MỘT SỐ CHUYỆN KỂ VỀ DÒNG HỌ PHẠM BÁ VÀ CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN LỊCH SỬ CỦA ÔNG TỔ KHẰM BAN THEO VUA LÊ THÁI TỔ ĐÁNH GIẶC MINH THẾ KỶ XV - Pdf 30

MỘT SỐ CHUYỆN KỂ VỀ DÒNG HỌ PHẠM BÁ VÀ CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN
ĐẾN LỊCH SỬ CỦA ÔNG TỔ KHẰM BAN THEO VUA LÊ THÁI TỔ ĐÁNH GIẶC
MINH THẾ KỶ XV Phạm Hồng Nêu
Ở Mường Ca - Da (nay là huyện Quan Hoá, Thanh Hoá) có câu chuyện kể về tướng
quân Khằm Ban như sau:
Tướng quân Khằm Ban (Phạm Ban) là tổ tiên của dòng họ Phạm Bá (Lo Khăm) ở
huyện Quan Hoá (mường Ca Da cũ). lúc sinh thời ông đã tinh thông chữ nghĩa và võ
nghệ, do đi học ở Lào, Miến Điện và một số nước khác. Người ông to cao, vai rộng lại
săm mình, săm đùi nên có tên tục là “ông Đùi Vằn” (Chụ Khá Lai).
Tương truyền ông đã theo Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh vào đầu thế kỷ XV.
Ông được vua cử đi chỉ huy quân đánh giặc ở vùng Lũng Cú, Đồng Văn và Tây Bắc.
Cánh quân của ông đi đến đâu đều được dân chúng ủng hộ. Quân giặc thua, cánh quân
của ông đã bắt được tướng giặc mà người Thái gọi là Bóc Minh.
Sau đó ông còn có công dựng cột đồng để phân định địa giới hai nước Việt -Lào tại
mường Ca -Da.
Do công lao, đức độ to lớn, ông được vua Lê Thái Tổ (1428 - 1442) phong chức
tướng quân để thống lĩnh binh mã mường Ca - Da.
Do có công lớn chống quân Minh nên uy thế của ông lừng lẫy khắp vùng từ Nghệ An
đến Mường Thanh.
Hồi ấy vùng đất mường Ca - Da do ông cai quản có 12 động, ông được hưởng thái ấp
9 động.
Khi ông mất, binh sĩ, dân chúng vô cùng thương tiếc, đã lập miếu thờ và ghi tạc bia
đá tại Pom Kéo mường Ca - Da (Hồi Xuân) để thờ phụng ông.
Đến triều vua Khải Định có sắc phong lược dịch như sau:
“Sắc cho các xã thuộc tổng Phú Lệ, tổng Cổ Nam và nhân dân vùng châu thượng

Gia Thái tứ niên thất nguyệt nhị thập tứ nguyệt (năm 1576 triều vua Lê Thế Tông)”
Sắc thứ hai: “Sắc cho quan phụ quốc thượng tướng quân chức Thái uý đại sứ ty
Quảng uý đại sứ. Tước Phú xuyên hầu, bậc quan là thượng tướng trung trật là Phạm Ngọc
Chúc được nhận chức Tả tướng Thái uý. Ông được Trưởng quốc công Trịnh Tùng đã căn
cứ vào công lao của các bậc thần giúp vua lại được các qua trong triều đề nghị nên được
thăng thêm một bậc là được giữ chức: Đặc tiến thượng tướng quân, quân dân Thái uý đại
sứ ty, quảng uý đại sứ, tước phong là phú xuyên hầu trụ quốc trung trật. Nay ban sắc”.
Hai sắc phong
Đến nhà Nguyễn, mặc dù có nhiều thời kỳ bị gián đoạn, dòng họ Pham Bá (Lo
Khăm) vẫn giữ địa vị thống trị của mường Ca - Da và đã được các vua phong sắc, con
cháu, chắt hiện nay vẫn còn giữ được các nguyên bản như sau:
- Minh Mạng: 2 sắc chỉ
- Tự Đức : 8 sắc chỉ
- Thành Thái : 14 sắc chỉ
- Duy Tân : 6 sắc chỉ
- Khải Định : 2 săc chỉ
- Bảo Đại : 7 sắc chỉ và 1 bia đá cho ông Phạm Bá Thọ
Trong triều Nguyễn, các ông: Phạm Bá Sản, Phạm Bá Ất, Phạm Bá Thọ, Phạm Bá
Hai, Phạm Quang Vinh, Phạm Bá Út, Phạm Bá Xích và Phạm Quang Ngọc đã lần lượt
giữ chức vụ tri châu Quan Hoá từ năm 1837 đến tháng 8năm 1945.
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1845 con cháu, chắt của dòng họ Phạm Bá đã một
lòng theo cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
THƠ LÊ THÁI TÔNG Ở HANG THẲM KÉ (SƠN LA)
Trương Sĩ Hùng, Thiên Thành
(Viện Nghiên cứu Đông Nam Á)
Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ thực lục -quyển XI) chép về vua Lê Thái
Tông: "Tên huý là Nguyên Long, con thứ của Thái Tổ (Lê Lợi), ở ngôi 9 năm, băng hà
khi đi tuần miền là bậc vua tài giỏi biết giữ cơ đồ".
Lê Thái Tông lên ngôi ngày 8/9/1433 (niên Đông; thọ 20 tuổi, táng tại Hựu Lăng.
Vua thiên tư sáng suốt, nối vận thái bình; bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh

QUẾ LÂM NGỰ CHẾ
Thuận Mỗi châu nghịch tù
Nghiễm vong ân bội nghĩa
Xuất chúng tòng Ai Lao
Tác nghịch dư thân đổng
Diệc sư vãng chính kỳ
Tội chỉ cố chi gián
Nham đạt kỳ tỉnh tuyền
Thượng Nghiễm kế cùng lực
Tận tiễn gia nhân giáng
Dư linh kề bồ bặc
Vô chi nhất nhẫn phong
Lục nãi phóng quyết tội
Ban sư nhi hoàn lưu
Bính chẩm tiêu tâm niệm viễn nhân
Man tù hà sự tốc vong nhân
Thế nan nhược hữu anh hùng chủ
Thiên hạ thuỳ dung bạn nghịch thần
Điểu đạo duyên vân không thị hiểm
Âm nhai sướng mãn dĩ hồi xuân
Cách trừ ô nhiễm an lương thiện
Nhẫn xử hà manh ngoại tíi nhân
ĐẠI BẢO NGUYÊN NIÊN
QUÝ XUÂN TRUNG CÁN CÁT NHẬT
2. Tạm dịch
Kẻ tù nghịch ở châu Thuận Mỗi
Nghiễm vong ân bội nghĩa làm càn
Cùng giặc Ai Lao nên tội phản
Làm trái bị vua đánh dẹp tan
Cũng theo cờ nghĩa sao ly tán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status