Luận văn thạc sĩ Vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng hệ thống ngân hàng Việt Nam - Pdf 29

1 BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO
TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ
MINH

==================

MAI NHƢ QUỲNH
VẬN DỤNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM
TRONG CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM



MAI NHƢ QUỲNH
VẬN DỤNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM
TRONG CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60 34 0201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tác
giả

Mai Như Quỳnh

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG VÀ MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1
1.1. Tổng quan về khủng hoảng hệ thống ngân hàng: 1
1.1.1. Khái niệm khủng hoảng hệ thống ngân hàng: 1
1.1.2. Nguyên nhân khủng hoảng hệ thống ngân hàng: 2
1.1.2.1. Nguyên nhân liên quan đến các yếu tố vi mô
:
2

2.1.1. Những thành tựu đạt đƣợc: 28
2.1.2. Những mặt hạn còn hạn chế: 28
2.2. Nhận diện các nhân tố tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng Việt
Nam: 30
2.2.1. Tính thanh khoản: 31
2.2.2. Nợ xấu: 32
2.2.3. Tỷ giá: 34
2.2.4. Lãi suất: 35
2.2.5. Lợi ích nhóm và sở hữu chéo giữa các ngân hàng: 35
2.2.6. Năng lực quản trị của các ngân hàng: 37
2.2.7. Cạnh tranh thiếu lành mạnh: 38
2.3. Vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng hệ thống ngân
hàng Việt Nam: 38
2.3.1. Xác định các giai đoạn xảy ra khủng hoảng ngân hàng: 39
2.3.1.1. Cơ sở dữ liệu: 39
2.3.1.2. Xây dựng chỉ số đổ vỡ ngành ngân hàng: 39
2.3.1.3. Kết quả thực nghiệm: 40
2.3.2. Ƣớc lƣợng xác suất xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng bằng phƣơng
pháp probit: 43
2.3.2.1. Lựa chọn các chỉ số cảnh báo khủng hoảng: 43
2.3.2.2. Mô hình hồi quy: 44

2.3.2.3. Kết quả thực nghiệm: 44
2.3.2.4. Vận dụng mô hình hồi quy probit cho mục đích dự báo: 47
2.3.2.5. Hạn chế của mô hình: 48
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 49


3.2.3.5. Phòng ngừa rủi ro thanh khoản: 67
3.2.3.6. Phòng ngừa rủi ro lãi suất: 69
3.2.3.7. Phòng ngừa rủi ro kỳ hạn: 69
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 70
KẾT LUẬN 71

PHẦN PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các giai đoạn đổ vỡ theo mức độ của ngành ngân hàng Ấn Độ
20
Bảng 2.1: Các giai đoạn đổ vỡ theo mức độ của HTNH VN 41
Bảng 2.2: Tổng hợp chỉ số phát triển tài chính của VN 43
Bảng 2.3: Các chỉ số cảnh báo khủng hoảng HTNH VN
43
Bảng 2.4: Kết quả chạy mô hình Probit (01/2001- 05/2012) 44
Bảng 2.5: Giá trị dự báo kỳ vọng của mô hình Probit 46
Bảng 2.6: Xác suất xảy ra khủng hoảng HTNH VN 47 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Các giai đoạn của chỉ số đổ vỡ ngành ngân hàng 16
Biểu đồ 1.2: Chỉ số đổ vỡ ngành ngân hàng Ấn Độ (3/2000-11/2009
)
20

: Tổng sản phẩm quốc nội
7
HTNH
: Hệ thống ngân hàng
8
HoSE
: Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM
9
NH
: Ngân hàng
10
NHNN
: Ngân hàng Nhà nƣớc
11
NHTW
: Ngân hàng Trung ƣơng
12
NHLD
: Ngân hàng liên doanh
13
NPLs
: Nợ xấu
14
IMF
: Quỹ tiền tệ quốc tế
15
TCTD
: Tổ chức tín dụng
16
USD

toàn diện để giúp VN tránh đƣợc các cuộc khủng hoảng ngân hàng trong tƣơng lai.
Xuất phát từ những nhận định trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Vận
dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng hệ thống ngân
hàng Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn này tập trung nghiên cứu những lý thuyết về khủng hoảng tài
chính, tiền tệ cũng nhƣ vận dụng mô hình cảnh báo khủng hoảng ngân hàng. Từ
đó, xây dựng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH VN, dựa trên kết quả đã
nghiên cứu để đƣa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp.
3. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc:
Mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng tài chính (EWS) thế hệ thứ nhất
đƣợc xây dựng và phát triển bởi Giáo sƣ kinh tế Krugman (1979). Cuối những
năm 90 thể kỷ 20, mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng đƣợc nghiên
cứu một cách độc lập, đã có một số công trình nghiên cứu nhƣ sau:
- Demigru – Kun và Detragiache (1998), sử dụng mô hình Logit để giải
thích mối quan hệ giữa các biến giải thích và xác suất xảy ra khủng hoảng HTNH.
Xác suất này đƣợc mô tả bằng véc-tơ của biến giả đối với các biến giải thích với
mẫu thống kê bao gồm các quốc gia có và chƣa có khủng hoảng HTNH.
- Kaminsky và Reinhart (1999), Borio và Lowe (2002), Borio và
Drehmann (2009), đƣa ra mô hình phi tham số để cảnh báo khủng hoảng tiền tệ
và khủng hoảng ngân hàng dựa trên sự phát tín hiệu của các chỉ số đƣợc lựa chọn

với các mức ngƣỡng khác nhau để dự báo khủng hoảng ngân hàng. Các mức
ngƣỡng đƣợc phân chia thành hai vùng: vùng bình thƣờng và vùng nguy hiểm căn
cứ vào xác suất xảy ra khủng hoảng. Đối với mỗi giai đoạn nghiên cứu, nếu nhƣ
kết quả quan sát của một chỉ số vƣợt qua mức ngƣỡng và rơi vào vùng nguy hiểm
thì chỉ số sẽ phát ra tín hiệu cảnh báo.

luận và tham khảo.
- Luận văn sử dụng chủ yếu phƣơng pháp định đính, định lƣợng, thống
kê, so sánh và tổng hợp nhằm làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Đối với nghiên cứu
định lƣợng đƣợc sử dụng trong phƣơng pháp phi tham số và tham số.
6. Câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đƣa ra:
- Mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng nào sẽ phù hợp để áp dụng vào
HTNH VN hiện nay?
- Xác suất HTNH VN rơi vào khủng hoảng là bao nhiêu?
- Các nhân tố kinh tế nào góp phần gây ra khủng hoảng HTNH VN?
7. Bố cục đề tài:
Bố cục Luận văn “Vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng
hoảng HTNH VN” ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Tổng quan về khủng hoảng HTNH và mô hình cảnh báo sớm
khủng hoảng HTNH. Nội dung trình bày là cơ sở lý luận làm căn cứ khoa học
nhằm nghiên cứu/đề xuất mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH.
Chương 2: Vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng
HTNH VN. Phần này nêu lên các nhân tố tác động đến sự ổn định của HTNH VN
cũng nhƣ các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Qua đó, chỉ ra sự cần thiết phải xây
dựng mô hình và vận dụng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH VN.
Chương 3: Đề xuất hoàn thiện mô hình cảnh báo sớm và các biện pháp
phòng ngừa rủi ro HTNH VN. Vận dụng kết quả nghiên cứu ở chƣơng 2 để đƣa ra
các đề xuất hoàn thiện mô hình cảnh báo sớm và các biện pháp phòng ngừa khủng
hoảng HTNH một cách hợp lý, an toàn và hiệu quả cao.
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG VÀ MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG

Theo IMF, 1998
2
1.1.2. Nguyên nhân khủng hoảng hệ thống ngân hàng:
1.1.2.1. Nguyên nhân liên quan đến các yếu tố vi mô
:
Các yếu tố vi mô có thể trở thành những yếu tố quan trọng gây nên sự suy
sụp của HTNH, cụ thể là chất lƣợng của toàn bộ khuôn khổ quy định, thể chế của
đất nƣớc. Qui chế thị trƣờng yếu kém do những yếu tố nhƣ: công bố thông tin hạn
chế, quản trị ngân hàng yếu kém, bảo hiểm tiền gửi quá mức hoặc hệ thống giám
sát yếu kém có thể quyết định tới mức độ lệch lạc của thông tin, chất lƣợng quản lý
ngân hàng nên tạo ra những yếu tố dễ bị tổn thƣơng và cuối cùng là gây nên khủng
hoảng HTNH.
- Bùng nổ cho vay và sụt giá tài sản:
Theo một trƣờng phái kinh tế, khủng hoảng ngân hàng do việc cho vay với
số lƣợng lớn và tài trợ vốn không hiệu quả trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh
doanh. Một cuộc khủng hoảng xảy ra khi “bong bóng” bị nổ. Ba đặc điểm sau của
những cuộc khủng hoảng gần đây đã chứng minh cho quan điểm nói trên: (1) Bùng
nổ cho vay của ngân hàng và giảm giá cổ phiếu thƣờng diễn ra trƣớc khủng hoảng
ngân hàng; (2) Những nƣớc mới nổi có dòng vốn đầu tƣ lớn là những nƣớc mở
rộng khu vực ngân hàng thƣơng mại nhanh nhất; (3) Sự lạc quan quá mức về hiệu
quả của cải cách chính trị tại những nƣớc mới nổi. Quan điểm này, dựa theo giả
thiết rằng, khó phân biệt những khoản tín dụng rủi ro thấp và những khoản tín dụng
rủi ro cao khi nền kinh tế mở rộng quá nhanh, bởi vì ngƣời đi vay thƣờng có lợi
nhuận và tính thanh khoản tạm thời rất cao, thay đổi đột ngột về giá tài sản cố định
và cổ phiếu làm căng thẳng khủng hoảng (tập trung cho các khoản vay quá nhiều)
và giảm giá tài sản đẩy giá trị thị trƣờng của tài sản thế chấp xuống.
Tại Mỹ La Tinh, cũng nhƣ một số nƣớc công nghiệp phát triển nhƣ: Phần

Khi thiếu sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thì hệ thống tài chính dễ bị tổn
thƣơng và sẽ dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động với tƣ cách là trung gian phân phối
nguồn vốn. Khi các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc tế lớn áp dụng các
chiến lƣợc cạnh tranh mới sẽ có thể củng cố năng lực quản lý rủi ro của hệ thống tài
chính. Vì vậy, các thành viên tham gia thị trƣờng hiện tại có điều kiện tiếp cận các
kỹ năng quản lý rủi ro trong các ngân hàng mới. Tuy nhiên, mở cửa hệ thống tài
chính trƣớc môi trƣờng cạnh tranh cũng cần phải có các biện pháp tăng cƣờng năng
lực quản lý rủi ro của những thành viên tham gia thị trƣờng mới.
4
- Năng lực nhận diện và hạn chế rủi ro kém:
Một nhân tố cũng rất quan trọng là khả năng nhận diện, kiểm soát rủi ro và
đƣa ra các quyết định cho vay của HTNH trên cơ sở đánh giá những rủi ro có liên
quan. Ví dụ, khi ngân hàng đƣa ra quyết định cho vay với sự tin cậy về giá trị thế
chấp lớn hơn việc đánh giá cẩn thận về khả năng trả nợ của ngƣời vay, điều này có
thể khiến quyết định cho vay đó sẽ không có chất lƣợng và sự phân bổ nguồn lực
không hiệu quả. Trong trƣờng hợp nghiêm trọng hơn, việc quản lý rủi ro kém còn
dẫn tới sự giảm sút chất lƣợng tài sản và khả năng thanh toán, thậm chí tiềm tàng
nguy cơ bất ổn về tài chính trên diện rộng.
Hậu quả trầm trọng nhất phát sinh khi khả năng kiểm soát rủi ro trong
HTNH yếu kém trƣớc quá trình tự do hóa nhanh chóng của khu vực tài chính và tài
khoản vốn mà không đi kèm với các biện pháp nâng cao năng lực quản lý rủi ro.
Điều này đặc biệt đúng, khi HTNH phát triển từ một môi trƣờng đƣợc bảo hộ, nền
kinh tế bị điều tiết mọi mặt. Khi đó, HTNH không có điều kiện hay nhu cầu phát
triển khả năng nhận diện, giám sát và quản lý rủi ro nữa. Khi không còn sự kiểm
soát nữa, ngân hàng nhanh chóng phải đối mặt với rất nhiều các rủi ro khác. Và nhƣ
thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi tình trạng này có thể và thực tế, nó dẫn tới sự mạo
hiểm và các quyết định cho vay kém chất lƣợng. Rủi ro này càng thêm phần phức

Cơ chế tỷ giá hối đoái có thể ảnh hƣởng tới tính dễ bị tổn thƣơng của các
hoạt động đầu cơ, trong đó giá trị thực của tài sản ngân hàng đã bị suy yếu đƣợc
điều chỉnh lên - xuống và nhiều khả năng ngân hàng trung ƣơng phải thực hiện vai
trò ngƣời cho vay cuối cùng đối với ngân hàng mất khả năng thanh khoản nhƣng
chƣa mất khả năng thanh toán. Đây là trƣờng hợp của một số nƣớc Châu Á trong
hai năm 1997 - 1998, khi dòng vốn lớn bị thu hồi gây áp lực lớn lên tỷ giá, dẫn đến
tình trạng buộc phải thả nổi tỷ giá và một số đồng tiền bị sụt giảm nặng nề. Các
doanh nghiệp và ngân hàng không bảo hiểm khoản vay ngoại tệ phải đối mặt với
tình trạng thua lỗ lớn. Sự việc này diễn ra cùng với chất lƣợng tài sản bị suy giảm,
dự trữ vốn mỏng trong HTNH, nợ ngoại tệ cao tạo ra áp lực lớn lên khả năng thanh
toán của ngân hàng dẫn đến khủng hoảng các ngân hàng và hệ thống tài chính.
- Các quy luật thị trường không hữu hiệu:
Khi các quy luật thị trƣờng không đƣợc vận hành một cách hữu hiệu, có
khả năng dẫn đến năng lực kiểm soát rủi ro yếu kém, cho vay bất cẩn. Ví dụ, việc
6
nhà nƣớc sở hữu ngân hàng có những biện pháp ngầm hay công khai đảm bảo cho
ngành ngân hàng, có thể làm suy giảm khả năng quản lý rủi ro. Hậu quả là các ngân
hàng quản lý kém với chất lƣợng tài sản không đảm bảo đã không hoạt động theo
điều tiết của các quy tắc phù hợp với thị trƣờng nhƣ chi phí cho vay cao hơn hay
những trở ngại trong việc vay vốn. Trong một số trƣờng hợp, nếu có các biện pháp
đảm bảo hay sự chắc chắn rằng nhà nƣớc không thể để ngân hàng sụp đổ sẽ dẫn tới
khả năng phát sinh các hành vi tiêu cực trong việc cho vay và càng làm giảm giá trị
tài sản.
- Việc giám sát không hiệu quả ngành tài chính:
Một yếu tố quan trọng làm giảm giảm chất lƣợng của các quyết định cho
vay là việc giám sát không hữu hiệu của ngành tài chính. Nhƣ đã đề cập, đây là
trƣờng hợp xảy ra khi sự tự do hóa nhanh chóng trong khu vực tài chính và tài

cho phép ngân hàng có thêm nguồn để điều chỉnh phù hợp với nhu cầu vay tăng khi
nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng.
Thêm nữa, nhà quản lý tín dụng trong môi trƣờng tài chính kiểm soát trƣớc
kia có thể không có những kỹ năng chuyên môn cao để đánh giá những yếu tố mới
của rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng. Đồng thời, việc gia nhập của những đối thủ
cạnh tranh (trong và ngoài nƣớc) có thể tăng sức ép buộc ngân hàng chấp nhận các
hoạt động rủi ro cao hơn. Ngoài ra, việc ngân hàng dễ dàng tiếp cận thị trƣờng tài
chính thế giới có thể làm cho ngân hàng đầu tƣ vào những hoạt động rủi ro hơn.
Tuy nhiên, nếu cơ sở pháp lý về giám sát đƣợc tăng cƣờng trƣớc khi tự do
hóa thị trƣờng tài chính, quản lý ngân hàng có thể có đủ năng lực hoặc đƣợc đào
tạo để kiểm soát và đánh giá đầy đủ những hoạt động mới này. Có thể kể ra đây
một số cuộc khủng hoảng ngân hàng gắn liền với việc chƣa chuẩn bị đầy đủ cho tự
do hóa tài chính là khủng hoảng ngân hàng tại Brazil, Chile, Mexico.
- Yếu kém về chế độ kế toán, cơ chế thông tin và khuôn khổ pháp lý:
Tại các quốc gia mà hệ thống kế toán, cơ chế công khai thông tin và khuôn
khổ pháp lý gây trở ngại cho việc thực hiện kỷ cƣơng thị trƣờng và thực thi hoạt
động giám sát hiệu quả sẽ ảnh hƣởng bất lợi đến hoạt động cũng nhƣ gây tổn hại lợi
nhuận của ngân hàng. Trong môi trƣờng nhƣ vậy, các nhà đầu tƣ tƣ nhân hoặc
thanh tra viên ngân hàng sẽ kiểm soát và áp dụng kỷ cƣơng bằng những thông tin
thiếu chính xác. Tại nhiều quốc gia, những quy định về phân loại tài sản ngân hàng
8
(chẳng hạn các khoản nợ chậm trả hoặc nợ xấu), chƣa chặt chẽ để ngăn ngừa ngân
hàng không chuyển nợ xấu thành những khoản nợ đạt chất lƣợng. Khi việc phân
loại nợ chỉ phụ thuộc vào tình hình trả nợ (thanh toán) chứ không dựa vào việc
đánh giá uy tín tín dụng của ngƣời cho vay và giá trị thị trƣờng của tài sản thế chấp,
sẽ dẫn tới tình trạng ngân hàng và ngƣời vay thông đồng với nhau để che đậy tổn
thất bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ cơ cấu lại khoản vay chẳng hạn. Nếu

là khủng hoảng HTNH cho VN là rất cấp thiết:
Thứ nhất, sự bất ổn của cả HTNH sẽ gây ra tổn thất rất lớn cho các nƣớc
xảy ra khủng hoảng cũng nhƣ các nƣớc liên đới bị ảnh hƣởng. Kể từ năm 1970, đã
có hơn 100 cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra ở 93 nƣớc (Caprio và Honohan,
2001). Một nửa trong số đó xảy ra ở các nƣớc đang phát triển, chi phí từ khu vực
công để giải quyết khủng hoảng đã lên đến 10% hoặc cao hơn so với GDP của các
quốc gia chịu khủng hoảng. Ở VN hiện nay, tuy chƣa xảy ra một cuộc khủng hoảng
ngân hàng chính thức nhƣng việc luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro đã khiến
HTNH nƣớc ta luôn ở trong trạng thái “không an toàn” và vấn đề tái cấu trúc toàn
bộ hệ thống đã trở nên rất đáng quan tâm.
Thứ hai, nếu chỉ căn cứ vào những chỉ số thị trƣờng truyền thống về tiền tệ
và những rủi ro mặc định, thƣờng sẽ không đƣa ra đƣợc nhiều tín hiệu báo trƣớc về
một cuộc khủng hoảng tiềm ẩn. Đặc biệt, việc dự báo những yếu kém ở từng ngân
hàng tại các nền kinh tế mới nổi cũng có những hạn chế do tính chất chƣa hoàn
thiện của các chuẩn mực kế toán và hệ thống báo cáo, việc phân loại các khoản nợ
xấu không chặt chẽ, các quy định không hợp lý về các khoản dự phòng tín dụng,
các hoạt động giám sát theo luật không đƣợc thực thi hiệu quả, thị trƣờng vốn
không có tính thanh khoản và phát triển thì sẽ rất khó khăn trong việc xác định giá
trị của ngân hàng nhằm tách biệt với giá trị theo sổ sách.
Thứ ba, mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH, nếu hoạt động tốt, sẽ
giúp Chính phủ đƣa ra đƣợc những chính sách kịp thời và đúng đắn, góp phần hạn
chế khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng.
Tóm lại, có thể thấy việc xây dựng một mô hình hoạt động hiệu quả trong
việc cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH VN là vô cùng cần thiết.
1.1.4. Tác động của khủng hoảng hệ thống ngân hàng đến nền kinh tế:
Khi xảy ra khủng hoảng, HTNH sẽ bị tác động một cách trực tiếp và mạnh
10

2
Theo nghiên cứu của Haugh, D.,P. Ollivaud & D.Turner (2009) về tác động của khủng hoảng ngân hàng đối
với các nƣớc OCED
11
ngân hàng, bảo hiểm cho các khoản tiền gửi để hạn chế việc rút tiền ồ ạt, hoặc bơm
tiền vào các ngân hàng có nguy cơ sụp đổ nhằm cứu các ngân hàng này trƣớc hiện
tƣợng rút tiền hàng loạt, ngăn chặn phản ứng dây chuyền, hạn chế tối đa những
thiệt hại của cuộc khủng hoảng. Tình huống này, buộc các NHNN phải áp dụng
chính sách tiền tệ nới lỏng mà mục tiêu không phải kích cầu. Nói cách khác mục
đích của chính sách tiền tệ, tài khóa đã bị “bóp méo”.
1.1.4.4. Tình trạng thất nghiệp và cơ cấu lao động của quốc gia:
Khủng hoảng ngân hàng làm tăng nguy cơ lạm phát, thất nghiệp và ảnh
hƣởng cơ cấu lao động của quốc gia. Nếu khủng hoảng xảy ra do việc rút vốn ồ ạt
của ngƣời gửi tiền thì HTNH sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt tiền trầm trọng. NHNN,
do đó sẽ có thể phải bơm tiền vào hệ thống để phục vụ và duy trì hoạt động của các
ngân hàng. Việc cung tiền tăng cao sẽ tạo áp lực gây ra lạm phát, giảm sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Từ đó, nền kinh tế cũng phải đối mặt với những hậu quả kế
tiếp nhƣ thất nghiệp, cơ cấu lao động quốc gia bị ảnh hƣởng.
1.1.5. Các phƣơng pháp dự báo sớm khủng hoảng hệ thống ngân hàng:
1.1.5.1. Phƣơng pháp cảnh báo sớm phi tham số:
Theo kinh nghiệm của Goldstein, Kaminsky và Reinhart (2000), việc xây
dựng hệ thống cảnh báo phải lƣu ý những điểm sau:
- Việc tìm kiếm các yếu tố hệ thống trong nguồn gốc gây nên khủng hoảng
có nghĩa là xem xét các cuộc khủng hoảng nổi bật gần đây và khái quát hóa. Nếu
không sẽ có nhiều rủi ro vì có quá nhiều lý do giải thích tiềm tàng để phân biệt giữa
các nhân tố quan trọng và nhân tố kém quan trọng hoặc các vấn đề đƣợc khái quát
hóa không nhất thiết đại diện cho các trƣờng hợp khác.

khủng hoảng ngân hàng. Những sự kiện này thƣờng bao gồm: Bắt buộc phải đóng
cửa, sáp nhập, hoặc sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động của các tổ chức
tài chính; Rút tiền ồ ạt khỏi HTNH; Mở rộng các chƣơng trình trợ giúp trên quy mô
lớn của chính phủ cho khu vực ngân hàng.
- Một phƣơng pháp khác là dùng các dùng các chỉ số số học nhƣ nợ xấu,
chi phí khắc phục ngân hàng theo các tiêu chuẩn đã đƣợc xác định. Các nghiên cứu
chƣa đạt đƣợc sự đồng thuận về mức chuẩn của ngững ngƣỡng này. Ví dụ, Sheng
(1996) dùng mức ngƣỡng 15% của NPLs để xác định khủng hoảng ngân hàng.
Ngƣợc lại, Demigru và Detragiache (1997) định nghĩa khủng hoảng ngân hàng dựa
13
trên các cơ sở tiêu chí tỷ lệ NPLs vƣợt quá 10% hoặc chi phí cứu trợ ở mức ít nhất
2% GDP.
Lựa chọn các chỉ số dự báo: Các chỉ số dự báo để dự đoán các cuộc khủng
hoảng thƣờng đƣợc chọn dựa trên các quan điểm kinh tế và sự sẵn có của số liệu.
Qua các nghiên cứu thực nghiệm, cho thấy các chỉ số này hầu hết là các chỉ số cơ
bản về vĩ mô nhƣ: Tài khoản vốn, tài khoản vãng lai, quan hệ quốc tế, tự do hoá tài
chính, các vấn đề khác về tài chính, tài khoá, thể chế/ cơ cấu và vấn đề chính trị…
Các chỉ số về dự trữ ngoại hối, tỷ giá thực, tăng trƣởng tín dụng, tín dụng cho khu
vực công, lạm phát trong nƣớc đƣợc đa số các nghiên cứu cho là những chỉ số hữu
ích trong dự báo khủng hoảng tiền tệ cũng nhƣ khủng hoảng HTNH.
Xác định các ngƣỡng giá trị cho các chỉ số dự báo khủng hoảng: Nghiên
cứu của Kamisky và Reinahart (1999) đã đƣa ra cách tiếp cận vấn đề này theo tín
hiệu, hay chính là phƣơng pháp phi tham số. Giả thiết cơ bản của cách tiếp cận tín
hiệu là nền kinh tế phản ứng khác nhau về sự kiện khủng hoảng tài chính nói chung
và khủng hoảng ngân hàng nói riêng. Một tín hiệu cảnh báo phát ra khi giá trị của
các chỉ số vƣợt ra khỏi những diễn biến bình thƣờng của nó. Một chỉ số đƣa ra một
tín hiệu và đƣợc gọi là tín hiệu tốt nếu khủng hoảng xảy ra sau đó trong một khoảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status