Luận văn: PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM doc - Pdf 15

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM LÊ XUÂN HIỀN

PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAMChuyên ngành : Kinh tế Tài chính Ngân hàng
Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người Hướng Dẫn Khoa Học
GS.TS Dương Thị Bình Minh

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3 U
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG, CHỐNG RỬA
TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 6

kê của Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), hàng năm số tiền được bọn tội phạm tẩy rửa
khoảng 400-500 tỷ USD, trong đó khoảng 60-70% là tiền mặt. Một trong những
thủ đoạn rửa tiền phổ biến là thông qua hệ thống ngân hàng, điều đó có nghĩa là
những quốc gia có hệ thống tài chính ngân hàng sơ khai, lỏng lẻo luôn là điểm đến
tiềm năng của bọn tội phạm rửa tiền. Tác hại của việc rửa tiền không chỉ làm mất
sự kiểm soát của các chính sách kinh tế, mà còn làm suy yếu khu vực kinh tế tư
nhân, lũng đoạn hệ thống tài chính, bóp méo hoạt động ngoại thương, ngăn cản
hội nhập quốc tế …. Chính tác hại to lớn của việc rửa tiền như trên, rất nhiều các
tổ chức chính phủ và phi chính phủ được phân công thực hiện công tác phòng,
chống rửa tiền như: Ngân Hàng Thế Giới (WB), Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ủy
Ban Giám Sát Ngân Hàng Basel, Lực Lượng Đặc Nhiệm Tài Chính (FATF),
v.v… Ở các nước phát triển như : Mỹ, Anh, Nga, Úc, Pháp, … Luật Phòng, chống
rửa tiền đã được hình thành và triển khai một cách hiệu qủa.
Tại Việt Nam, vấn đề phòng, chống rửa tiền là một trong những vấn đề
tương đối mới mẻ. Trước đây phòng, chống rửa tiền được đề cập đầu tiên thông
qua Công Ước Viên (Công ước của Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp
pháp ma túy và chất hướng thần năm 1988) mà Việt Nam tham gia. Và sau này
là Nghị Định số 74/2005/NĐ-CP ngày 7 tháng 6 năm 2005 của Chính Phủ về
phòng, chống rửa tiền.
Nghị định 74/2005/NĐ-CP được ban hành năm 2005, tạo cơ sở pháp lý
ban đầu cho công tác phòng, chống rửa tiền. Đến nay, nghị định này đã ban hành
được hơn 5 năm, tuy nhiên hiệu quả của việc ngăn chặn rửa tiền nói chung và
rửa tiền qua hệ thống ngân hàng nói riêng còn rất hạn chế. Trong thời gian tới
nếu chúng ta không có những giải pháp đúng đắn, Việt Nam sẽ trở thành điểm
4

đến của tội phạm rửa tiền, mà ngân hàng được xem như là công cụ để thực hiện
hành vi đó. Vì vậy, vấn đề phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng ở Việt
Nam đang được đặt ra như một đòi hỏi bức xúc trong công tác quản lý hiện nay.
Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống

ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt
Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Việt Nam.
6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG, CHỐNG RỬA
TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG.

1.1. Tổng quan về rửa tiền.
1.1.1. Khái niệm về rửa tiền.
Ở Châu Mỹ Latinh vào khoảng năm 1935, đã xuất hiện loại tội phạm mới,
mà theo tiếng Tây Ban Nha gọi là “blanqueo” được dịch ra tiếng anh là
“whitening” (tẩy trắng). Đây là hành vi nhằm chuyển tiền và tài sản bất hợp pháp
thành tiền và tài sản hợp pháp. Loại tội phạm này thường xảy ra trong các lĩnh
vực ngân hàng, thuế, hải quan và được các nhà làm luật gọi là “tẩy trắng các
đồng tiền bẩn thỉu”
Về sau loại tội phạm này đã xuất hiện ở nhiều nước và được gọi bằng
nhiều tên gọi khác nhau trong các ngôn ngữ như: “riciclaggio” (tiếng Italia, dịch
ra là “tái chế lại”), “blanchiment de fonds” (tiếng Pháp, dịch ra là “tẩy trắng
đồng tiền”). Đến năm 1970, loại tội phạm này xuất hiện tại Mỹ và được gọi là
“money laundering” (tẩy rửa tiền).
Có thể nói, định nghĩa có tính pháp lý đầu tiên về rửa tiền được nhắc đến
trong một văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế là Công Ước Viên năm 1988.
Theo đó, rửa tiền là “hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài
sản đó có được từ buôn bán ma tuý hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội,
với mục đích che dấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người nào đó liên quan đến tội
phạm hoặc hành vi phạm tội để né tránh trách nhiệm pháp lý từ các hành vi của
mình; hành vi che dấu hoặc ngụy trang hình thái tự nhiên, nguồn gốc, địa điểm,

trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do phạm tội
mà có; (ii) thu nhận, chiếm dữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận
chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có; (iii)
đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm

1
UN (1988), Convention Against Illicit Traffic In Narcotic Drugs And Psychotropic Substances, p.p 3.
2
UN (2000), Convention Against Transnational Organized Crime, Palermo.
3
FATF, What is Money Laundering?, http://www.fatf-gafi.org/document/29/0,3343,en_32250379_32235720
_33659613_1_1_1_1,00.html
8

cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất
thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do
phạm tội mà có”.
Tuy nhiên theo tác giả thì “rửa tiền là hành vi nhằm chuyển những tài sản
dễ bị nhận biết là có nguồn gốc bất hợp pháp thành những tài sản khó bị nhận
biết là có nguồn gốc bất hợp pháp”
1.1.2. Tác động của việc rửa tiền đối với nền kinh tế xã hội.
Rửa tiền gây ra những hậu quả kinh tế và xã hội nghiêm trọng cho các
nước đang phát triển đặc biệt là những nước có hệ thống tài chính yếu kém. Mặc
dù không thể lượng hóa hết tác động của việc rửa tiền, nhưng chúng ta có thể liệt
kê tương đối đầy đủ những tác động của rửa tiền đối với nền kinh tế như sau:
Làm mất sự kiểm soát các chính sách kinh tế
Tại một số nước mới nổi hay đang trong quá trình chuyển đổi, những
khoản tiền bất hợp pháp này làm cho ngân khố của chính phủ nhỏ lại do bị thất
thoát từ nguồn thu thuế. Kết quả là chính phủ rơi vào tình trạng mất kiểm soát
các chính sách kinh tế.

ra một số cơn sụt giá giả tạo, điều đó dẫn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp
sản xuất trong nước bị giảm sút.
Ngăn cản hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập, nhiều vấn đề đã trở thành thách thức toàn cầu
như bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, phòng, chống dịch bệnh, chống
khủng bố, chống tội phạm có tổ chức, bảo vệ sở hữu trí tuệ, trong đó có đấu
tranh phòng, chống rửa tiền luôn được quan tâm hàng đầu. Tiêu chí để đánh giá
một quốc gia tích cực đấu tranh chống rửa tiền là quốc gia đó phải: (i) Công

4
TS. Nguyễn Trọng Hoài, Nguyễn Hoài Bảo (2005), “Rửa tiền trở ngại cho phát triển kinh tế”, Tạp chí kinh tế phát
triển, (số 186), TPHCM.

10

nhận và tham gia ký kết các công ước quốc tế về phòng, chống rửa tiền; (ii) Có
hệ thống pháp luật về phòng, chống rửa tiền được xây dựng trên cơ sở 40+9
khuyến nghị của FATF; (iii) Có tổ chức chuyên trách về đấu tranh phòng, chống
rửa tiền và tổ chức tốt cuộc đấu tranh này. Nếu không có những điều kiện trên và
để cho hoạt động rửa tiền phát triển thì quốc gia đó không phải là một đối tác tin
cậy và không thể tham gia thị trường tài chính thế giới một cách toàn diện.
Bên cạnh những tác động tiêu cực, thì rửa tiền cũng có những tác động
tích cực đối với nền kinh tế như: cơ sở vật chất ở nước nhận đầu tư được cải
thiện, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn, thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn …
Tóm lại, những tích cực của rửa tiền mang lại là nhất thời, nhưng các tác
hại của nó gây ra là lâu dài. Do vậy, hoạt động chống tội phạm rửa tiền là một
hoạt động rất cần nhận được sự quan tâm của các nước trên thế giới.
1.1.3. Nguyên nhân và điều kiện phát triển nạn rửa tiền trên thế giới.
Nhu cầu hợp pháp hóa các tài sản bất hợp pháp.
Theo các chuyên gia IMF, nhu cầu tẩy rửa tiền hàng năm trên thế giới

loại hình dịch vụ tài chính với độ phức tạp cũng tăng lên. Dĩ nhiên, càng nhiều
loại hình dịch vụ tài chính thì càng nhiều cơ hội để chuyển tiền phi pháp.
Cạnh tranh thu hút vốn ngày càng gia tăng giữa các ngân hàng. Đây là yếu
tố mà bọn rửa tiền rất quan tâm, vì chúng biết rằng sớm muộn gì cũng có ngân
hàng sẵn sàng nhận tiền của chúng mà không cần biết nguồn tiền ấy có từ đâu.
Tác động của cuộc cách mạng thông tin.
Ở nhiều nước trên thế giới, các ngân hàng thương mại đã áp dụng những
tiến bộ của công nghệ thông tin sớm và nhanh nhất. Ngày nay, hầu hết dịch vụ
tài chính đều có thể thực hiện trong nháy mắt từ bất cứ nơi nào trên thế giới. Phí
giao dịch cũng hạ thấp: phí ngân hàng có thể được giảm tới 40% khi khách hàng
giao dịch qua fax thay vì đích thân đến ngân hàng, và giảm tới 98% khi dịch vụ
12

ấy được thực hiện qua internet. Với những thành quả này đã được bọn tội phạm
rửa tiền lợi dụng triệt để. Trong khi đó, các cơ quan công quyền, đặc biệt là ngân
hàng trung ương tỏ ra chậm chạp hơn nhiều, nhất là khi thực hiện sự phối hợp
với các ngân hàng thương mại hay với các nước khác.
Do vậy, để đảm bảo cho các nền kinh tế trên thế giới được phát triển một
cách bền vững, công tác phòng, chống rửa tiền phải đặt ra ở tất cả các nước trên
thế giới, không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển,
thông qua việc xây dựng luật phòng, chống rửa tiền và các văn bản quy phạm
pháp luật hướng tới kiểm soát chặt chẽ, hạn chế những điều kiện như trên. Qua
đó đẩy lùi nạn rửa tiền.
1.1.4. Quy trình và các phương thức rửa tiền.
1.1.4.1. Quy trình rửa tiền.
Về mặt quy trình, rửa tiền được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: đưa tiền bất hợp pháp vào hệ thống kinh tế tài chính, gọt tắt
là “gài đặt”, “gửi tiền”. Giai đoạn này được coi là khó khăn nhất đối với bọn tội
phạm, vì tiền và tài sản bất hợp pháp đang được các cơ quan điều tra theo dõi.
Hơn thế nữa, nhà nước thường đặt ra nhiều quy chế để đón lõng bọn tội phạm

Theo nội dung hoạt động, rửa tiền biểu hiện theo một số phương thức
như:
Rửa tiền thông qua đầu tư nước ngoài.
Thời gian qua, pháp luật đầu tư nước ngoài của những nước đang phát
triển được xây dựng và thường được bổ sung, sửa đổi theo hướng ngày càng
thông thoáng, thuận lợi cho nhà đầu tư. Thậm chí độ thông thoáng đến mức
người ta không cần quan tâm đến nguồn gốc vốn đầu tư. “Tiền sạch”, “tiền bẩn”
đều được chấp nhận thông qua hoạt động đầu tư. Đây là mảnh đất màu mỡ để
14

rửa tiền. Về phía bọn tội phạm, hiệu qủa đầu tư lại không phải là mục đích và lỗ
lãi không quan trọng nên hoạt động đầu tư chỉ được xem như là một công cụ rửa
tiền. Chúng đưa tiền vào nước các nước đang phát triển để mua bất động sản,
mua lại nhà máy, công ty phá sản, thành lập các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài mới … lợi nhuận sau đầu tư được chuyển đến các địa chỉ mong
muốn đã có bề ngoài hợp pháp.
Với thủ đoạn rửa tiền thông qua đầu tư nước ngoài, các tổ chức tội phạm
đã hoàn tất 3 công đoạn của quá trình rửa tiền. Duy trì các kết quả đầu tư càng
lâu dài thì bóng dáng của đồng vốn bất hợp pháp càng phai mờ.
Rửa tiền thông qua các công ty bảo hiểm.
Theo đó, bọn tội phạm dùng tiền có nguồn gốc bất hợp pháp mua bảo
hiểm nhân thọ của các công ty bảo hiểm. Khoản tiền này được nằm trong tài
khoản của công ty bảo hiểm một thời gian nhất định. Tiền có nguồn gốc bất hợp
pháp không được sử dụng trong thời gian dài cũng đã tạo ra cho nó một điều
kiện an toàn nhất định. Sau đó, kẻ tẩy rửa sẽ viện một lý do nào đó để yêu cầu
rút tiền trước thời hạn hoặc dùng giá trị của hợp đồng bảo hiểm để đảm bảo chi
trả cho một nhu cầu giao dịch nào đó như mua bất động sản.
Trên thực tế bọn tội phạm còn biến hóa để nó trở nên rối rắm hơn nhiều.
Trong trường hợp khi yêu cầu công ty bảo hiểm rút tiền, chúng không rút tiền
cho chính bản thân mình mà sẽ chỉ định một người khác là người thụ hưởng như

Rửa tiền thông qua xổ số và cá cược hợp pháp.
Việc hợp thức hóa tiền có nguồn gốc phạm tội đôi khi được thực hiện
thông qua mua lại những giải thưởng xổ số với giá lớn hơn giá trị thực mà người
trúng thưởng có thể được hưởng. Khoản chi phí lớn hơn đó là khoản chi phí đảm
bảo cho tính hợp pháp của đồng tiền bất hợp pháp. Sau khi sở hữu vé xổ số trúng
thưởng, bọn tội phạm vào Công ty phát hành xổ số là có thể nhận tiền hợp pháp.
Trong điều kiện của cơ chế thị trường, nhiều trò chơi cá cược được thừa
nhận là nhu cầu giải trí như: đua ngựa, đua chó, trọi gà, trọi trâu …., hoạt động
16

cá cược này sử dụng tiền mặt với số lượng lớn. Đây cũng là mảnh đất tốt cho
việc rửa tiền.
Rửa tiền thông qua đầu tư chứng khoán.
Thị trường chứng khoán cũng là nơi bọn tội phạm chú ý lợi dụng để rửa
tiền, nhất là thị trường chứng khoán ở những nước chưa có quy định chặt chẽ về
kiểm soát nguồn gốc tài chính và pháp luật về rửa tiền. Bọn tội phạm sử dụng
các khoản tiền bất hợp pháp để đầu tư cổ phiếu được niêm yết tại các trung tâm
giao dịch chứng khoán. Sau một thời gian đầu tư, các cổ phiếu trên sẽ được bán
ra với giá có thể thấp hơn giá đầu tư ban đầu, nhưng dấu vết tội phạm của đồng
tiền bất hợp pháp đã dần phai mờ. Do những đồng tiền này được nhận qua hệ
thống tài chính, nên nó có được bề ngoài hợp pháp.
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng đã và đang trở thành một trong những
mô hình rửa tiền mà bọn tội phạm ưa thích sử dụng. Rửa tiền qua hệ thống ngân
hàng là việc lợi dụng những kẻ hở trong các quy định giao dịch, cho vay của
ngân hàng để thực hiện tẩy rửa tiền. Một trong những ưu điểm nổi bật của
phương thức này là nếu thực hiện trót lọt, dấu vết của đồng “tiền bẩn” gần như
được xóa bỏ hoàn toàn. Đồng tiền đội lốt hợp pháp được bổ sung vào dòng chảy
vốn của nền kinh tế một cách tự nhiên. Hơn nữa, trên thế giới hầu như nước nào
cũng có hệ thống ngân hàng. Càng ở những nước có quy định về phòng, chống

thông thường của khách hàng. Một trường hợp điển hình khác là các giao dịch
qua các tài khoản mà trước đó hầu như không có giao dịch nào, nhưng hiện tại
lại có rất nhiều giao dịch một cách bất thường mà chủ tài khoản này không đưa
ra được sự giải thích hợp lý cho việc liên tục sử dụng tài khoản ở mức độ cao.
Các giao dịch gồm nhiều khoản tiền mặt giá trị lớn.
18

Một là, mua hoặc bán ngoại tệ bằng tiền mặt với số lượng lớn cho dù
khách hàng có tài khoản trong ngân hàng.
Hai là, thường rút tiền mặt từ tài khoản với số lượng lớn, mà số tiền này
dường như không phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Ba là, rút tiền mặt với số lượng lớn từ tài khoản vừa mới bất ngờ nhận
được một khoản chuyển tiền vô cùng lớn từ nước ngoài.
Bốn là, gửi tiền mặt với số lượng lớn vào tài khoản bằng cách chia nhỏ số
tiền mặt muốn gửi thành nhiều khoản khác nhau. Tuy nhiên, nếu tính tổng số tất
cả các khoản tiền gửi đã chia nhỏ thì giá trị rất lớn.
Năm là, các khách hàng thường xuyên gửi tiền mặt với số lượng lớn vào
ngân hàng, nhưng tiền rút ra khỏi tài khoản thường bằng séc chi trả cho các cá
nhân, hay công ty không có quan hệ kinh doanh với khách hàng.
Các giao dịch liên quan đến các tài khoản trong ngân hàng có một số đặc
điểm bất thường. Sau đây là hai trường hợp tiêu biểu:
Một là, tài khoản có tốc độ chu chuyển tiền trong ngày rất cao. Điều này
thể hiện ở việc thay đổi đột biến doanh số giao dịch trên tài khoản. Doanh số
giao dịch lớn trong một thời gian ngắn nhưng số dư tài khoản nhỏ.
Hai là, các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác
nhau về một tài khoản thành một khoản tiền lớn và ngược lại. Trong một thời
gian rất ngắn, tiền được chuyển lòng vòng qua nhiều tài khoản khác nhau.
Các giao dịch liên quan đến các cuộc chuyển tiền ra nước ngoài.
Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, các
giao dịch liên quan đến chuyển tiền ra nước ngoài là phổ biến. Tuy nhiên trong

 Thứ hai, bộ máy tổ chức về phòng, chống rửa tiền còn hạn chế
20

Về công tác quản lý: ngân hàng trung ương thiếu một cơ quan đầu mối về
phòng, chống rửa tiền. Cơ quan này có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin về các giao
dịch đáng ngờ từ các ngân hàng thương mại trong nước, cũng như tập hợp danh
sách các giao dịch đáng ngờ từ các nước trên thế giới.
Về phía các ngân hàng thương mại: thiếu cán bộ, hệ thống công nghệ
thông tin còn tương đối lạc hậu và chưa có quy trình về phòng, chống rửa tiền.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thường phải đối
mặt với nhiều rủi ro. Do đó, các ngân hàng phải xây dựng các quy trình giám sát,
kiểm toán nội bộ thực sự chặt chẽ. Tuy nhiên, trong hầu hết các ngân hàng, việc
xây dựng các quy trình giám sát về phòng, chống rửa tiền còn thiếu hoặc chưa
được quan tâm đúng mức. Các ngân hàng không áp dụng các quy định trong việc
nhận dạng và thực hiện nguyên tắc hiểu biết khách hàng.
 Thứ ba: một số quy định về thanh toán tạo thuận lợi cho hoạt động rửa tiền.
Tín dụng chứng từ (LC) là một trong những công cụ được bọn tội phạm
rửa tiền ưa thích sử dụng nhất, là vì các giao dịch “ma” thanh toán bằng phương
thức này ít bị nghi ngờ và có thể qua mặt ngân hàng và cơ quan pháp luật. Một
trong những yếu tố hấp dẫn của LC là “các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các
chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác có liên
quan đến chứng từ” [
5
], tức là ngân hàng phát hành LC sẽ thanh toán khi nhận
được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của LC chứ không
phải chờ khi hàng đến rồi mới thanh toán. Đối với những LC thanh toán bằng
vốn tín dụng, ngân hàng có thể tham gia can thiệp vào một số điều kiện, điều
khoản của LC nhằm tránh rủi ro cho khách hàng và gián tiếp là tránh rủi ro cho
ngân hàng tài trợ. Ngoài ra, sau khi cho vay thanh toán LC, ngân hàng còn theo
dõi, kiểm tra hàng hóa. Tuy nhiên, đối với LC thanh toán bằng vốn tự có và ký

thường trong hợp đồng thương mại quốc tế. Để nhà xuất khẩu có thể ứng trước
một phần tiền hàng từ nhà nhập khẩu, thì giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu phải
có hợp đồng mua bán hàng hóa với điều khoản thanh toán trước cho nhà xuất
khẩu một số tiền nhất định, để làm cơ sở cho việc ngân hàng chuyển tiền thanh
toán. Như vậy tại thời điểm thanh toán ngân hàng chưa có đầy đủ chứng từ thanh
toán. Nếu đây là những giao dịch thật thì không có vấn đề gì phải bàn, nhưng
22

nếu đó là thủ thuật của bọn tội phạm lợi dụng để rửa tiền thì là chuyện khác.
Ngân hàng có thể bị cáo buộc là đã tiếp tay cho bọn tội phạm rửa tiền. Có ngân
hàng cẩn thận hơn yêu cầu khách hàng bổ sung tờ khai hải quan và các chứng từ
khác khi hoàn tất việc nhận hàng. Nhưng giao dịch “ma” nhằm mục đích rửa tiền
thì làm gì có hàng để nhận. Do vậy nhà nhập khẩu sẽ không thể bổ sung các
chứng từ theo yêu cầu của ngân hàng. Ngân hàng chỉ còn biết rút kinh nghiệm
lần sau sẽ không chấp nhận chuyển tiền cho nhà nhập khẩu này nữa.
Lợi dụng bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Nhà xuất khẩu A (trong nước) ký
hợp đồng xuất khẩu “ma” với nhà nhập khẩu B (nước ngoài), trong đó quy định
nhà xuất khẩu A phải cung cấp cho nhà nhập khẩu B một bảo lãnh ngân hàng trị
giá 10% giá trị hợp đồng để đảm bảo cho việc giao hàng. Nhà xuất khẩu A ký
qũy 100% để ngân hàng phát hành bảo lãnh. Khi đến hạn giao hàng nhà xuất
khẩu A cố tình không giao hàng và để cho ngân hàng phải thanh toán cho nhà
nhập khẩu B tiền phạt không thực hiện hợp đồng. Như vậy, tiền được chuyển ra
nước ngoài, với bề ngoài có vẻ hợp pháp. Trong trường hợp ngân hàng quan tâm
đến tổn thất của khách hàng thì được nhà xuất khẩu A trả lời rằng: “mặc dù phải
thanh toán tiền phạt không thực hiện hợp đồng nhưng trong thương vụ này công
ty vẫn có lãi vì đã ký hợp đồng với nhà nhập khẩu khác với giá cao hơn nhiều”.
Lý giải này có vẻ xóa tan nghi ngờ của ngân hàng.
Lợi dụng bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: nhà nhập khẩu B (trong nước)
ký hợp đồng nhập khẩu “ma” với nhà xuất khẩu A (nước ngoài), trong đó quy
định nhà nhập khẩu B phải trả trước 20% trị giá hợp đồng khi nhận được bảo

6
]
Với tư cách là một bộ máy của Chính phủ, ngân hàng trung ương có nhiệm
vụ và quyền hạn như một cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà

6
TS.Lê Vinh Danh (1997), Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của ngân hàng trung ương ở các nước tư bản phát
triển, tr 46
24

nước trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng. Nhiệm vụ cụ thể khi thực hiện chức năng
này bao gồm: (i) Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội của nhà nước; (ii) Xây dựng chiến lược phát triển ngành ngân hàng trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện; (iii) Xây dựng các dự án luật, pháp
lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo sự phân công của
chính phủ; (iv) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước xây dựng và trình các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng; tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra các văn bản quy phạm
pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; (v) Xây dựng chính sách tiền tệ quốc
gia trong từng thời kỳ trình chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện; (vi) Chủ
động điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, các biện pháp khác để thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia; (vii) Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động
của các tổ chức tín dụng; (viii) Thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý các vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp
luật; (ix) Chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế
hoạch phòng, chống rửa tiền và tổ chức thực hiện; (x) Quản lý ngoại hối và hoạt
động ngoại hối; (xi) Đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật; (xii) Tổ chức thực hiện hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và thực hiện các nhiệm vụ
quyền hạn khác theo quy định pháp luật của từng quốc gia.

thông và việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sẽ tác động
trực tiếp đến nền kinh tế. Cũng thông qua ngân hàng trung gian, tình hình về nhu
cầu tiền, tổng cung tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, gian lận thương mại, đặc biệt là việc
lợi dụng hệ thống ngân hàng để tiến hành rửa tiền được phản hồi về ngân hàng
trung ương.
1.3.2. Phương thức phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng.
Với những tác hại to lớn của việc lợi dụng hệ thống ngân hàng để tiến

Trích đoạn Đánh giá hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân Chiến lược phát triển ngành ngân hàng và định hướng phòng, chống rửa Dự báo tình hình rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam Các giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status