùa hè 1947, với tình hình chiến tranh lạnh ngày càng gay gắt giữa hai siêu
chỉnh chiến lược của mình trong việc chuyển dòch cơ cấu kinh tế. Do đó, tuy tốc độ
phát triển giảm (1974-1991, kinh tế tăng trưởng bình quân 4%) nhưng Nhật Bản vẫn
đạt là nước đi đầu trong những ngành có hàm lượng cao về công nghệ và tư bản. Cụ
thể năm 1977, xe hơi của Nhật đã thay thế thép trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực
và đến 1980, Nhật trở thành nước sản xuất nhiều xe hơi nhất thế giới cạnh tranh quyết
liệt với ngành sản xuất ô tô của Mỹ. ODA của Nhật cũng tăng liên tục và trở thành
nước dẫn đầu thế giới vào năm 1991.
Trong bối cảnh xuất siêu tăng nhanh, dẫn đến mâu thuẫn mậu dòch Nhật Mỹ
lên đỉnh cao. Nhật đã điều chỉnh đồng yên (tăng giá vào tháng 9-1985). Chỉ trong hai
năm đồng Yên tăng từ 244 yên đến 160 yên /USD. Để đối phó với tình hình này từ
tháng 1-1986. Nhật liên tiếp giảm lãi suất và đưa ra chính sách kích thích tăng trưởng
bằng các kế hoạch chi tiêu công cộng. Kết quả thực hiện các chính sách kinh tế này
thúc đẩy kinh tế Nhật tăng trưởng mạnh trong thời gian từ 11-1986 đến 3-1991, dẫn
đến giá chứng khoán và giá đất tăng mạnh, thúc đẩy quá trình di chuyển nhiều cơ sở
sản xuất công nghiệp từ Nhật sang các nước Châu Á.
Tóm lại, quan hệ Nhật – Mỹ thời kì chiến tranh lạnh còn mang tính lệ thuộc
một chiều. Trong đó Nhật không có một chính sách đối ngoại độc lập mà là phụ thuộc
vào Mỹ. Nhờ chiếc ô đảm bảo an ninh của Mỹ, và trong thời kì dài, Tôkyô đã tập
trung vào phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ.
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 18
CHƯƠNG III
QUAN HỆ MỸ – NHẬT BẢN
SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NAY
I. Những biến đổi tình hình quốc tế
Cuối những năm 80 đầu thập niên 90, tình hình quốc tế diễn biến khá phức tạp
ảnh hưởng sâu sắc và nhiều mặt tới sinh hoạt quốc tế tới mọi quốc gia. Tình hình đó
trọng đến đâu cũng không được làm tổn hại đến quan hệ chiến lược thuộc
ưu tiên cao.
- Khi chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự mất đi của mối ưu tiên cao thì vấn
đề ưu tiên thấp trở thành nổi bật lên và biến thành ưu tiên cao trong quan
hệ hai nước
2. Vấn đề nhận thức quan hệ Mỹ – Nhật Bản
Trong thời kỳ chiến lạnh dư luận trong công chúng hai nước tương đối đồng
nhất về sự cần thiết về mối quan hệ về sự cần thiết phối hợp hành động quốc tế.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, diễn ra sự bất đồng trong nhận thức về quan
hệ Mỹ – Nhật Bản như sau:
- Vấn đề tham gia chiến tranh vùng vònh: qua cuộc chiến tranh này Mỹ muốn
xác lập lại vai trò lãnh đạo trong một trật tự thế giới mới. Mỹ xem đó như
là một thử nghiệm để tiếp tục duy trì sự lãnh đạo của mình và làm một cuộc
thử sức của liên quân đồng minh Mỹ. Mỹ đã tập hợp sức mạnh quốc tế để
thực hiện một sự can thiệp trực tiếp khi cần. Đồng thời qua đó để Mỹ xác
đònh lại vai trò của các đồng minh trong một trật tự thế giới mới
Nhật Bản đã không tham gia vào liên quân vùng Vònh như yêu cầu của
Mỹ. Nhật Bản đã từ chối một cách tế nhò là trong chương 9 Hiến pháp của
họ cấm đưa quân đội ra nước ngoài. Thế nhưng Mỹ gây sức ép buộc Nhật
phải đóng góp về tài chính thay thế cho đóng góp về người. Như vậy, đây là
lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật tham dự hạn chế
vào cuộc xung đột quân sự nhưng không theo yêu cầu của Mỹ. Điều đó làm
nảy sinh căng thẳng trong mối quan hệ giữa hai bên. Việc Mỹ gây sức ép
buộc Nhật Bản phải đóng góp trong khi công luận ở Nhật Bản cho rằng
cuộc chiến tranh ở vùng Vònh là một cuộc “chiến tranh xâm lược”, vì thế
người Nhật ác cảm hơn đối với Mỹ. Họ cho rằng Mỹ không tôn trọng Nhật
Bản do đó trong quan hệ với Mỹ cần phải có giới hạn và độc lập hơn so với
trước đây.
- Mặt khác, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc về kinh tế cho nên công
sự đảm bảo cao về thò trường tiêu thụ của cục phòng vệ Nhật Bản; nhờ sự phối hợp
hành động có hiệu quả của các công ti kinh doanh vũ khí của Mỹ thông qua chuyển
giao kỹ thuật quân sự và nhờ sự tăng trưởng ổn đònh của nền kinh tế Nhật Bản. Từ
1993 trở đi, suy thoái kinh tế diễn ra làm cho khu vực sản xuất quân sự của Nhật gặp
khó khăn dẫn đến tốc độ triển khai các kó thuật quốc phòng từ phía Mỹ. Mỹ lo lắng
việc chuyển giao kó thuật quân sự sẽ làm sói mòn khả năng cạnh tranh của các công ti
sản xuất hàng quân sự của Mỹ và sẽ tác động xấu đến lợi ích an ninh của Mỹ.
Hai bên cùng hợp tác sản xuất loại máy bay chiến đấu FSX. Mỹ chuyển giao
cho các công ty quân sự Nhật Bản một công nghệ mới để từ đó sản xuất ra các loại
máy bay quân sự hiện đại; tạo cơ hội cho Nhật Bản chế tạo các thiết bò hành không vũ
trụ trong tương lai. Điếu đó làm tăng lên khả năng vừa hợp tác vừa cạnh tranh lẫn
nhau giữa các ngành công nghiệp quân sự giữa hai bên.
Một đặc trưng của quá trình hợp tác quân sự Mỹ – Nhật là sự hợp tác giữa các
công ty thay thế cho nhà nước, hai bên cùng có lợi trở thành nguyên tắc số một. Ví dụ,
Nhật tiếp thu được những công nghệ mới trong lónh vực quốc phòng từ phía Mỹ thì đổi
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 21
lại Mỹ sẽ nhận được sự giúp đỡ đối với quân đội Mỹ ở trên nước Nhật và Mỹ được
xây dựng một căn cứ không quân mới ở Nhật.
Ngoài ra, hai nước còn cùng triển khai nhiều chương trình khác để hiện đại hóa
hệ thống vũ khí. Ví dụ, phối hợp sản xuất máy bay tấn công mới AWACS , cùng triển
khai nghiên cứu phát triển kó thuật tên lửa có điều khiển.
Tháng 4-1996, Nhật, Mỹ đã thỏa thuận về vấn đề căn cứ quân sự của Mỹ ở
Okinawa. Hai bên dàn xếp về việc trao trả 11 căn cứ quân sự của Mỹ ở đây. Theo
thỏa thuận, các khu vực căn cứ gồm sân bay, quân cảng , trại binh… sẽ được di chuyển
khỏi đảo Okinawa trao trả đất cho Nhật. Nhật chòu chi phí tài chính cho việc di chuyển
khoảng 10 tỷ đôla.
Hai bên thỏa thuận hợp tác giúp đỡ giữa quân đội Mỹ Nhật như cung cấp hậu
cần cho các cuộc tập trận chung hoặc sự tham gia của hai nước vào hoạt động giữ gìn
đất Nhật bằng 50% tổng chi phí của chính phủ Mỹ. Như thế hàng năm Nhật phải đóng
4 tỷ USA vào kinh phí của lính Mỹ trên đất Nhật. Trong cuộc khủng hoảng vùng vònh
lần 2, Nhật đã chia rẽ chi phí chiền tranh vùng vònh khoảng 13 tỉ đôla, điều đó chứng
tỏ vai trò quân sự của Nhật đã vượt khỏi ảnh hưởng của khu vực Thái Bình Dương và
lan tỏa mang tính toàn cầu.
Tóm lại, hợp tác quân sự giữa Mỹ và Nhật Bản là một trong những lónh vực
hợp tác quan trọng nhất của Liên minh Mỹ – Nhật.
Nó có tác động ảnh hưởng đến các mặt hợp tác khác. Quá trình hợp tác trên
lónh vực này của hai nước phát triển đi lên từ chỗ phụ thuộc một chiều đến quan hệ hai
chiều cùng có lợi, cùng chia sẽ trách nhiệm.
Xu hướng này tiếp tục chi phối quan hệ Mỹ – Nhật trong hiện tại và tương lai.
Quy mô của sự hợp tác chuyển sang chú trọng về chất lượng. Sự có mặt của quân đội
Hoa Kỳ trên đất Nhật sẽ giảm xuống. Hai bên cùng phôi hợp hoạt động để xây dựng
một chiến lược an ninh tập thể mang tính khu vực.
2. Quan hệ Mỹ – Nhật trong lónh vực an ninh
Quan hệ an ninh Nhật –Mỹ đựơc hình thành khởi đầu bằng việc kí kết hiệp ước
an ninh năm 1951
Sau chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ vẫn cam kết tiếp tục duy trì các lực lượng
của mình ở khu vực Đông Á. Lợi ích an ninh của Mỹ ở khu vực Đông A ùlà nhằm đạt
được thế cân bằng tương đối về lực lượng giữa các trung tâm quyền lực ở khu vực theo
nghóa không có cường quốc nào chiếm đòa vò thống trò ở đây ngoài Mỹ. Tổng thống
Clin ton khi xác đònh quan điểm của mình về một “cộng đồng Thái Bình Dương “ mới
đã tuyên bố rằng : các lực lượng triển khai tuyến trước của Mỹ ở châu Á là một trong
những trụ cột chủ yếu . Trong chiến lược an ninh quốc gia năm 1996, Tổng thống
Clinton nhấn mạnh ba mục tiêu trung tâm là:
- Duy trì an ninh của Mỹ với các lưc lượng quân sự luôn luôn sẵn sàng chiến
đấu
- Tăng cường khôi phục tính sống động của nền kinh tế Mỹ
- Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài
trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế như ASEAN + 3. APEC, WTO… Nhật đẩy mạnh
các hoạt độn gìn giữ hòa bình do Liên hợp quốc tổ chức.
Ví dụ, Nhật cử 700 quân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
ở Campuchia, chi 13 tỉ USD cho liên quân chống Irac, đóng góp nguồn ngân sách cho
Liên hợp quốc chiếm 21% trong tổng ngân sách hàng năm của tổ chức này. Những
hoạt động trên của Nhật Bản thời gian qua chứng tỏ Nhật đang từng bước khôi phục lại
tính tự chủ và tinh thần trách nhiệm quốc tế vốn lâu nay đã bò mờ nhạt do lệ thuộc vào
Mỹ.
Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn tiếp tục coi Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ là hòn đá
tảng trong chính sách đối ngoại của mình sau chiến tranh lạnh, tiếp tục dựa vào Mỹ
một mặt do những ràng buộc hòa bình của Hiếp pháp 1947 quy đònh chưa sửa đổi, mặt
khác mặc dù hiện thời Nhật không có kẻ thù trực đe dọa trực tiếp như trong thời kì
chiến tranh lạnh, nhưng trong thực tế theo đáng giá của Nhật, ít ra có 3 vấn đề có khả
năng đe dọa an ninh Nhật Bản đó là:
- Vấn đề bán đảo Triều Tiên
- Tiềm năng quân sự, đặc biệt là kho vũ khí hạt nhân của Nga
- Sức mạnh đang nổi lên của Trung Quốc
Nhật bản khẳng đònh sự hiện diện của quân đội Mỹ tại châu Á là “điều cần
thiết để bảo đảm hoà bình và ổn đònh”. Thời báo New York đã bình luận : Một mình
_____________________________________________________________
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Quan hệ Mỹ – Nhật Bản sau chiến tranh thế giới đến nay - 24
Nhật Bản không thể bắt tay Trung Quốc , một mình Nhật Bản không thể bắt tay Triều
Tiên thống nhất, một mình Nhật Bản không thể bảo vệ đường biển của chính nó – Vì
tất cả những lý do này , chúng ta cần liên minh với Mỹ.
Sức mạnh phòng vệ của Nhật Bản nếu không liên minh với Mỹ sẽ là “gót chân
Asin” của Nhật Bản .Vì thế cả hai phía phải tiến đến một liên minh Nhật –Mỹ ở mức
cao hơn cả thời kỳ chiến tranh lạnh , điều đó đã buộc chặt Nhật Bản vào sự phụ thuộc
chiến lược của Mỹ mà Nhật Bản không thể làm gì khác hơn trước một thực tế là
Trung Quốc đang nỗi lên như một cường quốc thật sự cả về kinh tế lẫn quốc phòng.
Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử