BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ THỊ DUNG
LẠM PHÁT & TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
VIỆT NAM
!!LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ THỊ DUNG
TP, HCM tháng 12 năm 2012
!
!
∀#!∃%&!∋()∗!
0ỤC LỤC
Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Kết cấu của luận văn : 5 chương
Chương 1 : Tổng quan
Chương 2 : Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 2
1.6 Bố cục của luận văn 2
CHƯƠNG II 4
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT & TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4
2.1 Lạm phát 4
2.1.1 Khái niệm về lạm phát 4
2.1.2 Một số chỉ tiêu đo lường lạm phát 4
2.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 7
2.2 Tăng trưởng 10
2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 10
2.2.2 Các phương pháp đo lường GDP 11
2.3 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế 11
2.3.1 Các yếu tố tác động đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế 11
2.3.2 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 12
2.4 Các nghiên cứu trước đây về quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng 14
2.4.1 Nghiên cứu của Mallik và Chowdhury (2001) 14
2.4.2 Nghiên cứu của Paul, Kearney và Chowdhury (1997) 15
2.4.3 Nghiên cứu của Sarel (1996) 15
2.4.4 Nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001) 15
2.4.5 Nghiên cứu của Min Li (2006) 15
2.4.6 Nghiên cứu của Mubarik (2005) 16
2.4.7 Nghiên cứu của Manzoor Hussain (2005) 16
2.4.8 Nghiên cứu của Shamim Ahmed và Md. Golam Mortaza (2005) 16
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng Trung ương
USD Đô – la Mỹ
VNĐ Đồng Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2009 -2014 của Việt Nam
Bảng 4.1: Các giá trị thống kê mô tả của GDP và CPI
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình
Bảng 4.3 : Kiểm định nghiệm đơn vị biến GDP
Bảng 4.4 : Kiểm định nghiệm đơn vị chuỗi sai phân ∆GDP
Bảng 4.5 : Kiểm định nghiệm đơn vị biến CPI
Bảng 4.6 : Kiểm định nghiệm đơn vị chuỗi sai phân ∆CPI
Bảng 4.7 : Ước lượng GDP bằng phương pháp OLS
Bảng 4.8 : Kiểm định nghiệm đơn vị cho phần dư µ
Bảng 4.9: Kiểm định hồi qui đồng liên kết Johansen
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định nhân quả giữa GDP và CPI
Bảng 4.11 : Kết quả ước lượng mô hình sai số hiệu chỉnh ECM
Bảng 4.12 : Tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1990-2011
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định G
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định I
Bảng 4.15: Kết quả ước lượng K với giá trị từ 2% đến 9%
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở hình thành đề tài
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô cơ bản hết sức quan trọng mà mọi
quốc gia đều quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Lạm phát cao là
biểu hiện của sự mất cân đối vĩ mô của nền kinh tế, là một hiện tượng kinh tế phức
tạp gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến mọi mặt trong quá trình phát
triển kinh tế không thể không kể đến những tác động đến tăng trưởng. Tăng trưởng
kinh tế mà vẫn giữ được mức lạm phát trong tầm kiểm soát là một bài toán làm đau
đầu không ít các nhà nghiên cứu kinh tế và hoạch định chính sách ở hầu hết các
quốc gia.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp trong những
năm gần đây, tốc độ tăng trưởng suy giảm trong khi lạm phát tăng cao là hiện tượng
đã xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đã có rất nhiều
nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng,
những kết luận rút ra là lạm phát và tăng trưởng có một mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, có những tác động qua lại với nhau trong ngắn hạn và trong dài hạn, trong đa
số các trường hợp, đối với một nền kinh tế luôn luôn tồn tại một mức ngưỡng của
lạm phát mà tại đó mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng chuyển từ tích cực
sang tiêu cực.
Đối với Việt Nam thì như thế nào, mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát có
nằm trong qui luật chung hay không, có tồn tại một mối quan hệ tác động lẫn nhau
hay không, nếu có thì ngưỡng lạm phát ở Việt Nam là bao nhiêu. Nghiên cứu để tìm
ra câu trả lời là điều vô cùng cần thiết, vì vậy tôi chọn đề tài “Lạm phát và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam.
1.2 Vấn đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ tìm ra xu hướng của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế tại Việt Nam, từ đó giúp cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính
sách tham khảo và có thêm sơ sở trong việc cân đối giữa mục tiêu lạm phát và tăng
trưởng kinh tế trong từng giai đoạn.
1.6 Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương :
Chương 1 : Tổng quan
Chương 2 : Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tế
3
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu
Chương 5 : Kết luận
“lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”, “lạm phát là một
khối u ác tính, thể hiện sự nở phồng lên của tiền tệ”. Theo Milton Friedman (1970)
“lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.
Như vậy, có thể coi lạm phát là sự suy giảm sức mua của tiền tệ và được đo
lường bằng sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế.
2.1.2 Một số chỉ tiêu đo lường lạm phát
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) và Chỉ số điều
chỉnh GDP là hai chỉ số đo lường lạm phát thường được sử dụng. Hai chỉ tiêu này
đều có những ưu điểm và nhược điểm, do vậy tùy vào tình hình cụ thể của mỗi
quốc gia mà họ sử dụng chỉ tiêu đo lường lạm phát thích hợp.
2.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu thống kê phản ánh mức độ biến
động qua thời gian về giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng. CPI là giá
của giỏ hàng hóa và dịch vụ này so với giá của giỏ hàng hóa và dịch vụ như vậy
trong một năm cơ sở nào đó.
Chỉ số giá tiêu dùng phụ thuộc vào rổ hàng hóa tiêu dùng và năm được chọn
làm gốc. Ở Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng được Tổng cục Thống kê tính và công bố
lần đầu vào năm 1998 (trước đó là chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ) với gốc so
sánh được chọn là năm 1995. Trên cơ sở xác định CPI bình quân, tỷ lệ lạm phát
phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước
5
được tính theo công thức:
Mức giá hiện tại – Mức giá năm trước
Tỷ lệ lạm phát = x 100%
Tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng
100,00
01
I- Hàng ăn và dịch vụ ăn uống
39,93 011
1. Lương thực
8,18
012
2. Thực phẩm
24,35
013
3. Ăn uống ngoài gia đình
7,40
06
VI- Thuốc và dịch vụ y tế
5,61
07
VII- Giao thông
8,87
08
VIII- Bưu chính viễn thông
2,73
09
IX- Giáo dục
5,72
10
X- Văn hóa, giải trí và du lịch
3,83
7
Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá cả của tất cả các loại hàng hóa và dịch
vụ được sản xuất ra. Tuy nhiên, chỉ số điều chỉnh GDP chỉ bao gồm những hàng
hóa được sản xuất trong nước nên chỉ số này không phản ánh trực tiếp sự biến động
trong giá hàng nhập khẩu và chỉ số này chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi
có báo cáo về GDP của năm đó.
2.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát. Các nguyên nhân này có thể xuất
phát từ phía tổng cầu trong nền kinh tế, cũng có thể xuất phát từ phía tổng cung và
cũng có thể là nguyên nhân xuất hiện đồng thời ở cả phía cung lẫn phía cầu. Khi
quan sát thực tế, người ta nhận thấy rằng, trong môi trường có lạm phát thì bản thân
môi trường đó cũng có thể có khả năng và là nguyên nhân thúc đẩy hoặc tiếp tục
gây ra một chu trình lạm phát mới, tức là tạo sự luẩn quẩn trong vòng xoáy lạm
phát.
2.1.3.1. Lạm phát do chi phí đẩy
Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng lên
(chi phí sản xuất tăng vượt quá mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh ra lạm
phát chi chí đẩy. Chi phí sản xuất tăng lên tạo áp lực “Đẩy” giá bán sản phẩm tăng
lên hay làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội, như vậy lạm phát trong
trường hợp này là do các yếu tố sản suất và tiêu thụ hàng hoá gây ra.
Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Lạm phát cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng
vượt quá mức cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm tăng giá cả.
Tổng cầu trong nền kinh tế bao gồm :
AD = C + G + I +X – M
Trong đó :
C: Chi tiêu gia đình
G: Chi tiêu Chính phủ
I: Đầu tư nền kinh tế
X: Nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu
M: Lượng hàng hóa nhập khẩu
9
(dấu âm trong biểu thức là do hàng hóa nhập khẩu làm phong phú thêm hàng hóa
trong nước và làm giảm căng thẳng cho tổng cầu).
Tổng cầu tăng có thể do một hoặc một số yếu tố trong vế bên phải của biểu
thức tăng lên:
Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, các khoản đầu tư
làm cho tổng cầu tăng.
Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong
nước, ngoài nước hoặc NHTƯ.
Các hộ gia đình tăng chi tiêu do mức thu thập tăng hoặc được Chính phủ
giảm thuế, tăng trợ cấp.
Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc
độ lưu thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu
thông tiền tệ gia tăng.
(ii) cung hàng hoá và dịch vụ; (iii) mối tương quan giữa cung và cầu hàng hoá; (iiii)
giá cả sản xuất. Tất cả các yếu tố hình thành giá cả được xem xét như là nguyên
nhân tăng giá. Có thể nhận thấy rằng giá cả năng lượng, nguyên liệu…có tác động
đến lạm phát. Song sự tác động này phải nằm trong mối liên hệ của 4 yếu tố nêu
trên (thị trường tiêu dùng, cung, mối tương quan giữa cung cầu, giá cả sản xuất).
2.1.3.4. Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế
Là lạm phát xuất hiện khi có quan hệ không bình thường trong các cân đối
cơ bản của nền kinh tế như: Công nghiệp Nông nghiệp, Công nghiệp nặng Công
nghiệp nhẹ, Sản xuất Dịch vụ, Xuất khẩu Nhập khẩu, Tích lũy Tiêu dùng Các
quan hệ nói trên không được đặt trong một hoàn cảnh kinh tế cụ thể để có định
hướng cân đối một cách hợp lý sẽ lập tức gây ra hiện tượng đông cứng một bộ phận
nguồn lực kinh tế, giữa chúng không chuyển hóa được cho nhau tạo ra một trạng
thái vừa thừa vừa thiếu các năng lực sản xuất giả tạo. Vì vậy, có thể gọi nhóm
nguyên nhân gây ra loại lạm phát này là sự ách tắc các nguồn vốn. Các lợi thế so
sánh giữa các vùng trong nội bộ nền kinh tế và lợi thế so sánh giữa các quốc gia
không được khai thác làm cho sức phát triển bị "đóng băng" hóa.
2.2 Tăng trưởng
2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc quy mô tổng sản lượng quốc gia tính trên đầu
người (PCI - Per capita income) trong một thời gian nhất định. Các nhà kinh tế
thường sử dụng chỉ tiêu GDP để đo lường tăng trưởng kinh tế.
11
2.2.2 Các phương pháp đo lường GDP
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Do vậy, để đạt được mục tiêu
tăng trưởng và lạm phát đã đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô thì cần thiết phải có sự
phối hợp đồng bộ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Tùy theo từng
trường hợp cụ thể của nền kinh tế mà chính sách tài khóa “mở rộng” hay “thắt
chặt” kết hợp với chính sách tiền tệ “thắt chặt” hay “nới lỏng” được thực hiện.
- Chính sách tài khóa: là các quyết định của chính phủ về chi tiêu và thuế khóa
để điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Chính sách tài khóa ảnh hưởng
đến tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế.
Trong ngắn hạn, khi nền kinh tế suy thoái (sản lượng đang ở dưới mức sản
lượng tiềm năng) thì sử dụng chính sách tài khóa mở rộng có thể sẽ giúp cho tăng
12
sản lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà không làm tăng mức giá. Trong dài
hạn, tổng cung là đường thẳng đứng và không phụ thuộc vào mức giá do vậy nếu
nền kinh tế có mức sản lượng tiềm năng thì chính sách tài khóa mở rộng sẽ không
phát huy tác dụng, không làm tăng sản lượng mà chỉ làm tăng giá.
Khi nền kinh tế đang tăng trưởng quá nóng thì chính sách tài khóa thắt chặt
được sử dụng để giảm tổng cầu, làm cho giá cả giảm xuống dẫn đến lạm phát
giảm.
- Chính sách tiền tệ: là chính sách quản lý quy mô cung tiền và mức độ tăng
trưởng của cung tiền để qua đó tác động lên lãi suất. Chính sách tiền tệ bao gồm
việc thay đổi các loại lãi suất nhất định hoặc việc quy định mức dự trữ bắt buộc
của các Ngân hàng thương mại.
Theo mô hình tổng cung – tổng cầu thì chính sách tiền tệ tác động đến tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Trong dài hạn, chính sách tiền tệ không làm tăng
M: cung tiền
V: Hệ số tạo tiền
P: Giá
Y: sản lượng đầu ra
Cũng theo Friedman, nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp 2 lần
mà thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm đến
việc tăng giá hàng hóa. Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng không bị suy giảm
bởi lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì không ảnh hưởng nguy hiểm
đến tăng trưởng kinh tế.
Nói tóm lại, theo quan điểm của thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị
ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng. Nếu cung tiền
tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ
cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát.
Theo lý thuyết tân cổ điển: Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif
2004) phát triển mô hình Mundell (1963, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004)
cho rằng lạm phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển tiền
thành các tài sản sinh lợi. Điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế
và thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có
mối quan hệ cùng chiều.
Bổ sung thêm cho mô hình trên của lý thuyết tân cổ điển nhà kinh tế học
Sidrauski (1967, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) có cùng quan điểm với
chủ nghĩa trọng tiền, Sidrauski đề cập đến một trạng thái “vô cùng dửng dưng”
14
(superneutral) với lạm phát. Kết quả nghiên cứu của ông là khi các biến số độc lập
2.4.2 Nghiên cứu của Paul, Kearney và Chowdhury (1997)
Các tác giả đã nghiên cứu 70 nước, trong đó có 48 nước có nền kinh tế
đang phát triển, dữ liệu nghiên cứu là từ 1960 – 1989. Kết quả là 40% các nước
nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và tăng trưởng.
20% các nước nghiên cứu có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa lạm phát và
tăng trưởng. 40% các nước còn lại theo một phương hướng duy nhất (hoặc là lạm
phát tác động đến tăng trưởng hoặc ngược lại). Tuy nhiên, nghiên cứu cũng kết
luận mối quan hệ cùng chiều trong một số trường hợp này, nhưng mang dấu âm
trong một số trường hợp khác. Mối quan hệ là nghịch biến giữa lạm phát và tăng
trưởng đối với Pakistan, nhưng không có mối quan hệ nhân quả ở Ấn Độ và
Srilanka.
2.4.3 Nghiên cứu của Sarel (1996)
Tác giả đã sử dụng phương pháp OLS với dữ liệu hàng năm từ 1970 đến
1990 cho 87 quốc gia bao gồm cả các nước công nghiệp và đang phát triển và ông
đã tìm ra mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tang trưởng. Đặc biệt, ông đã
kiểm tra sự tồn tại của một điểm phá vỡ cấu trúc và tìm thấy bằng chứng rằng có
một ngưỡng lạm phát ở mức 8% mà tại đó, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng thay đổi từ tích cực sang tiêu cực.
2.4.4 Nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001)
Các tác giả đã sử dụng dữ liệu của 140 quốc gia bao gồm cả các nước công
nghiệp và đang phát triển cho giai đoạn 1960 đến 1998, nghiên cứu đã cho thấy tồn
tại một ngưỡng lạm phát ở mức 1-3% cho các nước công nghiệp và 11-12% đối với
các nước đang phát triển mà theo đó, mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát
mang dấu âm khi tỉ lệ lạm phát vượt quá ngưỡng này và mang dấu dương trong
trường hợp ngược lại.
2.4.8 Nghiên cứu của Shamim Ahmed và Md. Golam Mortaza (2005)
Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ tiêu cực trong dài hạn có ý
nghĩa thống kê giữa lạm phát và tăng trưởng đối với Bangladesh giai đoạn 1981-
2005, kết quả này được rút ra từ mối quan hệ tiêu cực trong dài hạn có ý nghĩa
thống kê giựa CPI và GDP thực tế. Ngoài ra, mô hình ước tính mức ngưỡng lạm
phát tối ưu cho thấy 6% là mứ ngưỡng lạm phát tối ưu hay là điểm phá vỡ cấu trúc
mà khi vượt lên trên mức này thì lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh
tế.
2.4.9 Nghiên cứu của PGS.TS. Trần Hoàng Ngân, ThS. Hoàng Hải Yến và ThS. Vũ
Thị Lệ Giang nghiên cứu “Lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”.