320 Giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống Ngân hàng Việt Nam - Pdf 23

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do hình thành đề tài
Trước xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động ngân hàng không những
chịu các áp lực về kinh tế mà còn chịu áp lực ngày càng gia tăng của các tội phạm
liên quan đến hoạt động ngân hang, trong đó có tội phạm rửa tiền. Ngoài việc phải
đối phó với các khoản tiền bất hợp pháp được tẩy rửa trong nước, hiện nay hệ thống
nhân hang Việt Nam đang phải đối phó với nguy cơ từ các tổ chức tội phạm quốc tế
sử dụng Việt Nam như nơi rửa tiền của các hoạt động bất hợp pháp.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/2005/NĐ-CP ngày 07/06/2005 về
phòng, chống rửa tiền và Nghị định này tập trung chủ yếu trong lĩnh vực ngân hang.
Điều này thể hiện quyết tâm chống rửa tiền của Việt Nam trong bối cảnh hệ thống
thanh tra, giám sát ngân hang còn yếu, tình trạng tham nhũng diễn ra tinh vi, mức
độ sử dụng tiền mặt cao và các luồng chuyển tiền không chính thức khá lớn.
Tuy nhiên, với những hạn chế của khung pháp lý cho hoạt động phòng,
chống rửa tiền cùng những thách thức cho ngành ngân hang Việt Nam trước thềm
hội nhập đòi hỏi Nhà nước và ngành ngân hang phải nhanh chóng có giải pháp để
đương đầu với vấn nạn rửa tiền và thực hiện chống rửa tiền có hiệu quả cao nhất.
Đây chính là lý do để hình thành Luận văn này với nội dung nghiên cứu tập trung
vào “Giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hang Việt Nam”
xoay quanh chủ yếu ba vấn đề chính đó là: hoàn thiện khung pháp lý phòng, chống
rửa tiền, tạo lập môi trường kinh tế thích hợp và chuẩn bị cơ sở vật chất đầy đủ cho
hoạt động phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hang Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở thực trạng hoạt động rửa tiền trên thế giới nói chung và tại Việt
Nam nói riêng cùng với những nguy cơ rửa tiền qua hệ thống ngân hang Việt Nam
khi hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn tập trung đưa ra các giải pháp phòng, chống
rửa tiền qua hệ thống ngân hang Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu chính là đưa ra các giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ

- Chương 2: Hoạt động rửa tiền và phòng,chống rửa tiền tại Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp phòng,chống rửa tiền qua hệ thống ngân hang Việt
Nam
Phần 3:Phần kết luận chung qua quá trình nghiên cứu.
3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG RỬA TIỀN
VÀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN

1.1. Khái quát về hoạt động rửa tiền
Rửa tiền không phải là một hiện tượng mới mẻ, nó cũng xưa như chính tội ác.
Từ ngàn xưa, nhũng kẻ phạm tội đều tìm mọi cách che giấu nguồn gốc của các đồng
tiền tội ác nhằm xoá sạch dấu vết các hành động tội phạm của họ. Ngày nay, do sự
bành trướng của nạn tham nhũng tại nhiều quốc gia, nạn buôn bán mà tuý và buôn
lậu vũ khí trên toàn cầu với doanh số mỗi năm ước lượng đến hàng trăm, hàng ngàn
tỉ đô la Mỹ, thêm vào đó là các tổ chức khủng bố quốc tế với khả năng tài chính và
nhu cầu cung cấp tiền cho mạng lưới khủng bố trên toàn thế giới rất lớn đã khiến
cho việc rửa tiền trở thành một dịch vụ béo bở cho một thị trường ngày càng rộng
lớn. Hoạt động rửa tiền ngày càng trở nên tinh vi hơn, khéo léo và với kỹ thuật cao
cấp hơn. Không những nó giúp cho những “ông trùm” thoát khỏi sự trừng phạt của
pháp luật, ngang nhiên trở thành những ông chủ giàu có, lương thiện mà còn tạo
điều kiện cho việc phát triển các mạng lưới khủng bố tại nhiều quốc gia, mang lại
những hậu quả khó lường đối với vấn đề an ninh quốc gia và quốc tế. Do đó, rửa
tiền đang là một mối đe dọa nguy hiểm đặt ra cho toàn thế giới, đòi hỏi sự hợp tác
cũng mang tính chất toàn cầu của các quốc gia trên thế giới nhằm ngăn chặn hiểm
họa này.
Hiện nay và trong tương lai gần, nền kinh tế Việt Nam sẽ hội nhập sâu hơn vào
hệ thống tài chính thế giới. Điều này đặt ra nhiều thách thức trong việc xây dựng
pháp luật, kiểm soát tài chính và nhất là các công cụ để chống rửa tiền có hiệu quả.
Sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu sẽ làm cho hệ thống tài chính của Việt Nam đối

dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;
- Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm
cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thực
sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm
tội mà có”.

5

1.1.2. Nguồn gốc của tiền “bẩn”
Mục đích của hoạt động rửa tiền là tạo ra một khoảng cách xa nhất giữa tài sản
bất hợp pháp và chủ sở hữu những tài sản đó. Hình thức biểu hiện lợi nhuận có
được ban đầu thông thường là tiền, cũng có thể gọi đây là tiền “bẩn”. Sau các giai
đoạn chuyển đổi để hợp pháp hoá, tiền “bẩn” sẽ có các hình thức biểu hiện khác
như: thẻ tín dụng, bất động sản, các khoản đầu tư hợp pháp, ...
Nguồn gốc của tiền “bẩn” thường từ các hoạt động sau:
- Buôn lậu ma túy, vũ khí, mại dâm và các loại hàng hoá bị cấm mua bán, trao
đổi như rượu, thuốc lá, …
- Tiền tham nhũng, nhận hối lộ;
- Tiền có do lợi dụng chức vụ, địa vị trong bộ máy nhà nước để biết trước các
thông tin về chủ trương, chính sách, qui hoạch, ... nhằm trục lợi;
- Tiền có được do mua bán nội gián trên thị trường chứng khoán, mua bán lòng
vòng;
- Tiền của các tổ chức tội phạm có được do làm tiền giả, tống tiền, tổ chức đánh
bạc;
- Tiền có được do hoạt động chuyển giá giữa các công ty thuộc cùng một tập
đoàn hoặc công ty mẹ - con hoặc tiền có được do trốn thuế.
Nhìn chung các hình thức biểu hiện lợi nhuận của hoạt động rửa tiền bao gồm
những lợi ích kinh tế của hoạt động rửa tiền mang lại được quy là “sản phẩm của tội
phạm” (Theo Công ước Strasbong 1990 của Hội đồng Châu Âu).
1.1.3. Đối tượng tham gia vào hoạt động rửa tiền

các tội rửa tiền vì mất cảnh giác, không thực hiện nghĩa vụ quy định cho dù họ
không biết đây là tiền có nguồn gốc tội phạm và như vậy, họ cũng bị quy kết tham
gia vào quá trình rửa tiền.
1.1.4. Độ lớn của rửa tiền trong nền kinh tế
Việc đo lường mức độ rửa tiền của một quốc gia như thế nào nhằm đánh giá tính
nghiêm trọng khi có nhu cầu phân tích lại là một vấn đề không đơn giản. Có nhiều
cách đo lường trực tiếp hoặc gián tiếp để ước lượng số lượng tiền được rửa ở một
nền kinh tế nào đó. Ta có thể xem xét hai cách tiếp cận như sau:
7

Thứ nhất là cách tiếp cận vĩ mô. Đây là cách đo lường phổ biến vào những năm
1980, họ ước lượng hoạt động của kinh tế ngầm chiếm bao nhiêu phần trăm của
GDP và thông qua đó phỏng đoán mức rửa tiền. Công cụ thường dùng là quan sát
sự dịch chuyển bất thường nhu cầu xã hội theo thời gian, hoặc là sự tăng vọt hay
giảm thuế đột ngột.
Cách tiếp cận thứ hai là tiếp cận vi mô. Cách này thường ước lượng gộp thông
qua các hoạt động tội phạm được phát hiện, các kênh thông tin đường phố (street
knowledge). Thông thường thì các thống kê mức độ rửa tiền công bố với một biên
độ dao động khá rộng tính bằng phần trăm GDP. Chẳng hạn như những kết quả
công bố gần đây của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
1
, số lượng tiền được rửa ở Úc khoảng
4% - 12% GDP, ở Đức là 2% - 11%, ở Ý là 10% - 33%, Nhật là 4% - 15%, Anh là
1% - 15% và ở Mỹ là 4% - 33%.
Ở Việt Nam chưa có một công bố thống kê chính thức nào về hoạt động rửa tiền
cũng như độ lớn của nó trong nền kinh tế. Tuy nhiên một nghiên cứu công bố gần
đầy về hoạt động không chính thức của kinh tế Việt Nam làm chúng ta lo ngại.
Nghiên cứu của Stoyan
2
và cộng sự cho rằng hoạt động phi chính thức của Việt

phạm rửa tiền còn thực hiện một cách hoàn hảo các kế hoạch của mình bằng cách
chuyển tiền vào những tài khoản của những đối tác mà những hóa đơn thu tiền của
các đối tác này sẽ không bao giờ có các hàng hóa hoặc dịch vụ đối ứng.
1.2.2. Phân tán lòng vòng (Layering)
Đây là thuật ngữ nói lên một quy trình tạo ra một chuỗi các giao dịch tài chính
phức tạp nhằm mục đích che đậy các nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp để cuối
cùng chúng quay trở lại và trở nên “sạch” hơn. Các kỹ thuật phân tán thông thường
là cho vay lại (loan-backs) và tính giá cao (double invoicing):
Việc cho vay lại (loan backs) được thực hiện bằng cách các tội phạm rửa tiền sẽ
chuyển tiền ra nước ngoài, thường trực tiếp vào những ngân hàng dễ dãi (bank
secrecy haven). Cần lưu ý rằng trong giai đoạn này, người chuyển tiền và người thụ
hưởng chỉ là một người. Sau đó, họ sẽ tìm cách vay lại từ chính các ngân hàng dễ
dãi này, và đương nhiên đồng tiền đi ra từ ngân hàng đã trở nên “sạch”. Kỹ thuật
này được thực hiện khá dễ dàng ở những quốc gia chưa thực sự quan tâm đến hoạt
động rửa tiền và lúc này sẽ rất khó kiểm soát được các tài khoản này.
Đối với việc tính giá cao (double invoicing), tội phạm rửa tiền sẽ mua hàng hóa
hoặc dịch vụ từ nước ngoài với giá trị trên hóa đơn cao hơn nhiều lần so với giá trị
9

thực. Khi chuyển tiền thanh toán, các đồng tiền “bẩn” được đưa vào hệ thống ngân
hàng một cách hợp pháp và trở nên “sạch” ở nước ngoài.
Ngoài ra, các giao dịch tài chính tinh vi như tham gia vào thị trường tài chính
thứ cấp gắn liền với việc sử dụng công nghệ ngân hàng tiên tiến như Internet
banking cũng gây khó khăn cho hoạt động điều tra.
1.2.3. Hợp nhất (Integration)
Đây là thuật ngữ nói lên giai đoạn cuối cùng của việc rửa tiền, là việc tái phân
phối trở lại vào nền kinh tế các nguồn tiền không thể lần ra dấu vết được nữa. Giai
đoạn này được tiến hành thông qua hàng loạt các hành vi tiêu dùng xa hoa lãng phí,
đầu tư bất động sản, các chi tiêu đầu tư vào các doanh nghiệp và đầu tư tài
chính. Việc đầu tư vào các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sẽ làm gia tăng giá trị

tiền nước khác để tiêu thụ.
- Rửa tiền thông qua việc mua vàng, kim cương, … là những tài sản gọn nhẹ, có
giá trị cao, có thể mua đi bán lại ở mọi nơi, mọi thời điểm trên thế giới. Đây là
phương thức rửa tiền được bọn tội phạm sử dụng nhiều nhất do cách thức đơn giản,
dễ thực hiện, nhưng lại dễ bị cơ quan điều tra phát hiện.
- Rửa tiền thông qua đầu tư vào gửi tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu. Bọn tội
phạm sẽ gửi tiết kiệm vào ngân hàng hoặc mua tín phiếu, trái phiếu ... làm cho đồng
tiền nằm im trong một thời gian phù hợp với quy định với mỗi nước. Sau đó, người
gửi tiền có thể rút ra toàn bộ gốc và lãi hoặc rút một phần, biến số tiền đó thành tiền
hợp pháp.
- Rửa tiền thông qua hoạt động đầu tư, góp vốn thành lập doanh nghiệp. Hiện
tượng này thường xảy ra ở những quốc gia đang phát triển, có nhu cầu vốn đầu tư
để phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, thị trường tài chính ở các quốc gia này kém phát
triển, khả năng quản lý kém sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm rửa tiền phát
triển.
- Rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”. Tại một số nước, hệ thống
ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, đắt đỏ mà lại quan liêu. Do đó, trong cộng đồng
những người nước ngoài tại các quốc gia này tồn tại hệ thống ngân hàng không
11

chính thức gọi là ngân hàng “ngầm”. Hệ thống ngân hàng ngầm này hoạt động và
luân chuyển tài chính như các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ
hơn, bí mật hơn các ngân hàng hợp pháp. Các ngân hàng ngầm có đại diện ở nhiều
nước khác nhau để thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc
từ thành phố này sang thành phố khác trong cùng một quốc gia. Sự hoạt động của
ngân hàng này chủ yếu dựa trên niềm tin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục
giấy tờ gọn nhẹ. Bọn tội phạm lợi dụng nguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng
này đã đem tiền đến gửi và yêu cầu nhận lại ở một thành phố khác. Những địa chỉ
cần nhận tiền tẩy rửa thông thường là những quốc gia khao khát đầu tư tài chính
nhưng ít quan tâm đến nguồn gốc đồng tiền, việc thanh toán qua ngân hàng chưa

nhiên của khu vực chính thức. Thường thì trong khu vực bất động sản, các hoạt
động nghệ thuật, đồ cổ, nữ trang và các ngành ô tô đắt tiền được giới rửa tiền quan
tâm. Những dấu hiệu bất thường về cung hoặc cầu trong xã hội thường là do các
hoạt động bất chính gây ra, và rửa tiền là một hoạt động quan trọng tạo nên sự mất
cân đối trong xã hội này. Việt Nam có thể cho chúng ta một dấu hiệu khác thường
về bất thường cung cầu trong lĩnh vực bất động sản. Giá bất động sản cao xấp xỉ
bằng Nhật Bản, trong khi đó thu nhập thì chỉ bằng 1/20, nghiêm trọng hơn là bất
động sản đa số đã có chủ nhưng hầu như lại ít sử dụng thực sự.
Trong một nghiên cứu chuẩn bị cho Báo cáo giao dịch và Trung tâm phân tích
của Úc
3
, tổ chức tư vấn dịch vụ Jonh Walker đã sử dụng mô hình Input – Output
phân tích kịch bản tác động của việc rửa tiền. Trong một kịch bản trung hoà nhất
cho thấy tác động ròng như sau: 1 tỷ đô la của tiền rửa làm giảm đi khoảng 1,13 tỷ
giá trị sản lượng, 609 ngàn thu nhập và 25 việc làm. Đây là một tác động thật sự
lớn, và thực tế ở các nền kinh tế lớn số tiền được rửa là nhiều hơn chứ không phải
dừng lại như kịch bản đã phân tích.
Rửa tiền cũng có tác động lên khu vực nước ngoài. Có hai tác động kinh tế
chính của việc rửa tiền lên khu vực nước ngoài đối với một nền kinh tế là làm giảm
đầu tư nước ngoài và bóp méo giá cả ngoại thương. Việc rửa tiền phần lớn dính líu
đến các hoạt động tham nhũng và điều này dẫn đến những khuyến khích sai lệch

3
IMF, International Financial Statistics, “Australia”, 3.2002
13

trong danh mục đầu tư hoặc lựa chọn đầu tư nước ngoài. Chính sự phân bố sai lệch
này trong ngắn hạn làm giảm và nản lòng các dòng vốn đầu tư chính thức và hiệu
quả. Kết quả này trong dài hạn làm nền kinh tế không tiếp thu được tác động lan tỏa
của đầu tư nước ngoài, chẳng hạn như công nghệ, kỹ năng lao động, kiến thức và cả

là những biện pháp cơ bản nhất và được ứng dụng rộng rãi trong phòng, chống rửa
tiền. Đến năm 2001, sau sự kiện 11 tháng 09, FATF đã cho ban hành 8 khuyến nghị
đặc biệt về phòng, chống rửa tiền và tài trợ cho khủng bố. Đây được xem là các
chuẩn mực quốc tế được biết đến với tên gọi là FATF 40+8. Đến ngày 22/10/2004,
khuyến nghị đặc biệt thứ 9 được ban hành với tên gọi là Cash Couriers. Các đề xuất
này là tập hợp các quy định toàn diện về phòng, chống rửa tiền cho các chính phủ,
các cơ quan lập pháp và hành pháp, các định chế tài chính và các tổ chức kinh
doanh nói chung.
FATF có nhiệm vụ đánh giá, giám sát các biện pháp chống rửa tiền, theo dấu
các hoạt động rửa tiền ở các quốc gia thành viên và không phải là thành viên tổ
chức này. Hiện nay có hơn 130 quốc gia và lãnh thổ - đại diện cho khoảng 85% dân
số thế giới và khoảng 90% đến 95% sản lượng kinh tế toàn cầu - đã thực hiện những
cam kết chính trị để thực hiện các khuyến nghị của FATF. Việt Nam vẫn chỉ mới là
quan sát viên chứ chưa phải là thành viên chính thức của FATF.
FATF còn có một nhiệm vụ nữa là công bố danh sách những nước và vùng lãnh
thổ không cam kết hoặc không hưởng ứng tích cực chống lại nạn rửa tiền. Ngay khi
bản danh sách này được công bố lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2000, 15 nước và
lãnh thổ trong danh sách không hợp tác đã nhanh chóng hành động để thực hiện
những khuyến nghị của FATF. Đây là một trong những cảnh báo cho những quốc
gia nào không có thiện chí trong các nỗ lực hợp tác quốc tế chống lại rửa tiền và
khủng bố và tất nhiên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới của các quốc gia
không phải thành viên này cũng sẽ gặp phải những trở ngại tương xứng.
1.5.2. Các khuyến nghị của FATF
Các khuyến nghị của FATF gồm có 40 khuyến nghị về phòng, chống rửa tiền và
9 khuyến nghị đặc biệt về hoạt động rửa tiền với việc tài trợ cho khủng bố.
Bốn mươi khuyến nghị phòng, chống rửa tiền đề cập đến những vấn đề như sau:
15

Thứ nhất, các khuyến nghị đề cập đến hệ thống luật pháp về phòng, chống rửa
tiền như phạm vi của tội phạm rửa tiền (khuyến nghị 1 và 2), các biện pháp tạm thời

xì-căn-đan rửa tiền, dính líu đến các quan chức cao cấp, đã gây khủng hoảng chính
trị ở một số quốc gia. Gần đây hơn, liên hệ giữa tiền bẩn và các hoạt động khủng bố
đã trở thành quan tâm hàng đầu của các cơ quan công lực.
Bản báo cáo điều tra về tội phạm kinh tế quốc tế năm 2003 của Pricewaterhouse
Coopers (PWC) dựa trên 3.600 cuộc phỏng vấn tiến hành tại 50 quốc gia trên thế
giới cho thấy tội phạm kinh tế đang tăng mạnh, cứ ba doanh nghiệp được hỏi, có
một doanh nghiệp là nạn nhân của tội phạm kinh tế.
Báo cáo cũng cho thấy công ty càng lớn, khả năng bị tội phạm kinh tế “thăm
viếng” càng cao, không có lĩnh vực nào là an toàn trước các loại tội phạm kinh tế
nhưng rủi ro cao nhất rơi vào lĩnh vực tài chính như ngành ngân hàng và bảo hiểm.
Nguồn tiền bẩn thường đến từ nhiều hoạt động tội phạm. Tuy nhiên, hiện rất khó
để đưa ra con số tổng của hoạt động rửa tiền khi nó diễn ra ngoài số liệu thống kê
kinh tế thông thường. FATF và Liên hợp quốc dự đoán hiện có khoảng 1,5 nghìn tỷ
USD bị rửa trên thế giới mỗi năm. Số tiền trên chiếm 2 % - 5 % GDP của toàn thế
giới. Hoạt động rửa tiền ngoài khối ngân hàng còn được thực hiện ở các giao dịch
ngoại hối, môi giới chứng khoán và kinh doanh chứng khoán, buôn bán kim loại
quý hiếm. Ngay cả những nơi như quán bar, nhà hàng, casino, công ty thương mại,
kinh doanh ôtô, bất động sản, kinh doanh đồ cổ, các công ty bảo hiểm ... cũng có
những hoạt động rửa tiền.
Một nguồn tin của Hãng tin Reuters (được báo Tuổi Trẻ đưa lại) chỉ ra rằng,
hàng năm trên thế giới có gần 150.000 công ty bình phong (công ty ma) được thành
lập trên khắp thế giới. Tiền bẩn được chuyển qua các công ty này và đến hơn 60
“thiên đường tài chính” lên đến hàng tỷ USD. Theo Tổ chức phi chính phủ Oxfam,
số tiền này nhiều gấp sáu lần chi phí cần cho giáo dục cơ bản ở những nước đang
phát triển và nhiều gấp ba lần chi phí dành cho chăm sóc sức khỏe cơ bản. Trong
những năm 1970 người ta chỉ thấy có 25 quốc gia được xem là “thiên đường tài
chính”, thì hiện nay con số này đã vọt lên đến 63 và khoảng phân nửa trong số đó là
những quốc gia hoặc lãnh thổ nằm dưới quyền bảo hộ của Anh hoặc là các quốc gia
17



Tại châu Á, khó khăn để chống nạn rửa tiền là các khoản quỹ “tiền lậu” ở các
nước mọc lên dày đặc theo các kênh khác nhau. Thị trường tài chính khu vực ngày
càng được sáp nhập và liên kết nhiều thành viên hơn thì khả năng rửa tiền của bọn
tội phạm càng lớn, trong hoạt động này gồm cả các tổ chức khủng bố. Mỗi ngày số
tiền luân chuyển khắp thế giới về châu Á lên tới nhiều tỷ USD và việc kiểm soát để
biệt lập đâu là đồng tiền “bẩn” hay tiền “sạch” quả là rất khó.
Ngoài ra, các tổ chức tội phạm hiện cũng rất tinh vi. Chúng rửa tiền dựa trên
những công nghệ mới mà các chuyên gia gọi là “hệ thống tài chính di động”. Hệ
thống này hoạt động ngầm rất khó phát hiện nhờ có sự móc ngoặc của nhiều mắt
xích khác nhau. Có một điều trớ trêu là, nhiều doanh nghiệp khi kinh doanh hợp
pháp thì không thành công, nhưng khi bên bờ phá sản thì lại móc ngoặc được với
các tổ chức rửa tiền để hoạt động. Số doanh nghiệp này hiện nay tồn tại không phải
là nhỏ, nhất là trong thời điểm cạnh tranh kinh tế ngày càng tăng.
Mới đây, các chuyên gia về tiền tệ của ngân hàng Trung ương Singapore đã ra
lời cảnh báo rằng, nếu hoạt động rửa tiền không được kiểm soát tốt thì nó sẽ có tác
động rất xấu tới hoạt động kinh doanh của khu vực. Hiện nay, rửa tiền và các hoạt
động khủng bố trong lĩnh vực tài chính đang gia tăng mạnh ở châu Á. Để đạt được
mục đích đưa ra, bọn tội phạm đã không ngần ngại móc nối với nhau để có bằng
được đồng tiền bẩn. Khi có đồng tiền bất hợp pháp trong tay, chúng cho xây dựng
các công ty ảo. Các công ty này khi hoạt động sẽ tác động xấu tới môi trường kinh
doanh. Nguy hiểm hơn, bọn tội phạm còn sử dụng đồng tiền bẩn vào việc tài trợ cho
các hoạt động phạm pháp như: khủng bố, buôn bán ma tuý, buôn lậu, ... Một thông
báo mới đây của tổ chức Liên Hiệp Quốc cho thấy, số tiền bẩn đã được bọn tội
phạm sử dụng vào mục đích khủng bố, tống tiền ngày càng lớn và quy mô hoạt
động của chúng ngày càng dày đặc hơn.
Trong thời gian gần đây, cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới
(WB) đã tăng cường đưa ra các hệ thống giám sát chống rửa tiền ở nhiều nước ở
châu Á và Singapore được xem là nơi điển hình để chống lại loại tội phạm này. Một
điều cần thấy rõ là, khi hoạt động tài chính của một quốc gia bị tổn thương thì khả

hai.
20

Một trong những vụ sớm nhất và nổi tiếng nhất liên quan đến việc ngân hàng
bị phạt do vi phạm các quy định và luật lệ liên quan đến hoạt động rửa tiền tại Mỹ
là trường hợp ngân hàng Boston. Mặc dù đã được yêu cầu phải tuân thủ chặt chẽ
hơn trong việc lưu giữ các chứng từ giao dịch vào năm 1980, song ngân hàng
Boston vẫn tiếp tục giao dịch với các ngân hàng nước ngoài, bao gồm cả các ngân
hàng đại lý của nó mà không hề lưu giữ hồ sơ chứng từ đến tận năm 1984. Nghiêm
trọng hơn, các chi nhánh của ngân hàng Boston đã tiếp tục thực hiện những giao
dịch với những tội phạm nổi tiếng qua nhiều năm. Những nhân vật này đã thực hiện
những phi vụ kinh doanh bất động sản, nhưng nhân viên của ngân hàng Boston đã
không báo cáo và lưu giữ chứng từ của những giao dịch này mặc dù chúng không
được loại trừ theo các quy định và luật lệ về tài chính. Đến năm 1985, ngân hàng
Boston mới thực hiện đúng các yêu cầu về phòng, chống rửa tiền theo các quy định,
luật lệ nên cuối cùng đã bị kết án và bị phạt 500.000 USD.
1.6.2.2. Kinh nghiệm phòng, chống rửa tiền tại Anh
Tại Anh, các định chế tài chính cũng hoạt động theo những quy định về
phòng, chống rửa tiền tương tự như tại Mỹ. Tháng 12/1990, nước Anh ban hành
một loạt văn bản hướng dẫn các ngân hàng trong việc phát hiện và chấm dứt các
hoạt động rửa tiền, trong đó tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ của ngân hàng
trong việc cảnh báo cho các cơ quan quyền lực những hoạt động và giao dịch đáng
ngờ. Các hướng dẫn này được xây dựng bởi Ngân hàng Trung ương Anh và các
NHTM với sự phối hợp, tham gia của Cơ quan tình báo quốc gia, hải quan, cảnh
sát. Theo đó, ngân hàng phải đích thân nhận dạng tất cả các khách hàng bằng mọi
cách có thể, kể cả bằng cách gặp mặt trực tiếp. Hướng dẫn cũng chỉ rõ các cách
thức xác nhận thông tin cá nhân, trong đó hộ chiếu là hình thức được ưu tiên, ngoài
ra các hình thức khác cũng được chấp nhận như thẻ nhân viên, bằng lái xe,… Hơn
nữa, các ngân hàng phải lưu giữ tất cả các chứng từ giao dịch trong 6 năm để phục
vụ điều tra.

một hệ thống chống rửa tiền. Trước hết, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhà nước, Hội
nghị cấp Bộ trưởng về chống rửa tiền do ngân hàng trung ương chủ trì đã được tổ
chức. Với sự tham gia của 23 cơ quan Chính phủ trong đó có cơ quan tư pháp, an
ninh, thương mại, thuế, hải quan, … Hội nghị đã nghiên cứu và đề ra chiến lược,
22

xây dựng các hướng dẫn và chính sách về chống rửa tiền đồng thời tăng cường sự
phối hợp giữa các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng các quy các chế và kiểm
tra các hành vi vi phạm.
Cấp độ thứ hai là hệ thống quản lý chống rửa tiền. Đây là một hệ thống quốc
gia do ngân hàng trung ương điều hành. Hệ thống này bao gồm hệ thống kiểm tra
các hành vi vi phạm chống rửa tiền tập trung vào lĩnh vực tài chính và một trung
tâm theo dõi thông tin chống rửa tiền. Trung tâm theo dõi thông tin là một hệ thống
xử lý dữ liệu lớn giúp phát hiện ra các hoạt động rửa tiền và các manh mối giao dịch
chuyển tiền khác liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp thông qua việc thu thập
và phân tích thông tin về các giao dịch nghi ngờ và có giá trị lớn do các NHTM báo
cáo.
Cuối cùng là hợp tác với tổ chức chống rửa tiền quốc tế vì các hoạt động rửa
tiền luôn đi kèm với vận chuyển ma túy và khủng bố. Hiện nay Trung Quốc đang
nổ lực để tham gia vào Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) và các tổ chức quốc
tế khác, thiết lập sự hợp tác giám sát song phương và trao đổi thông tin về chống
rửa tiền với các nước khác để tạo ra môi trường thuận lợi cho các tổ chức tài chính
và các chủ thể kinh tế trong các hoạt động kinh doanh.
Một vài số liệu về hoạt động chống rửa tiền tại Trung Quốc trong thời gian
qua như sau:
Cục Quản lý ngoại hối Nhà nước Trung Quốc (SAFE) đã thông báo một số
thành tựu ban đầu trong cuộc chiến chống nạn rửa tiền của nước này. Từ tháng 3
đến cuối năm 2003, SAFE đã lệnh cho các chi cục khu vực tiến hành kiểm tra tính
xác thực của các giao dịch ngoại hối của 18.279 công ty và cá nhân. Kết quả phát
hiện được 36 trường hợp có các giao dịch ngoại hối bất hợp pháp với số tiền 20,5

nhập bất hợp pháp. Tháng 03/2004, Ủy ban Liên bang Nga về giám sát tài chính, cơ
quan chịu trách nhiệm về chống rửa iền ở Nga, về thu thập, phân tích và cung cấp
thông tin tương ứng cho các cơ quan bảo vệ pháp luật Nga, đã dược chuyển thành
cơ quan liên bang về kiểm soát tài chính. Ngân hàng trung ương Nga, cơ quan giám
sát sự tuân thủ pháp luật về phòng chống hợp thức hóa các khoản thu nhập bất hợp
pháp của hệ thống ngân hàng, đã thực hiện kiểm tra hơn 1000 định chế tài chính và
thu hồi giấy phép của một số ngân hàng vi phạm pháp luật về phòng, chống rửa
tiền. 24

Kết luận chương 1
Trong chương này, luận văn đã giới thiệu các khái niệm về rửa tiền, các phương
thức và quy trình rửa tiền tiêu biểu cũng như những ảnh hưởng của hoạt động rửa
tiền đến nền kinh tế. Hoạt động rửa tiền ngày nay không bó hẹp trong phạm vi một
quốc gia hay một khu vực nữa mà luôn có xu hướng mở rộng trên toàn thế giới với
khối lượng tiền được tẩy rửa mỗi năm ngày càng gia tăng.
Các biện pháp phòng, chống rửa tiền được FATF đưa ra dưới dạng các khuyến
nghị được xem như những tiêu chuẩn để xem xét một quốc gia có thực sự tham gia
vào cuộc chiến chống rửa tiền hay không. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của
kinh tế thế giới, các phương thức rửa tiền cũng ngày càng tinh vi hơn. Chính vì vậy,
FATF luôn theo dõi những xu hướng biến đổi của hành vi rửa tiền và đưa ra các
biện pháp để đối phó với vấn nạn này.
Dù cho hoạt động rửa tiền có xu hướng biến đổi như thế nào thì ngân hàng vẫn
là sự lựa chọn hàng đầu để thực hiện hành vi tẩy rửa bởi
vì khả năng giao dịch rất
lớn và đồng tiền qua ngân hàng sẽ trở thành một đồng tiền sạch, từ đó có thể giao
dịch đến bất kỳ đâu mà không gây ra bất cứ một sự nghi ngờ gì về tính hợp pháp
của chúng. Ngành ngân hàng Việt Nam hiện cũng đang đứng trước vấn nạn này.

2.1.1. Liên quan đến hành vi lợi dụng việc được mở tài khoản tại NHNN
để lừa đảo
Năm 1998, một nhân vật người Đức đến NHNN Việt Nam xin mở một tài
khoản và nói rằng nếu cho mở tài khoản thì sau một tuần sẽ chuyển vào 100 triệu
USD để cho vay trong 30 năm, với lãi suất ưu đãi 2%/năm
4
.
Không ít cán bộ trong NHNN Việt Nam lúc đó, kể cả lãnh đạo, cũng đã phấn
khởi theo đuổi việc này. Nhưng sau khi thận trọng xem xét, tìm hiểu, lãnh đạo ngân
hàng mới biết được đây là hành vi lợi dụng việc được mở tài khoản tại NHNN để
lừa đảo.
Theo lời ông Lê Đức Thúy, Thống đốc NHNN Việt Nam: “Tôi cũng đã từng
tiếp một số nhân vật vào Việt Nam, được cả người làm trong cơ quan bảo vệ pháp

4
Bảo Minh, Nghị định về chống rửa tiền có thực sự đáng lo ngại, Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày
19/06/2005

Trích đoạn Xây dựng hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng hiệu quả. Nhanh chóng trở thành thành viên chính thức của FATF Thực hiện phòng, chống tham nhũng có hiệu quả Các giải pháp đối với vấn đề tự do hóa chu chuyển vốn quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status