B GÍO DC V̀ ̀O TO
TRNGăA
IăHO
CăKINHăTÊ
ăTP.HÔ
ăCHI
ăMINH
NGUYÊ
NăTHI
ăTUYÊ
TăTRINH
NGHIÊNăCUăTÁCăNGăCAăTHÂMăHU
Tă
NGÂNăSA
NG
IăH
NGăDÂ
Nă:PGS.TSăPHANăTHI
ăBI
CHăNGUYÊ
T TP.HCM , Nmă2012
i
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Mục tiêu nghiên cứu 8
3. Phạm vi nghiên cứu 9
2.1.1. Thâm hụt ngân sách và vay nợ trong nước 24
2.2.2. Thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại, tỷ giá 26
2.2.3. Thâm hụt ngân sách và lãi suất 28
2.3. ĐỊNH LƯỢNG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐỐI
VỚI LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1992-2011 29
ii
2.3.1. Cơ sở lý thuyết 29
2.3.2. Thiết lập mô hình tổng quát 30
2.3.3. Cơ sở dữ liệu 31
2.3.4. Số liệu chạy mô hình 32
Bảng 2. 2: Dữ liệu đầu vào giai đoạn 1992- 2011 32
2.3.5. Phương pháp ước lượng 32
2.3.6. Mô hình hồi qui thực nghiệm tác động của thâm hụt ngân sách đối với lãi suất
ở Việt Nam 33
2.3.6.1. Ước lượng mô hình hồi qui bằng phương pháp bình phương bé nhất 33
2.3.6.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi qui 34
3.5. KIẾN NGHỊ VỀ TÍNH MINH BẠCH VÀ CHỐNG THAM NHŨNG
TRONG ĐẦU TƯ CÔNG. 60
3.6. CÁC KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢN LÝ NỢ CÔNG 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 63
KẾT LUẬN CHUNG 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
A.TIẾNG VIỆT 66
B. TIẾNG ANH. 67
C. CÁC WEBSITE. 69
PHỤ LỤC THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 1 70
MÔ HÌNH HỒI QUI BIẾN PHỤ 70
PHỤ LỤC 2 72
THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA VIỆT NAM 72
iv
Trang
Bảng 2. 1: Tình hình vay nợ trong nước của Việt Nam giai đoạn 2003-2011 24
Bảng 2. 2: Dữ liệu đầu vào giai đoạn 1992- 2011 32 vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 2.1: Sự thay đổi vay nợ trong nước của Việt Nam từ 2004-2011 25
Đồ thị 2.2: Tiết kiệm, đầu tư, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách 27
Đồ thị 2.3: Thâm hụt ngân sách và lãi suất ở Việt Nam giai đoạn 2001-2011. 29 vii DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Mô hình hồi qui tuyến tính đối với dữ liệu kinh tế Việt Nam 34
Hình 2.2: Bảng kết quả Redundant Variables của biến “LP” 36
Hình 2.3: Bảng kết quả Redundant variables của biến “ THNS” 37
Hình 2.4 : Bảng kết quả Redundant variables của biến “ GDP” 38
Hình 2.5: Bảng kết quả Redundant variables của biến “ M2” 40
Hình 2.6: Bảng kết quả kiểm tra biến “M2” 40
Hình 2.7: Mô hình hồi qui với dữ liệu kinh kế đã điều chỉnh ( 1992-2011) 41
Hình 2. 8 : Đồ thị của phần dư u
Nghiên cứu tác động của thâm hụt ngân sách tới lãi suất tại Việt Nam
“. Với
mục đích là tìm hiểu: phân tích các nhân tố gây ra thâm hụt ngân sách; đo lường
thâm hụt ngân sách và nó tác động như thế nào đối với nền kinh tế việt nam; dùng
mô hình định lượng xem xét.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm của tác giả lớn trên thế giới về tác động
của thâm hụt ngân sách lên lãi suất ở các quốc gia đang phát triển và phát triển
thông qua các kênh truyền dẫn trung gian. Bài viết, đã tiến hành thu thập dữ liệu đối
với nền kinh tế Việt Nam để tiến hành thống kê mô tả tìm ra thực tế tác động của
THNS đối với những kênh truyền dẫn từ đó liên hệ Việt Nam.
Định lượng tác động thâm hụt ngân sách lên lãi suất. Dựa trên mô hình hồi
qui của hai tác giả Aisen and Hauner (2008),
Budget Deficits and Interest Rates: A
Fresh Perspective, IMF, đo lường tác động THNS lên lãi suất ở Việt Nam.
Trả lời thâm hụt ngân sách có tác động đến lãi suất ở Việt Nam không.
9 Kiến nghị các giải pháp giảm thâm hụt ngân sách và ổn định kinh tế vĩ mô.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu trên trên phạm vi quốc gia Việt Nam
Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu từ 1992 đến 2011.
Phương pháp nghiên cứu: thống kê mô tả, so sánh, phân tích tổng hợp…kết
hợp với các công cụ kinh tế lượng nhằm minh họa các kết quả định lượng của vấn
đề nghiên cứu.
Phương pháp thu thập dữ liệu:Số liệu minh họa được thu thập từ nguồn số
liệu thứ cấp, cụ thể; IMF, ADB, Wordbank, tổng cục thống kê, NHNN, Bộ công
cứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm. Liên
quan đến mối quan hệ này, các quan điểm của các trường phái kinh tế khác nhau
cũng rất khác nhau.
Trường phái tân cổ điển cho rằng tăng thâm hụt hiện tại sẽ kéo theo sự gia
tăng về gánh nặng thuế trong tương lai. Theo đó, người tiêu dùng sẽ có xu hướng
tăng tiêu dùng tại thời điểm hiện tại. Do đó, trong trường hợp này, tiết kiệm quốc
gia sẽ giảm xuống. Khi tiết kiệm quốc gia giảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng và
lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư, qua đó tạo ra hiện tượng thoái lui đầu tư (crowding
out). Vì thế, trường phái này cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế.
Trường phái này còn cho rằng nếu như việc tài trợ thâm hụt ngân sách thông
vay nợ trong nước sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, do vậy sẽ làm
giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Theo đó, tăng thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến
tăng giá và giảm sản lượng sản xuất trong nền kinh tế. Một giải thích khác là khi
chính phủ vay nợ trên thị trường trong nước, lãi suất sẽ bị đẩy lên và khi mặt bằng
lãi suất bị đẩy lên, khu vực tư nhân sẽ giảm nhu cầu huy động vốn của mình, theo
đó sẽ hạn chế đến sự mở rộng sản xuất của khu vực tư nhân. Hay nói cách khác, sự
gia tăng về cầu của chính phủ thông qua tăng chi tiêu (tăng thâm hụt ngân sách) đã
“chèn lấn” cầu khu vục tư nhân (Saleh, 2003).
Trong khi đó, trường phái Keynes lại cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ
tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Khi chính phủ tăng chi ngân sách từ
11 nguồn thâm hụt thì tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng lên, làm cho các nhà đầu tư tư
nhân trở nên lạc quan hơn về triển vọng kinh tế và sẽ quan tâm hơn đến việc tăng
đầu tư. Trong trường hợp khác, nếu chính phủ chấp nhận thâm hụt thông qua việc
giảm thuế thì thu nhập khả dụng của khu vực hộ gia đình cũng tăng lên. Theo đó,
người dân sẽ tăng chi tiêu. Tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên.
Trường phái Keynes lập luận rằng mặc dù tăng thâm hụt ngân sách có thể
nói trên (Saleh, 2003)
1
.
Xét dưới góc độ lý thuyết cũng có hai trường phái về tác động của thâm hụt
ngân sách đối với lãi suất. Trường phái Keynes và trường phái tân cổ điển cho rằng
thâm hụt ngân sách tăng sẽ làm tăng lãi suất do cầu về tiền tăng. Trong khi đó,
trường phái Ricardo lại cho rằng thâm hụt ngân sách không tác động đến lãi suất (vì
các lý do như phân tích trong phần trên).
Theo trường phái thứ nhất thì quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lãi suất
thường là quan hệ thuận chiều, điều ngày có nghĩa là khi thâm hụt ngân sách tăng
thì lãi suất cũng tăng. Thâm hụt tăng cũng đồng nghĩa với nhu cầu huy động vốn
của chính phủ tăng. Nếu như một phần của số vốn cần huy động để bù đắp cho
thâm hụt được thực hiện thông qua thị trường nợ trong nước thì cầu về vốn trong
nước sẽ tăng, qua đó sẽ làm gia tăng sức ép đối với mặt bằng lãi suất trong nước.
Trong trường hợp này, ngân hàng trung ương có thể bắt buộc phải giảm sức ép gia
tăng về lãi suất thông qua chính sách tiền tệ mở rộng. Trường hợp ngân hàng trung
ương không can thiệp thì áp lực đối với lãi suất là không thể tránh khỏi.
Tương tự như các biến số nói trên, mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với
lãi suất cũng đã được bàn luận khá nhiều trong các nghiên cứu kiểm định thực tiễn.
Kết quả là cũng các nghiên cứu khác nhau cũng đưa ra các kết luận khác nhau về
mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lãi suất. Trong khi có nhiều nghiên cứu
đưa ra bằng chứng chứng minh thâm hụt ngân sách tăng sẽ tác động đến lãi suất, ví
dụ như nghiên cứu của Al-Saji (1993) về trường hợp của Anh, song cũng có nghiên
1
Saleh , AS (2003) , The Budget Deficit and Economic Performance : A Survey, Working paper 03-21,
Deparment of Economic, University of Wollongong.
13
∗ ݎ
,௧
+ ߜ
ସ
∗ ߨ
,௧
+ ߜ
ହ
∗ ݈݃݉
,௧
+ ߜ
∗ ݕ
,௧
+ ߜ
∗
݀
,௧
+ ߜ
଼
∗ ݅
,௧ିଵ
∗
+ ߝ
,௧′
.
1.3. NHỮNG BẰNG CHỨNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
1.3.1. Tóm lược những quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới về sự
+ ߜ
ହ
∗ ݈݃݉
,௧
+ ߜ
∗ ݕ
,௧
+
ߜ
∗ ݀
,௧
+ ߜ
଼
∗ ݅
,௧ିଵ
∗
+ ߝ
,௧′
.
2
Trích dẫn từ Saleh , AS (2003).
14 Mức độ thâm hụt ảnh hưởng đến lãi suất sẽ phụ vào nhiều yếu tố (1) : Mức
chu chuyển vốn, mức chu chuyển vốn tăng có nghĩa là điều chỉnh thâm hụt ngân
sách cao hơn xảy ra thông qua tỷ lệ trao đổi và thông qua lãi suất thực trong nước
trường mới nổi nhiều hơn trong nền kinh tế tiên tiến. Tác động của thâm hụt ngân
sách về lãi suất lớn hơn ở châu Mỹ La Tinh hơn so với các khu vực khác. Đối với
thị trường châu Á và châu Âu cho thấy ảnh hưởng 60 điểm cơ bản trong cả hai
trường hợp.
Kiểm tra sự khác biệt cấu trúc giữa các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi kết
quả cho thấy: (1) Thâm hụt quan trọng hơn lãi suất khi thâm hụt lớn, tài chính trong
nước hoặc khoản nợ trong nước cao, trong khi thâm hụt ngân sách thấp không ảnh
hưởng đáng kể đến lãi suất, tiếp theo kiểm tra về độ sâu tài chính thâm hụt ngân
sách có ảnh hưởng lớn hơn khi chúng tương tác với nợ trong nước cao;(2) công
khai tài chính lớn hơn làm giảm ảnh hưởng của Thâm hụt ngân sách lên lãi suất hơn
là việc kê khai tài chính thấp và thâm chí không đáng kể cho sự cởi mở tài chính
cao ( nó cũng quan trọng bỡi vì cho thấy CSTK công khai tài chính minh bạch) ; (3)
Tự do hóa tài chính cao làm tăng tác động của Thâm hụt ngân sách lên lãi suất ; (4)
Độ sâu tài chính thấp hơn làm tăng tác động của thâm hụt ngân sách lên lãi suất.
Kết luận: Tác giả nghiên cứu thâm hụt ngân sách ảnh hưởng đến lãi suất ở
nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, áp dụng hệ thống GMM đã đưa đến kết quả sau: có
một tác động rất tích cực của thâm hụt ngân sách lên lãi suất theo thứ tự 26 điểm cơ
bản cho mỗi 1% của GDP. Tuy nhiên, hiệu ứng này có thể thay đổi theo nhóm quốc
gia và khoảng thời gian. Tác động của thâm hụt ngân sách lên lãi suất phụ thuộc
vào các điều kiện tương tác có ý nghĩa quan trọng chỉ trong một số điều kiện sau:
khi thâm hụt ngân sách cao, chủ yếu là tài chính trong nước, chúng tương tác với nợ
trong nước cao và độ sâu tài chính thấp, có hiệu lực hơn khi lãi suất được tự do hóa
Emanuele Baldacci and Manmohan S.Kumar (2010) nghiên cứu thâm hụt
ngân sách, nợ công và lãi suất dài hạn thông qua mô hình hồi qui với số liệu thu
thập của 31 nền kinh tế thị trường mới nổi và tiên tiến (phát triển) gồm các biến sau:
lãi suất danh nghĩa nước i thời kỳ t; lãi suất danh nghĩa ngắn hạn, tỷ lệ lạm phát, cán
cân tài khóa tính theo GDP, nợ công, dữ liệu đầu ra tăng trưởng, với mô hình cụ thể
sau:
16
Tác giả đã phân tích các yếu tố nợ công, cán cân ngân sách ban đầu, cán cân
ngân sách sơ cấp tác động đến lãi suất trái phiếu Chính phủ cho thấy rằng có sự
tương quan thống kê và hồi qui đưa ra một tác động ngược của cán cân ngân sách
lên lãi suất và mối tương quan có vẽ tăng cường hơn từ nữa thập niên 1990. Tác giả
tiến hành kiểm định mối quan hệ trên bằng mô hình ước lượng hồi qui với điều kiện
tài khóa ban đầu, đặc trưng quốc gia, thị trường trái phiếu quốc tế, thông qua các
kênh truyền dẫn ảnh hưởng đến mối quan hệ thâm hụt ngân sách, nợ công tác động
đến lãi suất dài hạn như tiết kiệm quốc gia, kỳ vọng lãi suất, kỳ vọng lạm phát. Khi
thâm hụt ngân sách tăng làm giảm tiết kiệm, tăng tổng cầu dẫn đến tăng cung nợ
chính phủ và làm cho lãi suất tăng; Đường cong lãi suất dốc lên thể hiện dự báo cho
thâm hụt tài khóa tăng và lãi suất dài hạn có xu hướng tăng nhiều hơn lãi suất ngắn
hạn.; Kỳ vọng lạm phát khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa tăng, và có thêm
hai trường hợp ngoại lệ dân chúng tăng tiết kiệm khi thâm hụt tăng; luồng vốn từ
nước ngoài đổ vào trong nước nhiều hơn khi thâm hụt tăng. Kết quả cho thấy rằng
1% của sự gia tăng thâm hụt tài khóa làm cho lãi suất đáo hạn của trái phiếu chính
phủ tăng 17 điểm cơ bản. Khi thêm biến giả phản ánh đặc trưng của các quốc gia (
THNS ban đầu lớn hơn 2 % GDP , tỷ lệ nợ ban đầu lớn hơn 80% GDP, THNS lớn
hơn 2%, chỉ số VIX index, lãi suất của FED > 4%, nhu cầu tài trợ trung bình nợ
nước ngoài > 20% GDP, sự lão hóa dân số, độ bất ổn tài chính ) nhưng chỉ có các
biến là tỷ lệ nợ ban đầu lớn hơn 80% GDP, THNS lớn hơn 2%, sự lão hóa dân số,
độ bất ổn tài chính là tác động tích cực lên lãi suất. Kết quả cho thấy là tác động của
sự suy giảm tài khóa lên lãi suất dài hạn là đáng kể nhưng phi tuyến. Đặt biệt, tác
động tổng thể của thâm hụt ngân sách cao hơn lãi suất có thể lớn hơn ở các nước có
đặc điểm sau:(1) Điều kiện tài chính ban đầu yếu; (2) Thể chế không đầy đủ và yếu;
(3) Tiết kiệm trong nước thấp và giới hạn kết nối với vốn toàn cầu.
William G. Gale và Peter R.Orszag (2003), từ những ảnh hưởng của chính
sách tài khóa đối với nền kinh tế đã nhận được sự quan tâm đáng kể trong giới học
thuật và nghiên cứu vòng tròn. Tác giả đã nghiên cứu tác động của thâm hụt ngân
17
18 Leanne J.Ussher (1998): Nghiên cứu thâm hụt ngân sách có làm tăng lãi suất
và lấn áp đầu tư tư nhân không ?. Bài viết này là tập trung vào hiệu ứng “thuần túy
“ THNS lên lãi suất. Khi thâm thụt có thể tăng từ sự gia tăng chi tiêu chính phủ
hoặc
giảm thuế.
Nó được xem xét trong một số trường phái tư tưởng của Keynes
và Ricardan( Reh). Với phương trình hồi qui gồm các biến lãi suất mong đợi (R ),
thâm hụt ngân sách thực (D) , chi tiêu chính phủ (G) , cung tiền thực (M ) , theo lý
thuyết Keynes kỳ vọng f
G
> 0. f
D
> 0, f
M
< 0, còn theo Reh kỳ vọng ít nhất f
D
= 0.
+ Theo lý thuyết Keynes chính phủ chi tiêu kích thích nền kinh tế dẫn đến
thất nghiệp giảm và làm cho hộ gia đình cảm thấy giàu có kết quả nhu cầu tiêu dùng
tăng lên dẫn đến lãi suất tăng làm đầu tư giảm. Được gọi ‘ lấn áp chi tiêu”.
+
Nếu thâm hụt tài trợ từ thuế sau đó lãi suất tăng lên nhưng nhỏ hơn dữ liệu
đầu ra; nếu tài trợ bằng tiền thì không có tăng lãi suất vì cung tiền tăng đồng thời
với nhu cầu tiền; nếu đó là tài trợ thâm hụt thì nợ công tăng bao gồm hệ số cung
tiền tăng hơn tính thanh khoản của tiền và cổ phiếu dẫn đến lãi suất phải tăng lên.
Nếu có một tác động lớn mà ở đó các nhân tố cảm thấy tốt như kết quả nắm giữ trái
phiếu chính phủ sau đó có thể làm tăng trong tiêu thụ một lần nữa làm tăng dữ liệu
lập của (Reh). Nghiên cứu đã tìm ra không có sự tác động của THNS với tiết kiệm,
tiêu dùng, dữ liệu đầu ra, lạm phát, tỷ giá hối đối và lãi suất.
Bộ tài chính Mỹ (1984): Cung cấp một bảng tóm tắc các nghiên cứu thực
nghiệm và kết quả quả riêng của họ cho thấy thâm hụt ngân sách không ảnh hưởng
lãi suất ngắn hạn cũng không ảnh hưởng lãi suất dài hạn, tức là thâm hụt ngân sách
có tác động không đáng kể vào việc nâng cao lãi suất thực do đó hoạt động tài chính
chính phủ thì không liên quan .
Cebula, R.J (1990) nghiên cứu về thâm hụt ngân sách và dự kiến lãi suất
thực dài hạn ở Mỹ: thử nghiệm mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và một loạt
các lãi suất dài hạn (lãi suất trung bình trái phiếu của Moody's Aaa & Baa, lãi suất
trái phiếu 10 năm và trái phiếu trung ương ). Tác giả điều chỉnh lạm phát kỳ vọng
để có được một tỷ lệ lãi suất thực dự kiến (kỳ vọng). Bài viết sử dụng phương pháp
bình phương bé nhất hai giai đoạn (TSLS), để loại bỏ THNS có tính chu kỳ. Đã
phát hiện THNS có ý nghĩa tích cực liên kết với lãi suất dài hạn.
20 Zahid (1988), hồi qui lãi suất trái phiếu 3 tháng trên sự lựa chọn đo lường
của thâm hụt (đặt biệt là sự vượt quá nhu cầu cho các quỹ) một giá trị xu hướng
GDP và cung tiền. Sử dụng lãi suất danh nghĩa và sử dụng thâm hụt đơn giản, tác
giả tìm thấy rằng mối quan hệ giữa THNS và lãi suất thì tiêu cực đáng kể. Khi tác
giả sử dụng tỷ lệ lãi suất thực và thành phần không chu kỳ của thâm hụt (gọi là, tác
giả điều chỉnh bằng cách sử dụng một chỉ số chu kỳ là – tỷ số GDP thực đến giá trị
xu hướng, Zahid tìm ra có một ý nghĩa tích cực mối quan hệ giữa thâm hụt và lãi
suất.
Raynold (1994), tranh luận rằng lý do tại sao bài nghiên cứu của tác giả có
mối quan hệ nghèo giữa THNS và lãi suất là bỡi vì các xét nghiệm bỏ qua hạn chế
tính thanh khoản. Tác giả chạy VAR sử dụng bằng cách sử dụng các biến cũ lãi suất
ngắn hạn và lãi suất dài hạn của công ty, nhưng bổ sung thêm hai biến (giá trị nợ
thực của công ty phải trả, giá trị thực của tiền gửi ngân hàng). Tác giả đã tìm thấy
THNS tác động lên lãi suất ở thị trường mới nổi và tiên tiến một cách tích
cực của THNS lên lãi suất. Tuy nhiên, hiệu ứng có thể thay đổi tùy thuộc vào nhóm
nước và khoảng thời gian. Tác động của THNS tích cực lên lãi suất phụ thuộc vào
các điều kiện sau: THNS cao, khi THNS được tài trợ từ tài chính trong nước, độ sâu
tài chính thấp, có hiệu lực hơn khi lãi suất được tự do hóa. Đặc biệt tổng thể THNS
cao hơn lãi suất có thể lớn hơn ở những nước có tài chính ban đầu yếu ( thể chế
không đầy đủ, tiết kiệm trong nước thấp, giới hạn kết nối với vốn toàn cầu ). THNS
tác động không tích cực lên lãi suất khi THNS được tài trợ từ tài chính nước ngoài.
sự tác động của THNS lên lãi suất ở những quốc gia là khác nhau tùy thuộc vào sự
cởi mở tài chính của chính phủ, tự do hóa lãi suất, độ sâu tài chính.
THNS làm giảm tiết kiệm quốc gia, tăng tổng cầu dẫn đến tăng cung nợ
chính phủ làm tăng lãi suất. Để tăng cường mối quan hệ sự gia tăng THNS làm tăng
lãi suất khi tỷ nợ ban đầu cao, THNS lớn, sự già hóa dân số, độ bất ổn tài chính thì
càng làm tăng lãi suất.
THNS và lãi suất có mối quan hệ nhân quả phụ thuộc vào chu kỳ dữ liệu cho
thấy mối quan hệ giữa hai biến THNS và lãi suất, từ THNS đến lãi suất.
Riêng trường hợp thực nghiệm đối với nền kinh tế của Mỹ do Raynold
(1994), Bộ tài chính Mỹ (1984) và Evan (1985 ) nghiên cứu thì kết quả hoàn toàn
khác. Có nghĩa thâm hụt ngân sách tác động tiêu cực lên lãi suất hoặc thâm hụt
ngân sách không tác động đến lãi suất của tác giả Evan (1985)
Từ những nghiên cứu thực nghiệm ở trên cho thấy THNS ở Việt nam về
ngắn hạn có thể làm tăng GDP nhưng về lâu dài thì gây ra bất ổn cho nền kinh tế và
sẽ tác động đến lãi suất khi THNS được tài trợ từ vay trong nước hoặc giảm tiết
kiệm quốc gia.
23
CHƯƠNG II
ĐỊNH LƯỢNG SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT
cao và kéo dài. Theo lý thuyết thâm hụt kép, qua đó cho thấy THNS có thể dẫn đến
sự gia tăng của thâm hụt thương mại. Đó là THNS sẽ làm tăng tổng cầu của khu vực
chính phủ và vì thế làm tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, dẫn đến thâm hụt thương
mại tăng, đồng thời ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư và tiết kiệm của nền kinh tế. Như
vậy, kênh truyền dẫn được chọn đã thật sự tác động đến lãi suất ở Việt Nam, và sự
tác động của những kênh này dưới sự tác động THNS đối với lãi suất ở Việt Nam.
Sẽ được làm rõ trong phần tiếp theo của bài viết bằng phương pháp thống kê mô tả.
2.1.1. Thâm hụt ngân sách và vay nợ trong nước
Để nhận định sự tác động của THNS đối với lãi suất tại Việt Nam qua kênh
truyền dẫn là vay nợ trong nước, chúng tôi tiến hành phân tích cụ thể dựa vào bảng
số liệu sau :
Bảng 2. 1: Tình hình vay nợ trong nước của Việt Nam giai đoạn 2003-2011
ĐVT : Tỷ đồng
Năm
Vay trong nước
Phát hành trái phiếu Số trả nợ gốc Thực vay
2003 22,895 16,568 6,327
200427,450 22,779 4,671
2005 32,420 27,895 4,525