LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế quốc dân
Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế Kế hoạch và Phát triển
Tên tôi là :Đinh Thị Phương Thảo
Sinh viên lớp :Kế hoạch 48B
Khoa :Kế hoạch và phát triển
Sau một thời gian thực tập tại phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Yên Châu, tỉnh
Sơn La, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thanh Hà, và tập thể cán bộ phòng
Tài chính-Kế hoạch, tôi đã hoàn thành chuyên đề luận văn tốt nghiệp với đề
tài:"Hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội huyện Yên
Châu, tỉnh Sơn La."
Nay tôi viết đơn này với nội dung sau:
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Hà, và cán bộ tại cơ quan. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
chuyên đề tốt nghiệp nào trước đây.
Sinh viên
Đinh Thị Phương Thảo
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KH Kế hoạch
KHH Kế hoạch hóa
KTXH Kinh tế-xã hội
Bộ KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Sở KH&ĐT Sở Kế hoạch và Đầu tư
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
TD&ĐG Theo dõi và đánh giá
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CHLB Cộng hòa liên bang
AN-QP An ninh-Quốc phòng
hoàn thiện công tác lập KH là một việc hết sức cần thiết và cấp bách.
Đối với các địa phương hoàn thiện công tác lập KH phát triển KTXH đang là
một trong những trọng tâm của công tác cải cách hành chính. Bởi lẽ, chỉ khi công
tác này được đổi mới, hoàn thiện sẽ giúp địa phương có công cụ điều hành, quản lý
đời sống KTXH trên địa bàn một cách hiệu quả. Bên cạch đó,việc hoàn thiện công
tác xây dựng KH phát triển KTXH là tiền đề để huy động một cách có hiệu quả
nguồn lực của toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Vai trò của
công tác KH đã và đang được tiếp tục khẳng định.
Yên Châu là một trong những địa phương được triển khai nhiều hoạt động
hoàn thiện công tác lập KH phát triển KTXH. Hoạt động tham vấn KH phát triển
KTXH 5 năm, hàng năm của huyện sớm được triển khai trên toàn địa bàn của
huyện, trong khuân khổ dự án “ Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà”,Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hợp tác kỹ thuật CHXHCN Việt Nam-Liên
bang Đức tài trợ, đồng thời dự án cũng mở lớp tập huấn hỗ trợ các cán bộ phòng
Tài chính-Kế hoạch huyện về công tác lập KH từ thôn bản, đánh giá nông thôn có
người dân tham gia. Đây là những tiền đề quan trọng để huyện có thể tiếp tục triển
khai công cuộc này sâu rộng hơn,nhằm tạo ra một sự chuyển biến thật sự trong công
tác lập KH phát triển KTXH trong toàn huyện.
Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn công tác lập KH cấp huyện ở Yên Châu
mặc dù đã có nhiều hoàn thiện, đổi mới, song quá trình hoàn thiện thiếu đồng bộ,
hiệu quả và hiệu lực còn thấp, KH còn mang nặng tính áp đặt, chủ quan duy ý chí.
Công tác lập kế hoạch hàng năm được thực hiện theo khung hướng dẫn từ Trung
ương đến địa phương và được Trung ương tổng hợp trong vòng một tháng, sau đó
đã không đủ thời gian tổng hợp từ cơ sở nên quy trình tham vấn các bên liên quan
vào bản KH vẫn chưa đạt hiêu quả cao. Các chỉ số về nguồn tài chính và KH
thường cách xa nhau, thiếu các chỉ tiêu lồng ghép giữa kinh tế-xã hội-xóa đói giảm
nghèo-môi trường. Công tác lập KH chưa thực sự được coi trọng, bản KH chưa
thực sự trở thành công cụ hữu ích cho công tác quản lý của các cấp chính quyền
huyện.
Từ những nhược điểm nêu trên cho thây việc hoàn thiện công tác lập KH phát
Yên Châu Sơn La (giai đoạn 2011-2015)
Do em còn nhiều hạn chế về trình độ trong lý thuyết và thực tiễn, mặc dù đã
nhiều cố gắng song bài chuyền đề này vẫn không tránh khỏi sai sót, nên em mong
nhận được ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô giáo, bạn bè và những ai quan tâm
tới đề tài này.
Cuối cùng, em xin được chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Thanh Hà, cùng
toàn thể các cô chú cán bộ phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Yên Châu-Sơn La đã
nhiệt tình đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt bài chuyên đề thực tập này.
CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
HUYỆN YÊN CHÂU – SƠN LA
1.1. Kế hoạch trong nền kinh tế thị trường
1.1 .1 Khái niệm và vai trò của kế hoạch trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.1 Khái niệm về kế hoạch
Nhà nước có một vai trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế
hiện đại. Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy
tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn, khắc phục những
khuyết tật của thị trường, để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế.
Để thực hiện được vai trò của mình, Nhà nước đã sử dụng nhiều công cụ khác
nhau như: hệ thống luật pháp, hệ thống hoạch định phát triển, các công cụ đòn bẩy
kinh tế(thuế, trợ cấp…), các chính sách kinh tế(tài khóa, tiền tệ, thương mại, đầu
tư…), lực lượng kinh tế của Nhà nước (doanh nghiệp Nhà nước, dự trữ quốc gia…).
Công cụ kế hoạch với tư cách là một trong những công cụ khác nhau được Chính
phủ sử dụng điều tiết nền kinh tế thị trường. Kế hoạch được hiểu là sự thể hiện ý đồ
của chủ thể về sự phát triển trong tương lai của đối tượng quản lý và các giải pháp
để thực thi. Nó xác định xem một quá trình phải làm gi? Làm thế nào? Khi nào làm
và ai sẽ làm?
Như vậy, Kế hoạch là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế
quốc dân, nó là sự cụ thể hóa các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển
kế hoạch được tiến hành trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh cấp trên giao cho
cấp dưới, phương thức cấp phát-giao nộp vốn, vật tư, lao động, sản phẩm hàng hóa
và các chỉ thị mệnh lệnh mang tính hành chính. Như vậy, kế hoạch là công cụ chủ
yếu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
* Kế hoạch là công cụ định hướng phát triển trong nền kinh tế thị trường
Đặc trưng cơ bản của các nước có nền kinh tế thị trường là tính chất đa thành
phần kinh tế, sở hữu tư nhân dưới nhiều hình thức khác nhau thống trị nền kinh tế.
Kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường là kế hoạch hóa định hướng phát triển,
trong đó các mục tiêu và chỉ tiêu được xác định mang tính định hướng, dự báo, nó
chỉ thể hiện trong một số lĩnh vực chủ yếu, được ưu tiên trong từng giai đoạn phát
triển nhất định. Để thực hiện các mục tiêu đặt ra, cơ chế tác động của Chính phủ
thường mang tính gián tiếp thông qua các chính sách định hướng và điều tiết vĩ mô.
Các công cụ kế hoạch phát triển bao gồm: Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chương trình phát triển KTXH trực tiếp giúp Chính phủ thực hiện chức năng ổn
định vĩ mô và định hướng tương lai trong điều kiện kinh tế thị trường. Chính phủ,
thông qua các công cụ hoạch định, sẽ đánh giá được tình hình kinh tế hiện tại và
mức độ, khả năng giải quyết các vấn đề KTXH tại thời điểm nhất định, xây dựng
các mục tiêu chiến lược định hướng sự phát triển KTXH của từng vùng, từng ngành
trong tương lai, liên kết mục tiêu đặt ra với cơ cấu nguồn lực, thực hiện các ưu tiên
đầu tư cần thiết để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, liên kết các ngành, các vùng
kinh tế thành một thể thống nhất theo các chương trình phát triển KTXH của quốc
gia và các cấp khác, gắn các chính sách vào cơ chế giải quyết các nhiệm vụ chiến
lược đặt ra, cung cấp các thông tin và tình hình thị trường trong và ngoài nước cho
các nhà kinh doanh.
Như vậy, kế hoạch là công cụ định hướng phát triển trong nền kinh tế thị trường.
● Kế hoạch là một trong hai công cụ điều tiết trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh thị trường luôn tồn tại hai công cụ điều tiết là thị trường và kế
hoạch. Điều tiết nền kinh tế thị trường bảo đảm cho sản xuất đạt hiệu quả tài chính
cao, là cơ sở lựa chọn và phân bổ nguồn lực tối ưu cho các hoạt động sản xuất và
tiêu dùng. Tuy nhiên, nó cũng còn có nhiều khuyết tật, hạn chế. Kế hoạch phát triển
KTXH của đất nước trong thời kỳ KH và được sử dụng để thực hiện hành vi điều
tiết vĩ mô của nhà nước. Do có sự khác nhau về bản chất của kế hoạch trong cơ chế
KHH tập trung và trong nền kinh tế thị trường nên hệ thống chỉ tiêu kế hoạch trong
hai cơ chế cũng có sự khác nhau cả về hình thức và bản chất.
● Hệ thống chỉ tiêu KH trong cơ chế KHH tập trung có đặc điểm:
- Hệ thống chỉ tiêu mang tính pháp lệnh. Trong cơ chế KHH tập trung, vấn đề
quan trọng nhất là hình thành hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh.
- Trong hệ thống chỉ tiêu thì chủ yếu là các chỉ tiêu kinh tế, không chú ý nhiều
đến các chỉ tiêu xã hội–môi trường.
- Sử dụng các chỉ tiêu hiện vật.
● Hệ thống chỉ tiêu KH trong cơ chế thị trường có đặc điểm:
- Hệ thống chỉ tiêu mang tính định hướng, dự báo.
- Trong hệ thống chỉ tiêu bao gồm sử dụng các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi
trường, các chỉ tiêu lồng ghép.
- Sử dụng các chỉ tiêu giá trị.
1.1.2.3. Phương pháp lập KH
Theo phương pháp lập kế hoạch truyền thống trước đây, việc lập kế hoạch
chủ yếu bắt đầu từ việc xác định những nguồn lực sẵn có của địa phương. Đây là
yếu tố quan trọng quyết định đến việc đề ra mục tiêu cần thực hiện trong thời kỳ kế
hoạch. Phương pháp lập kế hoạch này là phương pháp lập kế hoạch dựa trên những
gì mình có. Nó có một số đặc điểm sau:
- Việc lập kế hoạch chủ yếu là xuất phát từ các căn cứ đầu vào để xác định các
mục tiêu trong thời kỳ kế hoạch dẫn đến các bản kế hoạch sẽ không tạo ra được tính
đột phá khi thực hiện trong thực tế và bị rằng buộc bởi những gì sẵn có.
- Với cách lập kế hoạch như thế này cũng dẫn đến một tình trạng đó là sẽ có ít
phương án kế hoạch địa phương có thể lựa chọn nhằm tìm kiếm được khả năng phát
triển tối ưu nhất.
Từ những đặc điểm trên của phương pháp lập kế hoạch theo kiểu cũ thì dẫn
đến một tình trạng chung đó là công tác lập kế hoạch bị rơi vào tình trạng bị động.
Cho nên, cùng trong quá trình hoàn thiện thì công tác lập kế hoạch cũng đang được
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch.
- Gắn kết được giữa kế hoạch với ngân sách. Kế hoạch trở thành các khung
phân bổ chi phí ngân sách theo mục tiêu đã chọn, tránh thất thoát và hoang phí.
Sự khác biệt chủ yếu giữa xây dựng kế hoạch truyền thống và xây dựng kế
hoạch dựa vào kết quả:Quy trình lập kế hoạch truyền thống chủ yếu dựa vào đầu
vào và đầu ra mà chưa tính đến kết quả tác động của nó.Phương pháp xây dựng kế
hoạch truyền thống chủ yếu dựa vào đầu vào và đầu ra trong khi phương lập kế
hoạch dựa vào kết quả chú trọng tới các kết cục của các mục tiêu, chỉ tiêu để xây
dựng các phương án, giải pháp và hành động nhằm đạt được mục tiêu đề ra. ( Phụ
lục 2, Sơ đồ sự khác nhau giữa lập kế hoạch truyền thống và lập kế hoạch dựa vào
kết quả)
Qua những phân tích, so sánh trên ta có thể thấy rõ sự khác nhau cơ bản giữa
hai phương pháp lập kế hoạch truyền thống và dựa vào kết quả. Trong đó, điểm
khác biệt lớn nhất là một bên dựa vào nguồn lực sẵn có rồi mới xác định mục tiêu
cần thực hiện cho thời kỳ kế hoạch dựa trên nguồn lực đó, còn một bên thì xác định
mục tiêu mong muốn thực hiện trước rồi mới tìm cách huy động, khai thác tổng thể
các nguồn lực nhằm thực hiện thành công mục tiêu đó.
1.1.2.4 Trình tự xây dựng KH
Do có sự khác biệt về bản chất, nội dung và tính chất của KH trong cơ chế
KHH tập trung và KH trong nền kinh tế thị trường nên trình tự xây dựng KH của
hai phương thức cũng có những sự khác biệt
Trong cơ chế KHH tập trung, KH được xây dựng mang nặng tính bao cấp,
phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế chỉ chú trọng hai thành phần sở hữu quốc doanh
và tập thể, mang tính dàn đều, không khuyến khích sự phát triển của các thành phần
kinh tế khác. KH được xây dựng từ trên xuống theo quy trình sau:
- Trung ương giao số kiểm tra xuống cho các bộ , ngành, địa phương
- Các đơn vị và địa phương giử nhu cầu lên cho cơ quan trung ương.
- Trung ương căn cứ nguồn lực hiện có xem xét, cân đối, phân bổ chi tiết và cụ
thể từng sản phẩm, từng mặt hằng đến từng đơn vị.
Quá trình xây dựng như vậy thường bị chi phối bởi cả những mong muốn chủ
Các bộ, ngành trung ương với chức năng quản lý nhà nước có nhiệm vụ xây
dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển toàn ngành, tổng hợp xử lý và tối ưu hóa các
phương án kế hoạch từ các tổng công ty, các công ty, các cơ sở sản xuất kinh
doanh. Mối quan hệ giữa bộ Kế hoạch-Đầu tư với các bộ ngành trung ương là mối
quan hệ hai chiều, cung cấp thông tin, xử lý liên ngành và tổng hợp các phương án
tối ưu trong tổng thể phát triển nền kinh tế.
● Cơ quan kế hoạch các cấp địa phương
Sở Kế hoạch-Đầu tư có chức năng tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố về
định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương và là tổ chức ngành dọc của Bộ
KH-ĐT. Chức năng của Sở Kế hoạch-Đầu tư cũng giống như Bộ KH-ĐT nhưng
quy mô và phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh. Sở KH-ĐT chịu sựu quản lý hành
chính, nhà nước UBND tỉnh và chịu sự quản lý theo ngành dọc và Bộ KH-ĐT. Bên
cạch sở KH-ĐT, các sở, các ban ngành chuyên môn ở tỉnh như Sở Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, Sở Khoa học công nghệ…với chức năng của mình cũng sẽ
nghiên cứu quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành mình ở trên địa phương.
Trên cơ sở đó, Sở KH-ĐT sẽ tổng hợp theo tuyến dọc và ngang để có bản kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Tương tự như cấp tỉnh, các cấp kế hoạch cấp dưới cũng được hình thành và tổ
chức với quy mô nhỏ hơn. Tùy thuộc vào quy mô các địa phương huyện, xã, các cơ
quan chuyên trách xây dựng và quản lý kế hoạch sẽ được hình thành (xem sơ đồ 1
trang 12).
1.1.4 Quy trình lập kế hoạch
Công tác lập KH cấp huyện ở hầu hết các địa phương đều được tiến hành theo
quy trình “2 xuống- 1 lên”, cụ thể là 2 lần từ trên xuống ( lần 1: hướng dẫn KH, lần
2: giao chỉ tiêu KH) và 1 lần từ dưới lên( lập KH từ dưới lên sau khi được hướng
dẫn). Theo quy trình này, cấp KH trên sẽ gửi hướng dẫn lập xuống cho cấp dưới,
trên cơ sở đó, cấp dưới xây dựng KH của mình và gửi lên trên. Sau khi tổng hợp và
phê duyệt, cấp trên sẽ giao chỉ tiêu kế hoạch xuống cấp dưới thực hiện. Đây là quy
trình lập KH mang tính chất của thời kỳ bao cấp, nặng về việc áp đặt mục tiêu
nhiệm vụ từ trên xuống. Mặc dù trong thời gian gần đây, số chỉ tiêu pháp lệnh do
địa
phương
Kế
hoạch
ngành
kinh tế, xã hội và môi trường.
KH huyện hoạch định KH chung tổng thể của huyện với việc đưa ra những
chính sách hợp lý dựa trên cơ sở sử dụng tổng hợp những nguồn lực địa phương
nhằm phát hiệu quả tổng thể KT-XH, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội và bảo vệ môi trường.
KH phát triển KTXH có vai trò điều chỉnh, điều tiết sự phát triển giữa các
vùng, các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế nhằm phát huy lợi thế của các
vùng, các thành phần kinh tế, đồng thời điều chỉnh để giảm bớt sự chênh lệch giữa
các vùng, các tầng lớp dân cư tạo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội lành mạnh của
địa phương.
- Định hướng PTKT-XH của huyện. KH cấp huyện đưa ra một hệ thống
mục tiêu phát triển vĩ mô về kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện, xây dựng các dự án,
các chương trình, tìm các giải pháp và các phương án thực hiện, dự báo khả năng,
phương hướng phát triển, xác định các cân đối lớn… nhằm thực hiện chức năng dẫn
dắt, định hướng phát triển, xử lý kịp thời các mất cân đối xuất hiện trong nền kinh
tế thị trường, đồng thời tạo đòn bẩy cần thiết, khuyến khích và hỗ trợ các thành
phần kinh tế cùng thực hiện vì mục tiêu chung của địa phương.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động KT-XH của huyện. KH cấp huyện thường
xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện tiến độ kế hoạch và tuân thủ các cơ chế,
thể chế, chính sách hiện hành áp dụng trong thời kỳ kế hoạch.Đánh giá kết quả của
việc thực hiện các chính sách, mục tiêu đặt ra. Phân tích hiệu quả tài chính. hiệu quả
kinh tế-xã hội bảo đảm các luận cứ quan trọng cho việc xây dựng các kế hoạch của
thời kỳ tiếp theo.
Tóm lại, xuất phát từ chức năng là một trong những công cụ quản lý quan
trọng của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và vai trò của kế
trình này quá trình hoàn thiện những công cụ quản lý Nhà nước từ cơ chế cũ sang
cơ chế mới. Kế hoạch phát triển KTXH là một trong những công cụ quản lý Nhà
nước đã có những hoàn thiện mạnh mẽ trong thời kỳ quá độ này. Tuy nhiên, trong
nội dung của KH phát triển quốc gia nói chung và KH phát triển KTXH cấp huyện
nói riêng vẫn còn mang nặng nhiều tính chất kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa
tập trung trước đây. Điều đó cho thấy công tác lập KH phát triển KTXH ở cấp
huyện vẫn còn những hạn chế:
Thứ nhất, nhận thức về việc lập kế hoạch cũng như vai trò, vị trí của kế
hoạch cấp huyện còn chưa đúng đắn. Trên thực tế hiện nay, thì nhận thức về công
tác lập kế hoạch phát triển KTXH ở cấp huyện chỉ thay đổi về mặt hình thức so với
công tác kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn về nội dung thì vẫn duy
trì ở phương thức lập kế hoạch trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây.Xét
một cách toàn diện thì vai trò và vị trí của kế hoạch cấp huyện chưa được đặt đúng
chỗ, nhận thức về kế hoạch chưa đúng hay đúng mà chưa đủ nên chính quyền cấp
huyện vẫn chưa thực sự sử dụng công cụ kế hoạch, chưa thực sự coi đây là một
công cụ quan trọng giúp cho viêc điều hành quản lý của chính quyền cấp huyện trở
nên hiệu quả.
Thứ hai, việc lập kế hoạch chưa thực sự làm cho kế hoạch gắn với thị trường.
Các căn cứ cho việc lập kế hoạch chưa xuất phát từ cơ sở đánh giá đúng thực trạng
phát triển KTXH của địa phương, các định hướng phát triển chưa dựa trên sự nắm
bắt quy luật, nắm bắt nhu cầu một cách khách quan. Các căn cứ chủ yếu cho việc
lập kế hoạch ở huyện hiện nay chủ yếu xuất phát từ yêu cầu kế hoạch của cấp trên.
Thứ ba, công tác lập kế hoạch cấp huyện hiện nay vẫn còn mang tính chất mệnh
lệnh. Đây là một trong những tồn tại lớn nhất mà nền kinh tế tập trung bao cấp để lại.
Trong đó, các mục tiêu, chỉ tiêu chính mang tính áp đặt và chịu sự chi phối của nhóm
cán bộ lập kế hoạch và sự chỉ đạo của cá nhân những người lãnh đạo mà thiếu đi sự
tham vấn của cộng đồng. Bệnh sính thành tích cũng là nguyên nhân làm cho những
mục tiêu mang tính chủ quan, thiếu tính khả thi. Cũng như cơ sở chính cho việc lập kế
hoạch ở huyện dựa vào nguồn ngân sách được cấp cho. Dẫn đến việc đưa ra các giải
pháp chính sách thực hiện chưa gắn liền với thực tiễn đang diễn ra.
thống nhất về phương pháp, nội dung, quy trình. Chính vì những hạn chế này đã
làm cho kế hoạch của huyện đã không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện
nay, làm cho vai trò của kế hoạch bị mờ nhạt. Để tiếp tục giữ vững và tăng cường
hơn nữa vai trò của kế hoạch trong điều kiện hiên nay chúng ta cần phải hoàn thiện
công tác lập KH phát triển KTXH của huyện Yên Châu – Sơn La.
1.2.4 Các yêu cầu của lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện
Lập KH là một trong những công cụ quản lý quan trọng của các cấp chính
quyền từ trung ương tới địa phương. Lập KH tốt là điều kiện tiền đề để tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Vai trò của
công tác lập kế hoạch đã và đang tiếp tục được khẳng định. Tuy nhiên, khi nền kinh
tế chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì công tác lập kế
hoạch của huyện cũng cần có những yêu cầu mới đặt ra nhằm hoàn thiện hơn nữa
vai trò mình.
Thứ nhất, cần thay đổi tư duy của chính quyền cấp huyện, cũng như những
bên hữu quan và cộng đồng dân cư về công tác lập KH của địa phương. Kế hoạch
hóa là một công cụ chủ yếu của công tác quản lý. Trong điều kiện chuyển đổi nền
kinh tế sang cơ chế thị trường hiện nay hiện nay ở nước ta thì công tác kế hoạch hóa
dường như bị xem nhẹ. Mặc dù, trong thời gian gần đây đã có sự chú ý đến, song
công tác lập kế hoạch phát triển KTXH vẫn chưa đáp ứng nhu cầu và mang nặng
tính chất trong cơ chế cũ. Như vậy. một vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới tư duy và
nhận thức trong lập kế hoạch. Đổi mới tư duy kế hoạch thực chất là thay đổi nhận
thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, cách thức tiến hành lập kế hoạch cho phù hợp
với tình hình thực tiễn phát triển KTXH của địa phương. Thay đổi tư duy kế hoạch
là tiền đề cho đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình cũng như cách thức tổ
chức, điều hành kế hoạch. Từ đó, mới có thể nâng cao vai trò quan trọng của kế
hoạch cấp huyện, đưa nó trở thành một công cụ hữu ích của chính quyền đưa kinh
tế xã hội của địa phương phát triển đi lên.
Thứ hai, việc lập kế hoạch ở huyện phải đảm bảo cho kế hoạch có tầm nhìn
chiến lược dài hạn của địa phương. Hoạt động của cơ chế thị trường hiện nay có
một nhược điểm lớn đó là tính thiển cận, chú trọng quá mức vào những lợi ích ngắn
các bên liên quan trong công tác kế hoạch hóa, tham gia vào một hoặc nhiều công
đoạn trong cả quy trình xây dựng, thực hiện và giám sát kế hoạch. Việc tham gia
các bên hữu quan trong công tác kế hoạch hóa tạo ra sự đồng thuận cao trong xã
hội, giữa các ngành, các cấp, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện và khi
đó bản kế hoạch được xây dựng lên mới có tính khả thi cao nhất.
Thứ sáu, trong quá trình xây dựng KH ở huyện cần phải gắn liền với việc đề
xuất các giải pháp, chính sách thực hiện, phải đảm bảo tính chủ động, sáng tạo, linh
hoạt. KH phát triển KTXH của huyện được xây dựng để thực hiện các mục tiêu phát
triển của huyện và trong nền kinh tế thị thị trường hiện nay, mọi yếu tố luôn luôn biến
động không ngừng. Do vậy, KH được xây dựng vận phải vận dụng sáng tạo những
điểm mạnh phù hợp với điều kiện của địa phương và sự biến động khôn lường, không
rập khuân máy móc, phải luôn đảm bảo tính linh hoạt với mọi điều kiện để sát thực tế
hơn, bản kế hoạch cũng trở nên khả thi hơn và đạt kết quả cao nhất.
Tóm lại, hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở huyện là một công việc gắn liền
với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện
nay, những yêu cầu hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở cấp huyện là cấp thiết. Chỉ
khi nào đáp ứng được các yêu cầu đó thì KH phát triển KTXH cấp huyện mới trở
nên là một công cụ quản lý hữu hiệu đối với hoạt động quản lý Nhà nước của chính
quyền địa phương.
1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội ở huyện Yên Châu – Sơn La.
Trong hệ thống KHH ở Việt Nam, kế hoạch đóng vai trò là công cụ quản lý, tổ
chức triền khai, theo dõi đánh giá các hoạt động kinh tế xã hội trong từng giai đoạn
nhất định. Hiện nay, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, thì yêu cầu
đặt ra đối với công cụ kế hoạch là phải có những thay đổi cần thiết đáp ứng những
đòi hỏi và điều kiện mới trong quá trình chuyển đổi. Muốn đáp ứng được những
yêu cầu đó, đòi hỏi hoàn thiện và đổi mới mạnh hơn nữa công cụ quản lý, đặc biệt
là công cụ kế hoạch hóa. Công tác lập KH phát triển KTXH cấp huyện là một bộ
phận trong hệ thống kế hoạch phát triển KTXH quốc gia, hoàn thiện công tác lập kế
trong xây dựng và thực hiện kế hoạch.
Từ những hạn chế của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Yên Châu, ta thấy
được việc hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở huyện Yên Châu là một yêu cầu tất yếu.
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN YÊN CHÂU – SƠN LA
2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Yên Châu –Sơn La(giai
đoạn 2000-2009)
2.1.1 Điều kiện tự nhiên , tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Yên châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn la, nằm trên trục Quốc
lộ 6, cách Hà nội 256 km theo hướng tây bắc, cách thị xã Sơn la 64 km về phía
đông, là khu vực đệm giữa 2 cao nguyên Nà sản và Mộc châu, phía đông giáp
huyện Mộc châu, phía tây giáp huyện Mai sơn, phía bắc giáp huyện Bắc Yên, phía
nam có 47 km đường biên giới tiếp giáp với nước CHDCND Lào.
Huyện có 5 dân tộc, trong đó cơ cấu dân tộc Thái: 53,5 %; Dân tộc Kinh 20,5
%; Dân tộc H
’
mông12,7 %; Dân tộc Sinh mun 12,86 % và dân tộc Khơ mú 0,44 %.
Mật độ dân số 68 người/km
2
, trong đó các xã vùng cao Biên giới mật độ 52
người/km
2
.
Huyện Yên Châu được chia thành 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã
đó là: Chiềng Đông, Chiềng Sàng, Chiềng Pằn, Viêng Lán, Thị Trấn Yên Châu,
Chiềng Khoi, Sặp Vạt, Chiềng Hặc, Tú Nang, Mường Lựm, Lóng Phiêng, Chiềng
Tương, Phiêng Khoài, Chiềng On và Yên Sơn.
2.1.1.2 Địa hình
+ Đất nhiệt đới ẩm
+ Đất ruộng.
Tài nguyên đất là kết quả cuả quá trình phù sa suối dốc tụ, loại đất có độ dốc
dưới 25
0
chiếm khoảng 20%, đất có tầng dầy 30 cm chiếm 45% trong tổng diện
tích. Thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt trung bình.
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 84.367 ha.
Bảng1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Châu-Sơn La
1 Đất đang sản xuất Nông nghiệp: 16.989,2 ha chiếm 20,13 %
2 Đất đang sản xuất Lâm nghiệp: 28.709,2 ha chiếm 34,00 %
3 Đất dân cư nông thôn: 399,62 ha chiếm 0,47 %
4 Đất đô thị: 45,45 ha chiếm 0,053 %
5 Đất chuyên dùng: 1.695,8 ha chiếm 2,0 %
6 Đất chưa sử dụng: 36.528,4 ha chiếm 43,27 %
● Tài nguyên nước
* Vùng quốc lộ 6: Có 2 hệ thống suối chính: Hệ thống suối Sặp và hệ thống
suối Vạt. Hệ thống suối Sặp bắt nguồn từ Mộc Châu và các nhánh khác nhập về:
Huổi Tô Buông, Huổi Nà Ngà, Suối Phà. . . và hợp với suối Vạt ở khu Sặp Vạt. Trữ
lượng nước nhiều nhưng giá trị sử dựng của suối này còn thấp, chưa được khai thác