Kiến thức, thái độ và thực hành của người dân 4 phường, thành phố đà nẵng về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm - Pdf 29

50 Tạp chí Y tế Công cộng, 7.2011, Số 20 (20)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Sân bay Đà Nẵng cùng với một số sân bay và khu căn cứ quân sự cũ của Mỹ là nơi diễn ra hoạt động
chứa, pha, nạp rửa… chất Da cam và các chất làm trụi lá khác (chứa tạp chất dioxin) trong chiến
dòch Ranch Hand 1962-1971. Người dân sống gần sân bay Đà Nẵng và các điểm nóng nhiễm dioxin
khác đều có nguy cơ phơi nhiễm với dioxin trong môi trường đất, nước, trầm tích, không khí và thực
phẩm [4,5,8,9]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy các mẫu đất, bùn, một số loại thực phẩm đòa
phương, các mẫu máu và sữa mẹ của người dân tại khu vực gần sân bay Đà Nẵng có hàm lượng dioxin
cao hơn các tiêu chuẩn hay hướng dẫn hiện hành về dioxin trên thế giới [6]. Sau khi mô hình can
thiệp Y tế công cộng (YTCC) triển khai ở điểm nóng sân bay Biên Hoà trong giai đoạn 2007-2009
đạt được những thành công bước đầu trong việc giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm với dioxin trong thực
phẩm cho người dân đòa phương[7], Hội YTCC Việt Nam đã nhận được hỗ trợ tài chính từ Quỹ Ford
để mở rộng mô hình can thiệp này ra điểm nóng nhiễm dioxin ở Sân bay Đà Nẵng. Năm 2009, trước
khi xây dựng và triển khai chương trình can thiệp, một nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được thực hiện
với mục tiêu tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm
của 400 người dân sống tại 4 phường được cho là bò tác động lớn nhất của ô nhiễm dioxin ở thành
phố Đà Nẵng. Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi-data 3.1 và phân tích bằng phần mềm thống
kê SPSS 17. Kết quả của điều tra KAP cho thấy mặc dù sống ở khu vực điểm nóng về ô nhiễm dioxin
nhưng kiến thức về dioxin và các giải pháp thực hành dự phòng phơi nhiễm của người dân trước can
thiệp còn rất hạn chế. Một chương trình can thiệp nhằm giảm nguy cơ phơi nhiễm dioxin cho người
dân tại bốn phường gần sân bay Đà Nẵng là thực sự cần thiết. Kết quả của nghiên cứu này đã được
Hội YTCC Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo xây dựng kế hoạch can thiệp chi tiết với sự tham gia của
các ban ngành liên quan tại đòa phương vào tháng 5 năm 2010.
Từ khóa: Ô nhiễm Dioxin, sân bay Đà Nẵng, thực phẩm nhiễm dioxin, dự phòng nhiễm dioxin, KAP,
kiến thức - thái độ - thực hành
Knowledge, attitudes and practices of
local residents in four wards, Da Nang city -
Viet Nam on preventing dioxin exposure
through foods
Le Vu Anh (*), Tran Thi Tuyet Hanh (*), Nguyen Ngoc Bich(*),
Nguyen Thanh Ha (*), Nguyen Duc Minh (**), Nguyen Kim Ngan (***)

Tác giả:
(*) Trường Đại học Y tế công cộng, 138 Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội.
- Lê Vũ Anh - Giáo Sư - Tiến Só - Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế Công cộng.
E.mail:
- Trần Thò Tuyết Hạnh - Thạc só - Giảng viên Bộ môn Sức khỏe môi trường. Email:
- Nguyễn Ngọc Bích - Thạc só, bác só - Giảng viên Bộ môn Sức khỏe nghề nghiệp. Email:

- Nguyễn Thanh Hà - Tiến só, bác só - Giảng viên Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn vệ sinh thực phẩm.
Email:
(**) Nguyễn Đức Minh - Thạc Só - Viện Y xã hội học .
(***) Nguyễn Kim Ngân - Cử nhân - Cán bộ chương trình - Hội Y tế Công cộng Việt Nam, 138 Giảng Võ -
Ba Đình - Hà Nội. Email:
52 Tạp chí Y tế Công cộng, 7.2011, Số 20 (20)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
1. Đặt vấn đề
Nghiên cứu do Công ty tư vấn môi trường
Hatfield Canada (Hatfield Consultants 2009) thực
hiện đã xác đònh 7 điểm nóng dioxin ở Việt Nam,
trong đó sân bay Đà Nẵng được cho là một trong ba
điểm nóng nhất. Gần 40 năm sau khi việc phun rải
kết thúc, những người dân sinh sống tại khu vực có
nồng độ dioxin cao ví dụ ở xung quanh sân bay Đà
Nẵng vẫn đang hằng ngày đối mặt với nguy cơ cao
phơi nhiễm chất độc này và đang phải hứng chòu
những tác động nguy hại trực tiếp lên sức khỏe của
họ và của thế hệ con, cháu.
Các hoạt động tẩy độc đòi hỏi một khoản kinh
phí rất lớn và thực hiện trong thời gian dài. Hiện tại
và trong tương lai, những sự hỗ trợ, hợp tác trong
nước và quốc tế là rất cần thiết để giải quyết vấn

Đây là nghiên cứu trước can thiệp do Hội YTCC
Việt Nam và Hội YTCC Đà Nẵng thực hiện trong
giai đoạn từ tháng 9/2009 đến tháng 1/2010 với mục
tiêu tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về dự
phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm của 400
người dân (lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên
hệ thống) sống tại 4 phường được cho là bò tác động
lớn nhất về ô nhiễm dioxin ở thành phố Đà Nẵng,
bao gồm An Khê, Chính Gián, Hoà Khê và Thanh
Khê Tây. 400 đối tượng nghiên cứu trong độ tuổi 16
- 60 được chọn là người chòu trách nhiệm chính về
mua và chế biến thực phẩm của 400 hộ gia đình
được lựa chọn từ bốn phường theo phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Số liệu được phân
tích bằng phần mềm thống kê SPSS 13 và Stata 9.
Kết quả của nghiên cứu khảo sát đánh giá KAP
trước can thiệp sẽ được sử dụng để làm cơ sở khoa
học giúp cho việc lập kế hoạch can thiệp khả thi và
hiệu quả nhằm giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm mới
với dioxin trong thực phẩm cho người dân sống ở 4
phường gần sân bay Đà Nẵng cũng như cung cấp số
liệu nền cho mục đích đánh giá chương trình can
thiệp. Số liệu đã được nhập bằng phần mềm Epi-
data 3.1. Phân tích thống kê thích hợp đã được thực
hiện bằng phần mềm SPSS 17.0. Cả thống kê mô tả
và thống kê suy luận đều được tiến hành. Các kiểm
đònh thống kê thích hợp được sử dụng nhằm tìm hiểu
thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người
dân về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm
và những yếu tố liên quan.

khảo sát trước và sau can thiệp ở Biên Hoà (2007,
2009). Số liệu trong Bảng 1 cho thấy, ngoại trừ
kiến thức liên quan đến thực phẩm, nhìn chung kiến
thức liên quan đến sự tồn tại của dioxin trong đất,
nước, không khí của người dân ở 4 phường thuộc
thành phố Đà Nẵng 2009 là tốt hơn có ý nghóa thống
kê so với kiến thức của người dân Biên Hoà trong
khảo sát trước can thiệp 2007. Tuy nhiên, do cuộc
khảo sát trước can thiệp ở Đà Nẵng diễn ra 2 năm
sau khảo sát trước can thiệp ở Biên Hòa nên trong
2 năm qua, người dân ở Đà Nẵng có thể đã được tiếp
cận với một số thông tin liên quan đến dioxin trên
các phương tiện truyền thông đại chúng nên kiến
thức của họ có thể tốt hơn. Nếu so với kết quả sau
can thiệp ở Biên Hòa thì kiến thức của người dân ở
4 phường tại Đà Nẵng về sự tồn tại của dioxin trong
thực phẩm, trong cả 4 môi trường thành phần là thấp
hơn có ý nghóa thống kê, tỉ lệ trả lời không biết cũng
cao hơn có ý nghóa thống kê so với tỉ lệ ở Biên Hòa
sau can thiệp 2009. Riêng kiến thức về sự tồn tại
của dioxin trong nước ở trong khảo sát trước can
thiệp ở Đà Nẵng là tốt hơn có ý nghóa thông kê so
với kết quả trong cả 2 cuộc khảo sát trước và sau can
thiệp ở Biên Hòa (Bảng 1).
3.2. Kiến thức về thực phẩm nguy cơ cao
nhiễm dioxin
Nhận thức của người dân về những loại thực
phẩm có nguy cơ cao nhiễm dioxin nếu được nuôi
trồng ở vùng ô nhiễm trong khảo sát trước can thiệp
còn rất hạn chế (Hình 1). 22,5% đối tượng biết cá,

trong môi trường, Đà Nẵng 2009, Biên
Hòa 2007, 2009
Hình 1. Nhận thức về các loại thực phẩm có nguy
cơ nhiễm dioxin cao, khảo sát trước can
thiệp, Đà Nẵng 2009
54 Tạp chí Y tế Công cộng, 7.2011, Số 20 (20)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
hỏi phỏng vấn có thể ảnh hưởng phần nào đến câu
trả lời của người được phỏng vấn cho vấn đề này.
Thực tế kết quả điều tra trước can thiệp ở Đà Nẵng
2009 cho thấy mặc dù chỉ có 15,9% tổng số người
được phỏng vấn biết dioxins tồn tại trong thực phẩm
và 79,1% biết dioxin có thể thâm nhập vào cơ thể
qua đường ăn uống nhưng lại có tới 86,5% cho biết
nếu ăn thực phẩm bò ô nhiễm dioxin thì con người
có nguy cơ bò nhiễm độc.
3.3. Kiến thức về các biện pháp dự phòng
Nhìn chung, kiến thức về các biện pháp dự phòng
phơi nhiễm dioxin từ thực phẩm tại bốn phường gần
sân bay Đà Nẵng trong điều tra trước can thiệp là còn
rất hạn chế (Hình 2). 74,4% cho rằng biện pháp dự
phòng phơi nhiễm dioxin từ thực phẩm là rửa sạch
rau, 31,5% cho rằng cần đun nấu thực phẩm thật kỹ
để loại bỏ bớt dioxin (là biện pháp không hiệu quả),
12,9% cho rằng không nên sử dụng các thực phẩm
nuôi/trồng tại đòa phương. Các giải pháp dự phòng
đúng hầu như còn rất xa lạ đối với người dân tại bốn
phường ở gần sân bay Đà Nẵng, với tỉ lệ người trả lời
đúng chỉ từ 0% (bú ít sữa mẹ trong 1 vài tuần đầu sau
sinh) đến 4,1% (không dùng nước ô nhiễm). 15%

đích ăn uống mà vẫn phải sử dụng nước
giếng khoan, giếng đào … thì có tới 38
Bảng 2. So sánh nhận thức về nguy cơ nhiễm độc
dioxin qua thực phẩm, Đà Nẵng 2009,
Biên Hòa 2007, 2009
Hình 2. Nhận thức về các giải pháp phòng ngừa phơi nhiễm
dioxin qua thực phẩm, điều tra KAP trước can thiệp,
Đà Nẵng 2009.
Bảng 3. So sánh kiến thức dự phòng nhiễm độc
dioxin từ thực phẩm, Đà Nẵng 2009, Biên
Hòa 2007, 2009
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 7.2011, Số 20 (20) 55
hộ (chiếm 82,6%) không áp dụng bất kỳ phương
pháp xử lý nước nào. Theo kết quả điều tra KAP
trước can thiệp, phần lớn người dân ở bốn phường
(97,7%) không dùng thực phẩm tự nuôi trồng, trong
đó tỉ lệ ở phường Chính Gián là 100%, phường Hòa
Khê là 98,9%, phường Thanh Khê Tây là 97,7% và
thấp nhất là phường An Khê với 94,9%. Trong toàn
bộ 400 hộ khảo sát thì có 9 hộ vẫn tiêu thụ các thực
phẩm tự nuôi trồng. Đa số các đối tượng được hỏi
hiếm khi quan tâm tới nguồn gốc thực phẩm mà họ
mua về. Kết quả khảo sát về thực hành biết về
nguồn gốc thực phẩm tiêu dùng hằng ngày cho thấy
chỉ có 22,6% đối tượng biết nguồn gốc thực phẩm
chế biến thức ăn hàng ngày, 34,8% chỉ biết một số,
còn 42,6% đối tượng trả lời không biết. 69,6% đối
tượng điều tra trả lời là có quan tâm đến nguồn gốc
thực phẩm khi mua; những người còn lại (chiếm

(p<0,05) 7. Đây cũng thể hiện thói quen ăn uống
đặc thù theo đòa phương khác nhau giữa hai khu vực
Đà Nẵng và Biên Hòa.
Tuy kiến thức về dioxin và dự phòng phơi
nhiễm dioxin còn rất hạn chế, kết quả điều tra KAP
trước can thiệp ghi nhận phần lớn người dân đều có
thái độ tích cực về thực hành phòng ngừa phơi
nhiễm dioxin cho bản thân và gia đình. 97% người
dân cho biết họ sẵn sằng từ bỏ loại thực phẩm ưa
thích nếu biết chúng có nguy cơ bò nhiễm dioxin.
97% người dân sẵn sàng nghe theo các thông tin tư
vấn về phòng tránh phơi nhiễm dioxin. Ngoài các
nỗ lực tẩy độc ở khu sân bay thì một chương trình
can thiệp YTCC nâng cao kiến thức, thái độ và thực
hành của người dân sống gần sân bay Đà Nẵng
nhằm giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm dioxin cho
cộng đồng là thực sự cần thiết. Sau khi nghiên cứu
này được triển khai, tháng 5 năm 2010 Hội YTCC
Việt Nam cùng với Hội YTCC Đà Nẵng đã tổ chức
hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu, xây dựng kế
hoạch can thiệp chi tiết với sự tham gia của các ban
ngành liên quan tại đòa phương.
4. Bàn luận
Mô hình can thiệp với cách tiếp cận y tế công
cộng triển khai tại Đồng Nai đã cho những kết quả
ban đầu rất khả quan trong việc nâng cao kiến thức,
thái độ và thực hành cho người dân sống tại điểm
nóng dioxin gần sân bay Biên Hòa. Do đó mô hình
này cần được mở rộng và áp dụng tại 4 phường gần
sân bay Đà Nẵng góp phần nâng cao nhận thức và

tại các ao, hồ trong đòa bàn 4 phường nghiên cứu để
làm thực phẩm.
Phần lớn các hộ hiện vẫn đang tiêu thụ thực
phẩm tự nuôi trồng tập trung ở phường An Khê, do
đó các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi
nguy cơ này cần đặc biệt chú trọng ở phường này.
Để đảm bảo hiệu quả, cần phối hợp với các ban
ngành liên quan ở đòa phương để đảm bảo người dân
tại đòa phương, đặc biệt là phường An Khê không
tiêu thụ (ăn/bán/biếu…) thực phẩm họ tự nuôi trồng
trên đòa bàn.
Cần có tập huấn cho cán bộ đòa phương và các
cộng tác viên về lựa chọn và sử dụng thực phẩm an
toàn để giảm nguy cơ nhiễm độc dioxin cũng như
các kỹ năng truyền thông tại cộng đồng. Các hoạt
động tập huấn, tuyên truyền ngoài sự tham gia của
các tuyên truyền viên nên có sự tham gia tích cực
của Hội phụ nữ.
Cần có lưu ý khi triển khai các lời khuyên dinh
dưỡng hợp lý tại đòa phương, đặc biệt là những khi
ăn nhiều cá, nuôi con bằng sữa mẹ.
Phát huy hiệu quả trong chương trình can thiệp
tại Đồng Nai, các kênh truyền thông đòa phương
(như họp tổ dân phố, cán bộ y tế phát tờ rơi và tư
vấn tại hộ gia đình, dán tờ tranh tại hộ gia đình…)
nên được tiếp tục sử dụng trong chương trình can
thiệp ở Đà Nẵng. Tuy nhiên, trong chương trình can
thiệp này cũng nên cân nhắc thêm kênh truyền hình
đòa phương (là một trong 3 kênh thông tin được
người dân yêu thích nhất).

Tiếng Anh
4. Dwernychuk LW, Cau HD, Hatfield CT, et al (2002).
Chemosphere. 47:117-137
5. Dwernychuk LW (2005), Chemosphere. 60:998-999
6. Hatfield Consultants and 10-80 Committee 2000,
Preliminary Assessment of Environmental Impacts Related
to Spraying of Agent Orange Herbicide During the Viet
Nam War, West Vancouver: Hatfield Consultants Ltd.
7. Le VA, Nguyen NB, Nguyen DM, Nguyen TH, Do MS,
Tran TTH 2008, Organohalogen Compounds; 70: 000535-
00538.
8. Schecter, A., Cao Dai, L., Papke, O., et al (2001). Journal
of Occupational and Environmental Medicine. 43: 435- 443.
9. Schecter A., Quynh H.T., Pavuk M., Papke O., Malish R.,
Constable J.D. (2003). Journal of Occupational and
Environmental Medicine. 45 (8): 781-88.
10. Tuyet-Hanh, T.T, Vu-Anh, L, Ngoc-Bich, N, Tenkate, T
(2010). "Environmental Health Risk Assessment of Dioxin
Exposure through Foods in a Dioxin Hot Spot-Bien Hoa
City, Vietnam". International Journal of Environmental
Research and Public Health. 7: 2395-2406.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status