Quản lý rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
Trần Thị Thúy Phƣợng

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH
HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS TRẦN HOÀNG NGÂN TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục những từ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Lời mở đầu
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (DNVVN)
1.1 Những rủi ro trong hoạt động ngân hàng 01
1.2 Rủi ro tín dụng trong họat động ngân hàng 02
1.2.1 Khái niệm 02
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 02
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng 03
1.2.4 Nguyên nhân phát sinh của rủi ro tín dụng 04
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng đối với DNVVN 07
1.3.1 Tổng quan về DNVVN……… 07
1.3.2 Công tác quản lý rủi ro tín dụng đối với DNVVN 14
Kết luận chương 1 28

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
NH TMCP Á CHÂU
2.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thống Ngân hàng TMCP Á Châu 29

3.3.7 Tiêu chuẩn hóa cán bộ làm công tác tín dụng 68
3.3.8 Tăng cường các mối quan hệ với các hiệp hội, ban ngành 70
3.4 Kiến nghị đối với các DNVVN 70
3.5 Kiến nghị đối với NHNN 71
3.6 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước 73
Kết luận chương 3 74
Kết luận chung 75
Tài liệu tham khảo

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Anh
ACB

Asia Commercial Bank

Ngân hàng thương mại Á Châu
ASEAN

Association of Southeast
Asia NationHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CAR

Solution

Ngân hàng lõi
WTO
World Trade Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

Tiếng Việt
BĐS Bất động sản
BTD Ban tín dụng
CBCNV Cán bộ công nhân viên

Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng Thương mại
NHTMCP
Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước
NHTW Ngân hàng Trung ương
NQH Nợ quán hạn
NVTD Nhân viên tín dụng
QHKH Xếp hạng tín nhiệm DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

41
Bảng 2.13: Dư nợ cho thuê tài chính hàng năm
42
Bảng 2.14: Tình hình tài trợ các DNVVN từ các chương trình hợp tác
44
Bảng 2.15: Tỷ lệ nợ xấu các năm gần đây
48
Biểu đồ 2.16: Tỷ lệ nợ xấu hàng năm
48
Bảng 2.17: Dư nợ cho vay DNVVN theo ngành nghề
49

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài :
Tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại (NHTM), chiếm
tỷ trọng lớn khoảng 70% hoạt động kinh doanh của NHTM. Theo đó rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tín dụng. Trong xu thế toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế, nguy cơ và mức độ rủi ro ngày càng tăng lên với những biểu
hiện hết sức đa dạng và phức tạp. Do đó để đảm bảo an toàn tài chính, nâng cao năng lực
cạnh tranh, đòi hỏi NHTM phải có phương pháp quản lý tốt rủi ro tín dụng.

5. Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể:
Chƣơng 1: Tổng quan về rủi ro và công tác quản lý rủi ro tín dụng đối với
DNVVN trong hoạt động của NHTM.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng đối với
DNVVN của Ngân hàng TMCP Á Châu.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng đối với DNVVN của
Ngân hàng TMCP Á Châu.
1

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ (DNVVN)
1.1 Những rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Rủi ro là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập
của NH trong quá trình hoạt động. Bao gồm các loại:
Rủi ro lãi suất : là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất trên thị trường tài
chính, hoặc có biến động bởi các yếu tố liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về tài
sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng : là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,
biểu hiện trên thực tế, qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không

Rủi ro tín dụng phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với
khách hàng, là khả năng xảy ra tổn thất khi người đi vay không trả được nợ, hoặc trả
nợ không đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng.
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch
(Concentration risk):
Rủi ro danh mục (Portfolio risk) là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được
phân chia thành rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk).
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính
riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó
xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng
vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều
đối với một số khách hàng, một số ngành kinh tế, hoặc trong cùng một khu
vực địa lý hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
3

Rủi ro giao dịch (Transaction rish): Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay,
đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro
bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án cho vay vốn có hiệu quả để
ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro đảm bảo: Phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức
đảm bảo và mức cho vay trên giá lý tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỷ

kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản
lý ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp để ngăn ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng.
1.2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan
Do môi trường kinh tế không ổn định :
+ Sự biến động nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới : Nền kinh tế
VN lệ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu quan trọng như sắt thép, xăng dầu,
phân bón, cũng như các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, gia dày, nông
sản hay bị ảnh hưởng bởi chính sách bảo hộ của các nước nhập khẩu (hạn ngạch,
kiện bán phá giá, đánh thuế…).
+ Sự thay đổi liên tục về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, giá
nguyên liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp gây nên khó khăn tài chính ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay.
+ Tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế làm tăng áp lực cạnh tranh đối với DN và
NH. Do hạn chế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý nên nhiều DN và NH không
đủ sức tạo sản phẩm cạnh tranh, mất khách hàng tốt và dẫn đến thua lỗ, phá sản
5

Sự tấn công của hàng nhập lậu: Cuộc chiến đấu với hàng lậu đã kéo dài từ rất nhiều
năm nay mà kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan khắp nơi, làm điêu đứng các doanh
nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt
hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm . . . là những
ví dụ tiêu biểu cho tình hình nhập lậu ở nước ta.
+ Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý dẫn đến khủng hoảng thừa
về đầu tư một số ngành: Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các
nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những
ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành
này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước
ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi

doanh thua lỗ liên tục. Quy mô nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, cơ cấu tài chính
thiếu cân đối là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Công tác
quản lý tài chính kế toán còn tùy tiện, thiếu đồng bộ, mang tính đối phó, làm cho
thong tin ngân hàng có được không chính xác, chỉ mang tính chất hình thức. Do đó
khi nhân viên tín dụng lập các bảng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên
số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và sai lệch quá
nhiều dẫn đến rủi ro.
+ Khách hàng chưa đủ năng lực pháp lý, cố tình lừa đảo, chiếm đoạt vốn ngân hàng.
Từ phía NH cho vay :
+ Do một số ngân hàng tăng trưởng tín dụng mà thiếu sự kiểm soát chất lượng tín
dụng : bỏ bớt các điều kiện tín dụng, thực hiện cho vay không đúng quy định, thiếu
kiểm soát quản lý tín dụng trước, trong và sau khi giải ngân.
+ Ngân hàng chưa có đủ thông tin để phân tích và đánh giá khách hàng dẫn đến xác
định sai nhu cầu vay vốn, thời hạn trả nợ chưa phù hợp với vòng quay của vốn
hoặc dòng đời dự án dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.
+ Ngân hàng thiếu thông tin về khách hàng nên chưa dự đoán được rủi ro đối với
một khoản vay.
+ Do ngân hàng chưa giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và nguồn
vốn sử dụng: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh toán, từ đó sẽ dẫn
7

đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn nhiều, hoặc dự
trữ vốn quá nhiều gây ứ động vốn, lãng phí trong sử dụng vốn, hoặc dùng vốn
ngắn hạn cho vay trung hạn quá mức quy định.
+ Ngân hàng đánh giá chưa đúng về tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, bảo hiểm.
+ Do cán bộ tín dụng, cán bộ lãnh đạo yếu hoặc thiếu chuyên môn, chủ quan về
khách hàng cũ, khách hàng quen biết hoặc do thiếu đạo đức nghề nghiệp.
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng đối với DNVVN
1.3.1 Tổng quan về DNVVN
1.3.1.1 Khái niệm

trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công nghiệp và xây
dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương mại và
dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng

thời điểm này.
Theo số liệu mới nhất của Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì
tính đến ngày 31/12/2012, cả nước đã có 1.206.900 doanh nghiệp đăng ký hoạt động
theo luật doanh nghiệp. Riêng trong 8 tháng đầu năm 2013, cả nước đã có thêm
52.500 doanh nghiệp được thành lập với số vốn đăng ký ước đạt trên 45.540 tỷ đồng.
Đặc biệt, nếu như giai đoạn 2006 - 2009 DNVVN nước ta có xu hướng năm sau cao
hơn năm trước về số lượng DN mới thành lập, trong đó, đỉnh cao là năm 2009 với
gần 85.000 DN thì từ 2010 trở đi xu hướng này có dấu hiệu chững lại. Đỉnh điểm là 9
tháng đầu năm 2011 lượng DNVVN thành lập mới cũng giảm đi đáng kể.
Bên cạnh việc giảm về lượng đăng ký mới, số lượng các doanh nghiệp giải thể,
ngừng hoạt động/giải thế không chính thức tính đến hết tháng 9 cũng lên tới 160.930
9

doanh nghiệp. Hiện nay, số lượng doanh nghiệp đang tồn tại là 445.970 doanh
nghiệp. Thống kê của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, tốc độ giải thế và ngừng
hoạt động của doanh nghiệp trong 2 năm 2009 và 2010 gần gấp đôi so với những
năm trước. Điều đáng nói là phần lớn đối tượng DN phá sản rơi vào quy mô nhỏ và
vừa
Hiện nay, DNVVN chiếm hơn 96% số lượng các DN đăng ký kinh doanh và cung
cấp 50% khối lượng việc làm, tạo công ăn viêc làm cho lao động tại chỗ, ít được đào
tạo bài bản.
1.3.1.3 Các điều kiện hỗ trợ phát triển của DNVVN
QĐ 236/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch phát triển DNVVN 5 năm
2006-2010 là một bước cụ thể hóa chính sách, tạo thuận lợi đẩy nhanh tốc độ phát
triển DNVVN cả về quy mô và chất lượng. Mục tiêu từ 2006-2010, số DNVVN thành
lập mới khoảng 320,000 DN, nâng tổng số DNVVN lên 500,000 DN, tỷ lệ tham gia
xuất khẩu đạt từ 3%-6% trong tổng số DNVVN, giải quyết việc làm cho khoảng 2,7
triệu lao động.
Nghị định 56/2009/CP-NĐ, ngày 30/06/2009 và Nghị quyết số 22/NQ-CP của
Chính phủ. Chính phủ đưa ra 6 biện pháp lớn hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và

ROA
2000
1.8%
1.0%
6.0%
2001
2.3%
1.3%
7.2%
2002
2.3%
1.5%
7.5%
2003
2.1%
1.5%
7.0%
2004
1.6%
1.2%
5.5%
2005
1.5%
1.2%
5.3%
2006
2.0%
1.7%
6.6%
2007

cho thấy có 47,4% doanh nghiệp tư nhân được điều tra đang gặp khó khăn trong tuyển
lao động (tỷ lệ này là 38,4%) năm 2008.
Về kỹ thuật và công nghệ, dưới 10% số DNVVN có công nghệ, thiết bị tiên tiến, còn lại
trên 90% đang sử dụng công nghệ trung bình hoặc lạc hậu, mức độ đầu tư đổi mới công
nghệ thấp, do đó sức cạnh tranh sản phẩm yếu, ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên
(nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng…) và bảo vệ môi trường. Sự tham gia và thụ
hưởng của DNVVN đối với các dịch vụ đào tạo về quản lý, tư vấn tài chính, kế toán, thuế,
tư vấn quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin… còn rất hạn chế. Năng lực tiếp cận và
chiếm lĩnh thị trường, nhất là những thị trường "khó tính" ngoài nước cũng là một hạn chế
đáng kể.
Các DNVVN tƣ nhân tiếp cận hạn chế tới các chính sách, chƣơng trình ƣu đãi, hỗ
trợ của Chính phủ
Mặc dù Chính phủ có một số chính sách, chương trình ưu đãi, hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp, nhưng các DNVVN còn chưa tiếp cận được hiệu quả. Tỷ lệ DNVVN tham gia và
các chương trình hỗ trợ của Chính phủ như Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia,
Quỹ đổi mới Khoa học Công nghệ v.v còn rất khiêm tốn (dưới 10%). Do các DNVVN
hoặc là có nguồn lực hạn chế, hoặc chưa chuẩn bị để tiếp cận các nguồn lực phân bổ bởi
Chính phủ để phát triển các ngành, nghề và lĩnh vực ưu tiên.
Những vấn đề mà các DNVVN phải đối mặt trong vấn đề xuất nhập khẩu, gồm:
12

Việc tiếp cận với hạn ngạch xuất - nhập khẩu bị hạn chế và trên thực tế các DNNN vẫn
giành được sự ưu tiên.
Thiếu thông tin về thị trường của đối tác, về khách hàng nước ngoài và thiếu mạng lưới
marketing.
Tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm xuất khẩu không đáp ứng được yêu cầu của các doanh
nghiệp.
Thủ tục hải quan còn rườm rà; thuế xuất - nhập khẩu được áp dụng tùy tiện do hệ
thống mã thuế chưa chuẩn.
Khó khăn về mặt bằng kinh doanh, hầu hết các DNVVN đều phải sử dụng nhà cửa, đất

Trước hết, đó là các thủ tục về vay vốn của các ngân hàng, các TCTD khá phức tạp
làm cho các chi phí giao dịch tăng cao, dẫn tới giá của các khoản tín dụng trở nên đắt
đỏ đối với các DNVVN.
Thứ hai, các quy định khắt khe về tài sản thế chấp mà các DNVVN không đáp ứng
được, ít tài sản có thể được sử dụng để thế chấp hợp pháp, hợp lệ, quyền sử dụng đất
được hợp pháp hoá bằng việc cấp phép sử dụng đất, các ngân hàng thường đánh giá
thấp hơn nhiều so với giá thị trường, phương pháp định giá của ngân hàng chưa rõ
rang, các quyết định của ngân hàng về vấn đề này còn tùy tiện.
Thứ ba, đa số các DNVVN thường không đủ điều kiện để vay vốn tín chấp tại
ngân hàng do chưa có uy tín và tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn
vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn; không ít doanh nghiệp lừa đảo, chây ì trả nợ,
hiệu quả kinh doanh kém.
Thứ tư, do thủ tục phức tạp và chi phí giao dịch cao cũng làm cho các ngân hàng
không muốn cho các DNVVN vay vì dưới góc độ của các ngân hàng, thủ tục
cho vay các khoản vốn nhỏ cũng không kém phần phức tạp so với các khoản
vốn lớn của các DNNN. Đối với ngân hàng, các khoản vay dành cho tư nhân
còn khó khăn hơn và mang lại lợi ích nhỏ hơn so với các khoản vay dành cho
khu vực DNNN vì các yêu cầu về tài sản thế chấp đã phát sinh ra các chi phí
giao dịch mà lẽ ra có thể bù đắp bằng việc tăng lãi suất nhưng lãi suất cho vay
thì lại khó tăng.
Thứ năm, các DNVVN ít nhận được sự hỗ trợ trong việc thẩm định các dự án
14

kinh doanh, trong việc nghiên cứu tính khả thi của dự án, trong việc soạn thảo kế
hoạch, chiến lược kinh doanh và đặc biệt trong việc tìm kiếm các nguồn vốn
vay. Thông thường những ông chủ của DNVVN không đủ kiến thức chuẩn để
xây dựng các kế hoạch kinh doanh hay các bản Báo cáo tài chính theo yêu cầu
của ngân hàng nên hồ sơ xin vay vốn ít được chấp nhận.
Ngoài ra, sự kiểm soát lãi suất và ảnh hưởng đến phân bổ tín dụng của Chính phủ
cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức của DNVVN. Khoản

đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm cả định lượng và
định tính. Một số mô hình
thường sử dụng như Mô hình chất lượng 6C, Mô
hình xếp hạng của Moody và
Standard & Poor, Mô hình điểm số Z (Z - Credit
scoring model) (Chi tiết xem Phụ lục 1).
Ngoài ra còn các công thức xác định mức độ rủi ro tín dụng:
 Tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn (non performing loan - NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc
toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn (Nợ nhóm 2, 3, 4 và 5)
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn
X 100%
Tổng dư nợ cho vay
Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của
các Ngân hàng thương mại không được vượt quá 5% nghĩa là trong 100
đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5
đồng.
 Tỷ lệ nợ xấu (nhóm nợ 3, 4, 5 theo QĐ 493)
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Theo quy định hiện nay, tỷ lệ nợ xấu phải dưới 3% .
 Hệ số rủi ro tín dụng

Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có,
khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status