Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam - Pdf 84

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM LÊ XUÂN HIỀN

PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAMChuyên ngành : Kinh tế Tài chính Ngân hàng
Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người Hướng Dẫn Khoa Học
GS.TS Dương Thị Bình Minh

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................3

U

Tình hình rửa tiền tại Việt Nam...................................................................40

2.3.

Thực trạng rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam...............................46

2.4.

Thực trạng phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam........50

2.5.

Đánh giá hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong thời gian qua. ....................................................................60

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM......................................................................67

3.1.

Chiến lược phát triển ngành ngân hàng và định hướng phòng, chống rửa
tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam. ..............................................................67

3.2.

Dự báo tình hình rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam.....................70

3.3.

Các giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam. ..71

ban đầu cho công tác phòng, chống rửa tiền. Đến nay, nghị định này đã ban hành
được hơn 5 năm, tuy nhiên hiệu quả của việc ngăn chặn rửa tiền nói chung và
rửa tiền qua hệ thống ngân hàng nói riêng còn rất hạn chế. Trong thời gian tới
nếu chúng ta không có những giải pháp đúng đắn, Việt Nam sẽ trở thành điểm
4

đến của tội phạm rửa tiền, mà ngân hàng được xem như là công cụ để thực hiện
hành vi đó. Vì vậy, vấn đề phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng ở Việt
Nam đang được đặt ra như một đòi hỏi bức xúc trong công tác quản lý hiện nay.
Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống
ngân hàng Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: rửa tiền và công tác phòng, chống rửa tiền
- Phạm vi nghiên cứu: hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở dùng các phương pháp như:
- Phương pháp mô tả nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình rửa tiền
tại các nước trên thế giới và Việt Nam.
- Phương pháp thống kê nhằm tập hợp các số liệu và đánh giá thực trạng
rửa tiền.
- Phương pháp lịch sử nhằm so sánh, đối chiếu các thông tin trong quá khứ
để tìm hiểu nguyên nhân và có các kết luận phù hợp.
Nguồn dữ liệu của luận văn chủ yếu được lấy từ:
- Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF).
- Nhóm châu Á Thái Bình Dương về phống rửa tiền (APG).
- Tổng cục thống kê.
- Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
- Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu chủ yếu nhằm đạt được:
- Thứ nhất: phản ánh trung thực những tác động của việc rửa tiền.
- Thứ hai: nêu lên thực trạng rửa tiền tại Việt Nam và những ảnh hưởng của

ra là “tái chế lại”), “blanchiment de fonds” (tiếng Pháp, dịch ra là “tẩy trắng
đồng tiền”). Đến năm 1970, loại tội phạm này xuất hiện tại Mỹ và được gọi là
“money laundering” (tẩy rửa tiền).
Có thể nói, định nghĩa có tính pháp lý đầu tiên về rửa tiền được nhắc đến
trong một văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế là Công Ước Viên năm 1988.
Theo đó, rửa tiền là “hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài
sản đó có được từ buôn bán ma tuý hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội,
với mục đích che dấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người nào đó liên quan đến tội
phạm hoặc hành vi phạm tội để né tránh trách nhiệm pháp lý từ các hành vi của
mình; hành vi che dấu hoặc ngụy trang hình thái tự nhiên, nguồn gốc, địa điểm,
việc định đoạt, chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc các quyền liên quan đến
tài sản mà biết rõ là tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có; hành vi mua, tàng
7

trữ hoặc sử dụng tài sản khi biết rõ tài sản do phạm tội mà có”[
1
]
Tuy nhiên, định nghĩa về rửa tiền được nhiều quốc gia đồng thuận nhất, đó
là định nghĩa rửa tiền theo Công ước Palermo (2000), rửa tiền được quy định là
hành vi: “(i) Chuyển đổi hay chuyển nhượng tài sản, cho dù biết đó là tài sản do
phạm tội mà có, nhằm che dấu hoặc ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài
sản đó hoặc nhằm giúp đỡ bất kỳ ai có liên quan đến việc thực hiện tội phạm gốc
để lẩn tránh trách nhiệm pháp lý do hành vi của người này mang lại; (ii) Che dấu
hoặc ngụy trang bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm sự chuyển nhượng, sự vận
chuyển hoặc sở hữu hoặc các quyền liên quan đến tài sản, dù biết tài sản đó do
phạm tội mà có; (iii) Nhận, sở hữu hoặc sử dụng tài sản, mà tại thời điểm nhận đã
biết rằng tài sản đó do phạm tội mà có; (iv) Tham gia, phối hợp hoặc có âm mưu
thực hiện hành vi, cố gắng thực hiện hành vi hay giúp sức, xúi giục, tạo điều kiện
thuận lợi và lập kế hoạch để thực hiện bất kỳ một tội phạm nào tương ứng với quy
định tại điều này khi biết rõ là tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có”[

biết là có nguồn gốc bất hợp pháp”
1.1.2. Tác động của việc rửa tiền đối với nền kinh tế xã hội.
Rửa tiền gây ra những hậu quả kinh tế và xã hội nghiêm trọng cho các
nước đang phát triển đặc biệt là những nước có hệ thống tài chính yếu kém. Mặc
dù không thể lượng hóa hết tác động của việc rửa tiền, nhưng chúng ta có thể liệt
kê tương đối đầy đủ những tác động của rửa tiền đối với nền kinh tế như sau:
Làm mất sự kiểm soát các chính sách kinh tế
Tại một số nước mới nổi hay đang trong quá trình chuyển đổi, những
khoản tiền bất hợp pháp này làm cho ngân khố của chính phủ nhỏ lại do bị thất
thoát từ nguồn thu thuế. Kết quả là chính phủ rơi vào tình trạng mất kiểm soát
các chính sách kinh tế.
Làm suy yếu khu vực kinh tế tư nhân.
Bọn tội phạm rửa tiền sử dụng những công ty ngụy trang để trộn lẫn những
khoản tiền bất hợp pháp với những khoản tiền hợp pháp. Với những khoản tiền
bất hợp pháp, công ty ngụy trang có thể đưa ra những sản phẩm với giá thấp hơn
giá thành sản xuất. Điều này làm cho những doanh nghiệp hợp pháp rất khó khăn
trong việc cạnh tranh với công ty ngụy trang, và có thể dẫn đến phá sản.
Lũng đoạn hệ thống tài chính.
Hoạt động rửa tiền gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của các
ngành kinh tế tài chính vì hai lý do: (i) hoạt động rửa tiền làm gia tăng các hành
vi gian lận của các nhân viên trong định chế tài chính phục vụ cho mục đích rửa
tiền của bọn tội phạm. Hành vi thông đồng tiếp tay cho hoạt động rửa tiền của
9

nhân viên cũng là yếu tố đầu tiên của chu trình rửa tiền qua hệ thống ngân hàng;
(ii) ở các nước đang phát triển, uy tín của định chế tài chính tác động tới tâm lý
khách hàng, đến lượt nó tác động trở lại tới sự phát triển và lớn mạnh của định
chế tài chính đó.
Nguy hại đến nền kinh tế vĩ mô.
Trong một nghiên cứu, tổ chức tư vấn dịch vụ John Walker đã sử dụng

khuyến nghị của FATF; (iii) Có tổ chức chuyên trách về đấu tranh phòng, chống
rửa tiền và tổ chức tốt cuộc đấu tranh này. Nếu không có những điều kiện trên và
để cho hoạt động rửa tiền phát triển thì quốc gia đó không phải là một đối tác tin
cậy và không thể tham gia thị trường tài chính thế giới một cách toàn diện.
Bên cạnh những tác động tiêu cực, thì rửa tiền cũng có những tác động
tích cực đối với nền kinh tế như: cơ sở vật chất ở nước nhận đầu tư được cải
thiện, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn, thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn …
Tóm lại, những tích cực của rửa tiền mang lại là nhất thời, nhưng các tác
hại của nó gây ra là lâu dài. Do vậy, hoạt động chống tội phạm rửa tiền là một
hoạt động rất cần nhận được sự quan tâm của các nước trên thế giới.
1.1.3. Nguyên nhân và điều kiện phát triển nạn rửa tiền trên thế giới.
Nhu cầu hợp pháp hóa các tài sản bất hợp pháp.
Theo các chuyên gia IMF, nhu cầu tẩy rửa tiền hàng năm trên thế giới
khoảng 1040 tỷ USD đến 2600 tỷ USD, và con số này tăng khoảng 5% qua các
năm. Để xóa bỏ mọi dấu vết của tài sản bất hợp pháp, bọn tội phạm thường dấu
biệt danh tính của mình, tìm cách đầu tư vào các dự án hợp pháp và cố gắng thu
hồi trong thời gian nhanh nhất số tiền đầu tư đó.
Sự khiếm khuyết, chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Ngày 20/12/1988, lần đầu tiên tội phạm rửa tiền được định nghĩa trong
Công ước Viên của Liên Hiệp Quốc. Đến tháng 7/1989 nhóm hành động tài
chính (GAFI) được thành lập với sự tham gia của 130 chuyên gia đến từ 15 quốc
gia, và nhóm này đã đưa ra 14 nghị quyết về phòng, chống lạm dụng hệ thống
ngân hàng vào mục đích bất hợp pháp, củng cố hệ thống hình sự của các nước
thành viên và phát triển hợp tác quốc tế.
Ở góc độ quốc gia, mãi đến cuối những năm 80 và 90, hầu hết các quốc
11

gia trên thế giới mới quy định tội rửa tiền trong bộ luật hình sự. Một số nước
như: Trung Quốc, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Luxembourg quy định rửa tiền chỉ
liên quan tới ma túy. Trong khi đó các nước như: Đức, Tây Ban Nha, Hy Lạp

Do vậy, để đảm bảo cho các nền kinh tế trên thế giới được phát triển một
cách bền vững, công tác phòng, chống rửa tiền phải đặt ra ở tất cả các nước trên
thế giới, không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển,
thông qua việc xây dựng luật phòng, chống rửa tiền và các văn bản quy phạm
pháp luật hướng tới kiểm soát chặt chẽ, hạn chế những điều kiện như trên. Qua
đó đẩy lùi nạn rửa tiền.
1.1.4. Quy trình và các phương thức rửa tiền.
1.1.4.1. Quy trình rửa tiền.
Về mặt quy trình, rửa tiền được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: đưa tiền bất hợp pháp vào hệ thống kinh tế tài chính, gọt tắt
là “gài đặt”, “gửi tiền”. Giai đoạn này được coi là khó khăn nhất đối với bọn tội
phạm, vì tiền và tài sản bất hợp pháp đang được các cơ quan điều tra theo dõi.
Hơn thế nữa, nhà nước thường đặt ra nhiều quy chế để đón lõng bọn tội phạm
rửa tiền, ví dụ như: quy định lượng tiền mặt được đưa qua biên giới, được phép
thanh toán và thực hiện các quy định về khai báo ngân hàng.
Giai đoạn 2: tích tụ và quay vòng các khoản tiền sau khi chúng đã thâm
nhập hệ thống tài chính, gọi tắt là “chuyển dịch”, “sắp xếp”. Trong công đoạn
này, nhiều thao tác nghiệp vụ được thực hiện làm cho đồng tiền chuyển dịch
khắp nơi, quay vòng nhiều lần để xóa đi dấu vết tội phạm. Quốc gia nào có hệ
thống luật doanh nghiệp càng thông thoáng, thì càng dễ bị lợi dụng thông qua
việc thành lập công ty “ma”.
Giai đoạn 3: đầu tư hợp pháp, gọi tắt là “hòa nhập”. Đây là lúc bọn tội phạm
sử dụng tiền, tài sản đã được tẩy rửa để đầu tư một cách hợp pháp vào hoạt động
13

sản xuất kinh doanh dưới các hình thức như: đầu tư vào các doanh nghiệp, mua cổ
phiếu, tín phiếu, bất động sản … việc đầu tư vào sản xuất kinh doanh sẽ làm gia
tăng giá trị đồng tiền tội phạm, trộn lẫn đồng tiền hợp pháp và bất hợp pháp, đây
cũng là công đoạn khó khăn để có thể xác định hành vi cấu thành tội phạm.
1.1.5.2. Các phương thức rửa tiền.

đã hoàn tất 3 công đoạn của quá trình rửa tiền. Duy trì các kết quả đầu tư càng
lâu dài thì bóng dáng của đồng vốn bất hợp pháp càng phai mờ.
Rửa tiền thông qua các công ty bảo hiểm.
Theo đó, bọn tội phạm dùng tiền có nguồn gốc bất hợp pháp mua bảo
hiểm nhân thọ của các công ty bảo hiểm. Khoản tiền này được nằm trong tài
khoản của công ty bảo hiểm một thời gian nhất định. Tiền có nguồn gốc bất hợp
pháp không được sử dụng trong thời gian dài cũng đã tạo ra cho nó một điều
kiện an toàn nhất định. Sau đó, kẻ tẩy rửa sẽ viện một lý do nào đó để yêu cầu
rút tiền trước thời hạn hoặc dùng giá trị của hợp đồng bảo hiểm để đảm bảo chi
trả cho một nhu cầu giao dịch nào đó như mua bất động sản.
Trên thực tế bọn tội phạm còn biến hóa để nó trở nên rối rắm hơn nhiều.
Trong trường hợp khi yêu cầu công ty bảo hiểm rút tiền, chúng không rút tiền
cho chính bản thân mình mà sẽ chỉ định một người khác là người thụ hưởng như
con, cháu, đồng bọn, luật sư.
Rửa tiền bằng cách sử dụng hóa đơn, chứng từ giả.
Theo quy định pháp luật của nhiều nước, việc thành lập và hoạt động của
các doanh nghiệp hầu như không chịu sự kiểm soát nào từ phía nhà nước. Muốn
thành lập doanh nghiệp chỉ cần đăng ký qua mạng, qua điện thoại, qua luật sư
đại diện. Ngay sau khi thành lập, doanh nghiệp có thể mua hóa đơn từ chi cục
thuế để hoạt động. Những công ty bình phong có thể được lập ra, bằng cách thuê
người khác đứng tên để được thành lập, thuê địa chỉ làm trụ sở hoặc khai gian
15

địa chỉ rồi biến mất, những doanh nghiệp này được gọi là doanh nghiệp “ma”
hay doanh nghiệp “ảo”. Hoạt động của chúng không chỉ gắn với rửa tiền mà còn
có thể lừa đảo, trốn thuế, buôn lậu, tham nhũng …Và theo đó, bọn tội phạm sử
dụng tư cách pháp nhân của doanh nghiệp “ma” để ký kết các hợp đồng thương
mại “ma”, cung cấp các dịch vụ khống và xuất hóa đơn, chứng từ theo các yêu
cầu rửa tiền hay mục đích phạm tội. Ở hình thức khác, do có nhiều công ty ở
nhiều nước nên chúng chuyển tiền bất hợp pháp vào công ty ở nước này, rồi từ

giao dịch chứng khoán. Sau một thời gian đầu tư, các cổ phiếu trên sẽ được bán
ra với giá có thể thấp hơn giá đầu tư ban đầu, nhưng dấu vết tội phạm của đồng
tiền bất hợp pháp đã dần phai mờ. Do những đồng tiền này được nhận qua hệ
thống tài chính, nên nó có được bề ngoài hợp pháp.
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng đã và đang trở thành một trong những
mô hình rửa tiền mà bọn tội phạm ưa thích sử dụng. Rửa tiền qua hệ thống ngân
hàng là việc lợi dụng những kẻ hở trong các quy định giao dịch, cho vay của
ngân hàng để thực hiện tẩy rửa tiền. Một trong những ưu điểm nổi bật của
phương thức này là nếu thực hiện trót lọt, dấu vết của đồng “tiền bẩn” gần như
được xóa bỏ hoàn toàn. Đồng tiền đội lốt hợp pháp được bổ sung vào dòng chảy
vốn của nền kinh tế một cách tự nhiên. Hơn nữa, trên thế giới hầu như nước nào
cũng có hệ thống ngân hàng. Càng ở những nước có quy định về phòng, chống
rửa tiền sơ khai, việc lợi dụng hệ thống ngân hàng để rửa tiền càng thuận lợi
hơn.
1.2. Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng.
1.2.1. Các dấu hiệu nhận biết rửa tiền qua hệ thống ngân hàng.
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng là một trong những phương thức mà bọn
tội phạm thường sử dụng. Tuy nhiên, để có thể rửa tiền qua kênh này, bọn tội
phạm thường sử dụng các thủ thuật hết sức tinh vi. Do vậy, việc đưa ra các dấu
17

hiệu nhận biết rửa tiền qua hệ thống ngân hàng là hết sức cần thiết.
Có thể phân loại, định dạng và nhận biết một số dấu hiệu đáng ngờ ở các
giao dịch mà bọn tội phạm lợi dụng để rửa tiền như sau:
 Thứ nhất, thông qua thông tin về khách hàng
Ngân hàng hoàn toàn có đủ cơ sở để nghi ngờ bất cứ một khách hàng nào
có thái độ miễn cưỡng khi cung cấp các thông tin, chứng từ thông thường theo
quy định của ngân hàng trong quan hệ giao dịch với khách hàng. Đặc biệt là
những khách hàng cung cấp ít thông tin, cung cấp thông tin sai sự thật, hoặc khi

ngân hàng, nhưng tiền rút ra khỏi tài khoản thường bằng séc chi trả cho các cá
nhân, hay công ty không có quan hệ kinh doanh với khách hàng.
Các giao dịch liên quan đến các tài khoản trong ngân hàng có một số đặc
điểm bất thường. Sau đây là hai trường hợp tiêu biểu:
Một là, tài khoản có tốc độ chu chuyển tiền trong ngày rất cao. Điều này
thể hiện ở việc thay đổi đột biến doanh số giao dịch trên tài khoản. Doanh số
giao dịch lớn trong một thời gian ngắn nhưng số dư tài khoản nhỏ.
Hai là, các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác
nhau về một tài khoản thành một khoản tiền lớn và ngược lại. Trong một thời
gian rất ngắn, tiền được chuyển lòng vòng qua nhiều tài khoản khác nhau.
Các giao dịch liên quan đến các cuộc chuyển tiền ra nước ngoài.
Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, các
giao dịch liên quan đến chuyển tiền ra nước ngoài là phổ biến. Tuy nhiên trong
số các giao dịch đó, cũng có những giao dịch với mục đích bất thường. Nhân
viên ngân hàng có thể nhận biết được qua mục đích, tính chất của việc chuyển
tiền. Sau đây là một số dấu hiệu điển hình mà ngân hàng cần quan tâm, lưu ý:
19

Việc một khách hàng vãng lai chuyển tiền ra nước ngoài mà không đưa ra
lý do hợp pháp.
Một khách hàng chuyển tiền tới chi nhánh nước ngoài, công ty con, hoặc
ngân hàng có trụ sở tại một quốc gia nơi mà buôn lậu, tham nhũng, sản xuất và
buôn bán ma túy thường xuyên diễn ra.
Các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư.
Một là, hoạt động mua bán chứng khoán không phù hợp với vị thế hiện tại
của khách hàng, hoặc khách hàng đầu tư chứng khoán bằng tiền mặt một cách
khác thường với số lượng lớn.
Hai là, vốn đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có nguồn
gốc từ các nước có tỷ lệ tội phạm cao như: Ý, Nga, Macao ….. hay từ các nước có
hệ thống pháp luật về phòng, chống rửa tiền còn yếu kém như các nước Châu Phi.

rửa tiền ưa thích sử dụng nhất, là vì các giao dịch “ma” thanh toán bằng phương
thức này ít bị nghi ngờ và có thể qua mặt ngân hàng và cơ quan pháp luật. Một
trong những yếu tố hấp dẫn của LC là “các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các
chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác có liên
quan đến chứng từ” [
5
], tức là ngân hàng phát hành LC sẽ thanh toán khi nhận
được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của LC chứ không
phải chờ khi hàng đến rồi mới thanh toán. Đối với những LC thanh toán bằng
vốn tín dụng, ngân hàng có thể tham gia can thiệp vào một số điều kiện, điều
khoản của LC nhằm tránh rủi ro cho khách hàng và gián tiếp là tránh rủi ro cho
ngân hàng tài trợ. Ngoài ra, sau khi cho vay thanh toán LC, ngân hàng còn theo
dõi, kiểm tra hàng hóa. Tuy nhiên, đối với LC thanh toán bằng vốn tự có và ký

5
International Chamber Commerce (2007),
the Uniform Customs and Practice for Documentary
Credits, Art 5

21

qũy đủ 100% thì các ngân hàng thường chỉ tư vấn chứ không can thiệp vào nội
dung LC và cũng không phải kiểm tra, theo dõi hàng hoá đã được nhận hay
chưa. Thêm vào đó ngân hàng không yêu cầu nhà nhập khẩu bổ sung tờ khai hải
quan sau khi hoàn tất thủ tục nhận hàng. Điều này tạo điều kiện tội phạm mở LC
“ma” với yêu cầu về chứng từ đơn giản để người thụ hưởng là đồng bọn của
chúng có thể dễ dàng xuất trình chứng từ yêu cầu thanh toán. Theo điều 15 của
UCP 600: “khi ngân hàng phát hành xác định việc xuất trình là phù hợp, thì nó
phải thanh toán”, khi đó ngân hàng phát hành thực hiện ghi nợ tài khoản thanh
toán của nhà nhập khẩu. Đến thời điểm này ngân hàng đóng hồ sơ LC mà không

hợp đồng xuất khẩu “ma” với nhà nhập khẩu B (nước ngoài), trong đó quy định
nhà xuất khẩu A phải cung cấp cho nhà nhập khẩu B một bảo lãnh ngân hàng trị
giá 10% giá trị hợp đồng để đảm bảo cho việc giao hàng. Nhà xuất khẩu A ký
qũy 100% để ngân hàng phát hành bảo lãnh. Khi đến hạn giao hàng nhà xuất
khẩu A cố tình không giao hàng và để cho ngân hàng phải thanh toán cho nhà
nhập khẩu B tiền phạt không thực hiện hợp đồng. Như vậy, tiền được chuyển ra
nước ngoài, với bề ngoài có vẻ hợp pháp. Trong trường hợp ngân hàng quan tâm
đến tổn thất của khách hàng thì được nhà xuất khẩu A trả lời rằng: “mặc dù phải
thanh toán tiền phạt không thực hiện hợp đồng nhưng trong thương vụ này công
ty vẫn có lãi vì đã ký hợp đồng với nhà nhập khẩu khác với giá cao hơn nhiều”.
Lý giải này có vẻ xóa tan nghi ngờ của ngân hàng.
Lợi dụng bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: nhà nhập khẩu B (trong nước)
ký hợp đồng nhập khẩu “ma” với nhà xuất khẩu A (nước ngoài), trong đó quy
định nhà nhập khẩu B phải trả trước 20% trị giá hợp đồng khi nhận được bảo
lãnh hoàn trả tiền ứng trước do ngân hàng của nhà xuất khẩu A phát hành. Khi
nhận được bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, nhà nhập khẩu B xuất trình thư bảo
lãnh và đề nghị ngân hàng của mình thực hiện chuyển tiền cho nhà xuất khẩu A
bằng vốn tự có của mình. Tất nhiên nhà nhập khẩu B chẳng bao giờ yêu cầu
ngân hàng phát hành bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước mặc dù nhà xuất khẩu A
không thực hiện các cam kết theo hợp đồng.
23

Bên cạnh rửa tiền thông qua các giao dịch “ma”, bọn tội phạm còn thực
hiện rửa tiền thông qua những giao dịch có thật, nhưng thủ thuật tinh vi hơn, đó
là hạ giá hoặc nâng giá hàng hóa. Khoản chênh lệch giữa giá thực tế và giá nhập
khẩu chính là khoản tiền phi pháp mà bọn tội phạm muốn tẩy rửa. Sau vụ 11/9,
Mỹ nghi ngờ mạng lưới Al Qaeda có thể đã sử dụng thủ thuật nâng giá xuất khẩu
mật ong để chuyển tiền giữa Mỹ và Trung Đông. Phân tích của hai giáo sư Đại
học quốc tế Florida cho thấy giá xuất khẩu mật ong đến Các Tiểu Vương Quốc
Ả Rập, Cô-oét, Ả Rập xê-út, Yemen cao hơn giá xuất khẩu mật ong đến các

chính phủ; (iv) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước xây dựng và trình các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng; tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra các văn bản quy phạm
pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; (v) Xây dựng chính sách tiền tệ quốc
gia trong từng thời kỳ trình chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện; (vi) Chủ
động điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, các biện pháp khác để thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia; (vii) Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động
của các tổ chức tín dụng; (viii) Thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý các vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp
luật; (ix) Chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế
hoạch phòng, chống rửa tiền và tổ chức thực hiện; (x) Quản lý ngoại hối và hoạt
động ngoại hối; (xi) Đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật; (xii) Tổ chức thực hiện hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và thực hiện các nhiệm vụ
quyền hạn khác theo quy định pháp luật của từng quốc gia.
Với tư cách là ngân hàng trung ương, cơ quan này thực hiện các chức
năng có tính chất nghiệp vụ như : (i) Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ;
(ii) Thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng; (iii) Thực hiện chức
năng ngân hàng của chính phủ.
 Ngân hàng trung gian.
Thuật ngữ “ngân hàng trung gian” dùng để ám chỉ nhiều loại ngân hàng.
Tùy theo mỗi quốc gia, các loại ngân hàng này có thể có những tên gọi khác
nhau, nhưng nhìn chung hệ thống ngân hàng trung gian gồm có: ngân hàng
25

thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng đặc biệt, các định chế tài
chính trung gian phi ngân hàng khác.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, ngân hàng trung gian thực hiện các
chức năng cơ bản như sau:
Thứ nhất là trung gian tín dụng, vì ngân hàng là cầu nối giữa khách hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status