MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 4
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY 7
ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nguồn vốn của ngân hàng thương mại 7
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Vai trò của nguồn vốn đối với NHTM 7
1.1.3. Phân loại 9
1.1.4. Đặc điểm 14
1.2. Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại 17
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả huy động vốn của NHTM 17
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn NHTM 18
1.2.3. Phương pháp xác định chi phí huy động vốn 22
1.2.4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của NHTM 30
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM 34
1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan 34
1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHÚC
YÊN 40
2.1. Tổng quan về chi nhánh ngân hàng hàng thương mại cổ phần công thương
Việt Nam – Chi nhánh Phúc Yên 40
2.1.1. Tên gọi và trụ sở 40
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng TMCP công thương 40
Việt Nam – chi nhánh Phúc Yên
2.1.3. Cơ cấu nhân sự 43
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Phúc Yên 43
2.1.5. Kết quả hoạt động của chi nhánh ngân hàng TMCP công thương 44
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Cụm từ
Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CKH Có kỳ hạn
GTCG Giấy tờ có giá
KKH Không kỳ hạn
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
TG Tiền gửi
TCKT Tổ chức kinh tế
CN Chi nhánh
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức NHTMCP Công thương Phúc Yên
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của CN Phúc Yên từ năm 2005 - 2009
Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng của CN Phúc Yên 2007-2009
Bảng 2.4: Cơ cấu vốn theo kỳ hạn của NHTMCP CT Phúc Yên từ 2007-2009
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn theo loại tiền tệ của NHTMCP CT Phúc Yên từ 2007-2009
Bảng 2.6: Chi phí huy động vốn của chi nhánh Phúc Yên từ 2007-2009
4
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính quan trọng nhất
của hệ thống tài chính quốc gia; Nếu đối với sự vận hành của nền kinh tế quốc gia,
nguồn vốn được xem như là máu trong một cơ thể sống thì hệ thống các ngân hàng
thương mại là các mao mạch chính. Hoạt động của các ngân hàng thương mại là những
thể hiện sâu sắc nhất những diễn biến của thị trường tiền tệ nói riêng và thị trường tài
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới các hình thức như huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng
thương mại – đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân
hàng. Nguồn vốn trong NHTM được định nghĩa là toàn bộ tài sản bên Nợ trong
bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Nó bao gồm vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi
vay, trong đó nguồn vốn đi vay là chủ yếu và đóng vai trò quan trọng bởi đây chính là
nguồn tạo lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn
dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính đặc thù riêng vốn có của NHTM. Đây cũng
chính là điểm khác biệt cơ bản giữa NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Thông thường kết cấu nguồn vốn của các NHTM là như nhau nhưng xét về số lượng
các thành phần thì khác nhau. Sư khác biệt đó xuất phát từ cách thức, mục tiêu huy
động vốn của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, thông qua đó người ta có thể đánh giá được
nhiều điều về hoạt động cũng như về khả năng quản trị của Ban lãnh đạo của ngân
hàng đó.
1.1.2. Vai trò của nguồn vốn đối với ngân hàng thương mại
- Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Bất kỳ một loại
hình doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều cần có vốn. Bởi vốn
phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh của doanh nghiêp;
Riêng đối với lĩnh vực ngân hàng, do tính chất đặc thù – kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn
là cơ sở để NHTM tiến hành mọi hoạt động kinh doanh. Trong lĩnh vực ngân hàng nói
riêng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh, mà còn là đối tượng kinh doanh chủ
yếu; Chính vì vậy, có thể nói rằng nguồn vốn là yếu tố đầu tiên và quan trọ ng nhất
quyết định hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng muốn mở rộng kinh
doanh, thu nhiều lợi nhuận, tăng uy tín thì ngoài vốn điều lệ theo luật định, ngân hàng
phải thường xuyên quan tâm đến việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động
của mình.
7
- Vốn đầu tư của ngân hàng sẽ quy định quy mô hoạt động tín dụng trung,
dài hạn và các hoạt động khác của ngân hàng: Vốn của ngân hàng quyết định đến
việc mở rộng hay thu hẹp quy mô khối lượng tín dụng. Thông thường, nếu so với các
hàng trên thị trường.
Tóm lại vốn đối với nền kinh tế nói chung, và nguồn vốn đối với NHTM nói
riêng là rất quan trọng. Có thể nói, huy động vốn là việc làm cần thiết hàng đầu của
ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM không chỉ giúp NHTM tồn tại, phát triển mà còn
cho phép NHTM mở rộng quy mô hoạt động, vươn tới nhiều lĩnh vực mới, giúp ngân
hàng có đủ uy tín và sức mạnh để tồn tại và phát triển trên thương trường.
1.1.3 Phân loại
1.1.3.1 Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hang (được pháp luật cho phép) chủ ngân hang phải
có một lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hang có thể sử dụng lâu dài, hình
thành trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hang. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành
loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân
hang, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
1.1.3.1.1 Nguồn vốn hình thành ban đầu
Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hang mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu
khác nhau. Nếu ngân hang thuộc sở hữu nhà nước, ngân sách Nhà nước cấp vốn (vốn
của Nhà nước). Nếu là NH cổ phần, các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần
hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp; NH tư nhân là vốn
thuộc sở hữu tư nhân.
1.1.3.1.2 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, NH gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức
khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể.
- Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ NH có
xu hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn
đầu tư. Tỷ lệ tích luỹ tuỳ thuộc vào cân nhắc của chủ NH về tích luỹ và tiêu dùng.
Những NH lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận sẽ cao so với
vốn của chủ hình thành ban đầu.
- Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm…để mở rộng
quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng
9
khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp. Ngân hàng mở tài
khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản có thể phát séc) cho khách hàng. Thủ tục mở rất
đơn giản. Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong
10
phạm vi số dư. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản
cho vay (thấu chi – chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán). Một số
ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “biến tướng” của tài khỏan thanh toán để nâng lãi
suất loại tiền gửi này nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.
* Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi
trả sau một thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động
thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân
hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử dụng các hình
thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu
cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu
dùng bằng tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy
theo độ dài của kỳ hạn.
* Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các
khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có
thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản
tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm,
các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền
mặt tại nhà, bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa
dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, tiết
kiệm bằng ngoại tệ, vàng…). Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm khoản mục
tiết kiệm (hoặc sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm
này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể cầm cố để vay vốn nếu
được ngân hàn cho phép.
* Tiền gửi của các ngân hàng khác
từ NHNN. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp
với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc NHNN). Khoản vay có
thể không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc. Kết
quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và ngân hàng đi vay tăng lên.
12
* Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách
phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Rất nhiều
NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho
vay trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các
nguồn tiền gửi, đáp ưng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn Thông thường đây
là khoản vay không có đảm bảo. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ
vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng
cách này; họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của
Ngân hàng Đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị
trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng.
Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để
quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các vấn đề
chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ…cũng được các ngân hàng quan tâm.
1.1.3.2.3 Nguồn vốn khác
Loại này bao gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác.
* Tiền ủy thác
NHTM thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy
thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ…Các hoạt động này tạo nên nguồn ủy thác
tại ngân hàng. Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức
kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của ngân hàng, có nguồn tài chính, đã sử
dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục tiêu. Kết quả là hình
thành nguồn ủy thác, làm gia tăng vốn của ngân hàng.
* Tiền trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh
cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn. Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi
ngắn hạn, làm thay đổi yêu cầu thanh khoản của ngân hàng.
14
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường nguồn này
chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân
hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi thường cao
hơn lãi trả cho tiền gửi. Ở nhiều nước (trong đó có Việt Nam), ngân hàng phải mua bảo
hiểm cho tiền gửi.
Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến động về lãi
suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu, và nhiều nhân tố khác. Lãi suất cao là một nhân
tố kích thích các doanh nghiệp, tầng lớp dân cư gửi và cho vay. Trong điều kiện có lạm
phát, người có tiền tiết kiệm thường quan tâm tới lãi suất thực, điều đó có nghĩa là lãi
suất thực dương mới thực sự hấp dẫn các nguồn tiền tiết kiệm. Các yếu tố khác như địa
điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh, quầy tiết kiệm, các loại hình huy động và dịch
vụ đa dạng…đều ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền. Thời vụ chi tiêu
ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền. Vào dịp tết, nguồn tiền tiết
kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, đặc biệt trong điều
kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến. Tại các thành phố lớn, nơi tập trung tầng
lớp dân cư có thu nhập cao, hình thành người gửi tiền lớn. Thu nhập gia tăng là điều
kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn của nguồn tiền. Khi ngân hàng mở rộng
cho vay, tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân cũng gia tăng. Các nguồn tiền gửi
thanh toán thường biến động mạnh (kém ổn định hơn) tiền gửi tiết kiệm.
Ngân hàng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửi thông qua nghiên cứu
đặc điểm thị trường nguồn tiền của ngân hàng để có biện pháp quản lý và sử dụng thích
ứng. Tuy nhiên ngân hàng thường khó dự tính được chính xác việc thay đổi quy mô và
kết cấu của tiền gửi.
1.1.4.2.2 Đặc điểm tiền vay
Tỷ trọng của loại nguồn này trong tổng nguồn thường thấp hơn nguồn tiền gửi.
Các khoản đi vay thường là với thời gian và quy mô xác định trước, do vậy tạo thành
khác.
1.2. Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả huy động vốn của NHTM
16
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng
khác đang phải đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường tài chính; Bất kỳ
biến động nào dù nhỏ hay lớn đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Vì vậy, hiệu quả trong hoạt động huy
động vốn không chỉ đánh giá chính xác và đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng
mà còn phản ánh khả năng thích nghi, khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân
hàng. Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở nhữn nội dung sau:
- Lượng vốn huy động tăng trưởng cao hàng năm, tốc độ tăng trưởng được duy trì và
tăng đều theo mục tiêu đã định. Do vậy, kế hoạch huy động vốn phải được thực hiện
thành công. Mức vốn huy động đạt được phải bằng hoặc vượt kế hoạch đề ra.
- Chi phí cho việc huy động vốn phải ở mức chấp nhận được, lãi suất huy động phải
được xác định dựa trên mối quan hệ với lãi suất cho vay để người gửi tiền và người vay
vốn chấp nhận được, đồng thời đảm bảo chi nhánh vẫn thu được lợi nhuận.
- Chất lượng nguồn vốn huy động phải đảm bảo các điều kiện về an toàn vốn như hợp
pháp, ổn đinh, lâu dài…để đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
- Cơ cấu nguồn vốn phải hợp lý theo mục tiêu, chiến lược huy động vốn mà chi nhánh
đã đề ra. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để chi nhánh có cơ sở thực hiện
hoạt động kinh doanh theo hướng có lợi nhất.
Tóm lại, hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất
nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu
cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn NHTM
Ngân hàng huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau. Mỗi cách thức huy
dộng vốn đem lại cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn có tính chất khác nhau với
chi phí khác nhau. Do vậy, để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của một
NHTM ta cần dựa vào các tiêu chí cụ thể
hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được các khoản chi phí bỏ ra và đem
lại lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động vốn càng có hiệu quả.
Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng để giảm chi phí huy động vốn thì cần phải giảm lãi
suất huy động và có các chi phí bảo quản, quản lý, dự trữ vốn huy động một cách tối
ưu nhất. Việc đưa ra một lãi suất hợp lý là rất quan trọng lãi suất không quá cao – đảm
bảo lợi ích cho ngân hàng cũng không quá thấp – nhằm thu hút khách hàng gửi tiền,
18
đồng thời giảm các chi phí phi trả lãi cũng làm cho hoạt động huy động vốn của ngân
hàng có hiệu quả hơn.
1.2.2.2. Chênh lệch thu chi lãi/chi phí trả lãi của ngân hàng
Mối liên hệ giữa nguồn vốn và tài sản là mối liên hệ giữa huy động vốn và sử
dụng vốn; đây là hai mặt của một quá trình hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, để
đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng, tức là khả năng đáp ứng kịp
thời các nhu cầu về sử dụng vốn hay khả năng sinh lời từ đồng vốn huy động được thì
các ngân hàng cũng thường sử dụng chỉ tiêu chênh lệch thu chi lãi/chi phí trả lãi của
ngân hàng để đánh giá mối liên hệ sinh lời của tài sản và nguồn vốn cũng như hiệu quả
của hoạt động huy động vốn.
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chênh lệch thu chi lãi/Chi phí trả lãi = (Thu lãi - Chi lãi)/Chi phí trả lãi
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng chi phí ngân hàng bỏ ra để huy động vốn sẽ thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ đồng vốn đó. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy ngân
hàng đã sử dụng hiệu qủa đồng vốn huy động của mình trong việc tối thiểu hóa chi phí
huy động cho đồng vốn đó. Chỉ tiêu này cao do chênh lệch thu chi lãi trước thu, chi
khá cao và chi phí trả lãi nhỏ. Chỉ tiêu chênh lệch thu, chi lãi/chi phí trả lãi cao cũng có
thể do chi phí tăng và thu nhập trước thu nhập khác và chi phí khác giảm. Tuy nhiên,
tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ giảm của thu nhập đó.
1.2.2.3. Quy mô vốn huy động/chi phí tiền lương
Trước hết, để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thông qua chỉ tiêu này
cần phải đánh giá chỉ tiêu quy mô vốn huy động/một cán bộ huy động vốn.
Chỉ tiêu này được tính bằng tổng số vốn mà ngân hàng huy động được trong một thời
cho chỉ tiêu này vẫn phản ánh được hiệu quả huy động vốn của ngân hàng. Như vậy
chỉ tiêu sẽ cho thấy hiệu quả huy động vốn của ngân hàng về mặt lượng một cách cụ
thể.
1.2.2.4. Sự ổn định vốn huy động của các hình thức huy động vốn
Một hình thức huy động vốn được đánh giá là hiệu quả tốt ngoài những yếu tố
như đáp ứng yêu cầu chi phí thấp, có sự ổn định, tức là không có sự thay đổi đột ngột
trong thời gian sử dụng nguồn vốn đó của ngân hàng.
Thông thường các nguồn vốn huy động đều có thể dự tính được trước thời gian
sử dụng như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm…
Vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về mặt số lượng để thỏa mãn nhu
cầu tín dụng cũng như các nhu cầu khác của ngân hàng. Mặt khác, vốn huy động đó
cũng cần có sự ổn định về thời gian. Ví dụ ngân hàng huy động được một nguồn vốn
lớn đáp ứng được yêu cầu tín dụng nhưng lại không đánh giá được khả năng ổn định
20
của nguồn vốn đó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, tạo cho ngân hàng
những rủi ro khó lường trước được. Ngược lại, nếu ngân hàng chỉ huy động được
nguồn vốn nhỏ nhưng ổn định về thời gian sẽ làm cho việc đầu tư của ngân hàng từ
nguồn vốn đó đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm vốn huy động. Nếu vốn huy
động tăng đều qua các năm, có tốc độ gia tăng ổn định, đều đặn thì vốn đó được coi là
có hiệu quả trong việc huy động
1.2.3. Phương pháp xác định chi phí huy động vốn
1.2.3.1. Phương pháp xác định lãi suất tiền gửi
Theo nguyên lý chung, các ngân hàng huy động với lãi suất thị trường, phản ánh
quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ. Với mỗi nguồn cụ thể, ngân hàng có phương
pháp riêng để tính toán lãi suất huy động.
1.2.3.1.1. Xác định lãi suất huy động dựa theo tỷ lệ lạm phát và thu nhập kỳ
vọng của người gửi tiền
Lãi suất huy động = Tỷ lệ lạm phát bình quân + Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của người gửi
tiền
cấp.
1.2.3.1.3. Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất của tài sản sinh lãi
Trong điều kiện cạnh tranh để tìm kiếm nguồn tiền, nhiều ngân hàng nỗ lực tiết kiệm
chi phí khác (như chi phí quản lý), và chấp nhận tỷ lệ thu nhập ròng thấp để gia tăng lãi
suất huy động. Ngân hàng có thể xác định lãi suất huy động tối đa trong mối tương
quan với lãi suất sinh lời của các tài sản.
22
Lãi suất nguồn = Tỷ lệ sinh lời dự tính - Tỷ lệ chi phí - Tỷ lệ thuế
(Nhóm nguồn) từ tài sản được tài trợ khác ròng phân bổ thu nhập và
bằng nguồn (nhóm nguồn) cho nguồn thu nhập ròng
(nhóm nguồn) tính trên nguồn
(nhóm nguồn)
Ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với môi trường cạnh tranh và chiến
lược huy động vốn, trong mối tương quan với các lãi suất khác trong ngân hàng.
1.2.3.1.4. Một số ngân hàng nhỏ đặt giá trên cơ sở lãi suất của ngân hàng lớn
(ngân hàng trung tâm)
Tùy trường hợp cụ thể mà lãi suất này sẽ cộng thêm phần bù rủi ro của ngân hàng
nhỏ. Trong điều kiện thị trường xa cách, người gửi khó tiếp cận với các ngân hàng lớn,
ngân hàng nhỏ đặt lãi suất huy động tương quan với lãi suất sinh lời.
1.2.3.2. Phương pháp xác định chi phí hoạt động huy động vốn
- Chi phí huy động:
Chi phí huy động = Lãi trả cho nguồn huy động + Chi phí huy động khác
Định giá nguồn huy động là một mắt xích trong quy trình định giá của ngân
hàng, bao gồm xác định lãi suất huy động và các chi phí khác có liên quan tới huy
động, trong đó lãi suất là phần quan trọng ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả huy
động.
Lãi trả nguồn huy động = Quy mô huy động x Lãi suất huy động
Chi phí huy động khác:
Chi phí huy động khác rất đa dạng và không ngừng gia tăng trong điều kiện các ngân
hàng gia tăng cạnh tranh phi lãi suất. Nó bao gồm chi phí trả trực tiếp cho người gửi
tạo thành chi phí nguồn vốn bình quân gia quyền. Nó được tính toán theo công thức lấy
chi phí trả lãi chia cho tổng số vốn đi vay và tiền gửi:
Chi phí trả lãi bình quân
gia quyền =
Chi phí trả lãi
Tổng số vốn đi vay và tiền gửi
Chi phí trả lãi bình
quân gia quyền của
các nguồn vốn hưởng
lãi
=
Chi phí trả lãi
Tổng số vốn đi vay
và tiền gửi
Ví dụ: Giả sử một ngân hàng có số dư cuối kỳ trên sổ sách như sau:
Nguồn vốn ngân hàng Số dư cuối kỳ
(triệu USD)
Lãi suất bình quân
phải trả (%)
Tổng chi phí lãi phải
trả (triệu USD)
Tài khoản dùng séc 65 0,0 0,00
Tài khoản NOW 35 5,0 1,75
Tiền gửi tiết kiệm 40 5,5 2,20
Chứng chỉ tiền gửi 32 9,4 3,01
Tài khoản tiền gửi thị
trường tiền tệ
38 8,2 3,12
Vay thị trường tiền tệ
(nguồn phi tiền gửi)