SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM, NÂNG CAO BỮA ĂN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON - Pdf 30

Sáng kiến kinh nghiệm
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM, NÂNG CAO
BỮA ĂN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ;
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời
kỳ hội nhập WTO diễn dàn APEC. Việc phát triển kinh tế đang là một nhu cầu cấp
thiết của mỗi Quốc gia trong đó có Việt Nam việc phát triển kinh tế gắn liền sự
phát triển cuộc sống của con người. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước
nói chung và xây dựng chiến lược con người nói riêng. Đảng và nhà nước ta rất
quan tâm đến sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Sự quan tâm đó đã
từng bước thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật, các chỉ thị, quy định và quy ước
đó là ;
Luật giáo dục 2005 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy
định: Giáo dục Mầm non có nhà trẻ, mẫu giáo là cấp học thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân.
“Trẻ em hụm nay – Thế giới ngày mai”, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi
gia đỡnh, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh, gánh
vác mọi công việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc – xó hội chủ nghĩa. Mọi trẻ em sinh
ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển. Khi xó hội ngày
càng phỏt triển thỡ giỏ trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn và được
đánh giá toàn diện. Vỡ một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân hữu
ích của tương lai, thỡ ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được hưởng nền giáo dục phù
hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt: Đức, trí, lao, thể, mỹ.
Trong cỏc mặt giỏo dục trờn thỡ giỏo dục thể chất cho trẻ phải là nhiệm vụ
hàng đầu, quan trọng nhất, vỡ sức khoẻ là vốn quý giỏ nhõt và cú ý nghĩa sống cũn
với con người, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo. ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong
giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần. Vỡ thế cơ thể trẻ cũn non yếu dễ
bị phỏt triển lệch lạc và mất cõn đối. Do vậy trẻ chỉ có thể phát triển tốt nếu như
được chăm sóc một cách hợp lý.
Giáo dục thể chất cho trẻ ở trường mầm non có thể thông qua nhiều biện

lường. Vì vậy, giáo dục dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng
mô hình thực phẩm sạch, đề phòng ngộ độc thức ăn là vấn đề có ý nghĩa thực tế vô
cùng quan trọng .Mặc dù nhà trường chúng tôi chưa có trường hợp nào ngộ độc
thức ăn nhưng việc tuyên truyền trong nhà trường đã được chú ý, chất lượng bữa ăn
được cải thiện, gia đình trẻ và lực lượng xã hôi đã có sự thay đổi trong nhận thức
hành động về tầm quan trọng của công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
trong độ tuổi Mầm non, tỷ lệ trẻ ăn bán trú được tăng lên. địa phương nhà trường
đã chú ý đến đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng phục vụ bán trú. Tuy
nhiên việc đầu tư CSVC, mua sắm trang thiết bị cho bán trú còn hạn chế ,nhà bếp
còn chật hẹp chưa đảm bảo bếp một chiều hợp vệ sinh ,mức ăn của trẻ đã được tăng
lên song so với giá cả thị trường nhảy vọt , dẫn đến chất lượng chưa đạt yêu cầu
theo quy định. Một số giáo viên kỹ năng thực hành về dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm còn hạn chế.
Từ các cơ sở trên cho thấy tầm quan trọng của vấn đề chăm sóc nâng cao chất
lượng bữa ăn và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các trường Mầm non nói chung
và Mầm non Trung Mầu nói riêng là hết sức cấp bách .
Là một nhân viên nuôi dưỡng của nhà trường bản thân tôi thật sự băn khoăn trăn
trở trước thực tế thị trường nhạy cảm, làm thế nào để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho
trẻ tại trường Mầm non, đặc biệt là an toàn thực phẩm.
Do vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Một số biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm, nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ” trong trường Mầm non làm đề
tài sáng kiến kinh nghiệm.
* Mục dích nghiên cứu:
Tìm ra nhừng biện pháp thực hiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nâng cao
chất lượng dinh dưỡng trong trường mầm non để phù hợp và đáp ứng nhu cầu đổi
mới hiện nay.
Thời gian :
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
2
Sáng kiến kinh nghiệm

lại, khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển
bỡnh thường và đó là nguyên nhân gây ra bệnh tật, như suy dinh dưỡng, cũi xương,
thiếu máu do thiếu sắt.
Nói về sự ảnh hưởng của sự ăn uống tới sức khoẻ của trẻ, S. Freud ( 1835 –
1993) nhà tâm lý học ( người áo) đó nhận thấy rằng: Sự ăn uống có ảnh hưởng rất
lớn đến cân nặng của trẻ. Ông khẳng định: trong trường hợp thiêu ăn, các xương
cốt vẫn dài ra, trái lại, cấn nặng đứng nguyên hay sụt đi.
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thỡ sự ăn uống có sự ảnh hưỏng rất
lớn đến sức khoẻ của trẻ. Trẻ được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ thỡ da dẻ hồng
hào, thịt chắc nịch và cõn nặng đảm bảo. Sự ăn uống không điều độ sẽ ảnh hưởng
đến sự tiêu hoá của trẻ. Nếu cho trẻ ăn uống không khoa học, không có giờ giấc,
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
3
Sáng kiến kinh nghiệm
thỡ thường gây ra rối loạn tiêu hoá và trẻ có thể mắc một số bệnh như tiêu chẩy, cũi
xương, khô mắt do thiếu VitaminA…
Như vậy, vấn đề ăn uống đối với trẻ Mầm non đó được quan tâm từ rất sớm.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ quan tâm đến ảnh hưởng của sự ăn uống đến sức
khoẻ và bệnh tật của trẻ. Đồng thời các tác giả cũng cho rằng: để có cơ thể phát
triển tốt, tránh được bệnh tật thỡ cần phải đảm bảo một chế độ ăn uống khoa học,
hợp lý và vệ sinh. Nhưng chưa có một tác giả nào đề cập đến hiệu quả tổ chức bữa
ăn trưa cho trẻ.
Mói cho đến năm 1967, trong cuốn “Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ
của vườn trẻ mẫu giáo” của tác giả M.Đ.Côvryghina mới đưa ra một số vấn đề cần
lưu ý khi tổ chức nõng cao bữa ăn cho trẻ ở trường Mầm non như: cho trẻ ăn tuỳ
thích thú, không được bắt buộc trẻ ăn như thế dạ dày mới tiết dịch mạnh; giữa các
bữa ăn không bao giờ cho ăn bánh kẹo ngọt; cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảm
khẩu vị, làm ức chế trung tâm điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn uống
đúng đắn. Ngoài ra, thức ăn có hỡnh thức đẹp, mùi vị hấp dẫn thỡ sẽ gõy cảm giỏc
thốm ăn cuả trẻ. Mọi khẩu phần giành cho trẻ em thỡ phải cho ăn cùng một lúc để

không tốt bị nấm mốc.
b. Thức ăn bị biến chất: thức ăn giầu chất đạm, chất béo bảo quản không tố
gây biến chất gồm thịt, cá ướp.
c. Thức ăn có sẵn chất độc : như săn, măng, hạt củ đậu cá nóc
d. Do nhiễm phải chất gây độc : Thuốc trừ sâu, kim loại nặng, phụ gia chế
biến thực phẩm
* Các triệu trứng ngộ độc thức ăn và cách xử lý:
a. Triệu trứng; xẩy ra sau khi ăn, có thể lập tức hoặc 30 phút đến vài giờ:
Xuất hiện đau bụng, buồn nôn, nôn nhiều, đau quặn bụng, đi ngoài nhiều lỏng phân
có thể có máu
b. Cách xử trí: Khi xẩy ra ngộ độc do thức ăn uống cần tìm cách gây nôn để
thức ăn ra ngoài cơ thể, sau đưa trẻ đến trạm y tế gần nhất để khám và xử lý tiếp.
Trong trường hợp ngộ độc nặng; nôn đi ngoài nhiều lần có thể gây mất nước cần
cho trẻ uống bù nước và muối pha cho trẻ uống.
Chú ý phải lưu mẫu thức ăn để trạm y tế tìm ra nguyên nhân ngộ độc sớm
kịp thời xử trí cho trẻ
* Cách phòng và tránh ngộ độc thực phẩm:
a. Đảm bảo nguồn thực phẩm sạch dùng cho trẻ bằng nhiều biện pháp :
- Cần có hợp đồng với nơi sản xuất cung cấp thực phẩm sach cho nhà trường,
vận động gia đình trẻ nuôi trồng tham gia cung cấp thực phẩm cho nhà trường, Đội
ngũ tiếp phẩm, chế biến thực phẩm được bồi dưỡng tập huấn về vệ sinh an toàn
thực phẩm; biết mua thực phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh .sach sẽ, tươi ngon,
không mua thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm quá hạn sử dụng, thực phẩm
bị biến chất, đảm bảo vệ sinh trong chế biến thức ăn cho trẻ; cần rửa tay sach trong
giờ sơ chế thực phẩm. Thực phẩm phải được rửa dưới vòi nước sạch,rau quả phải
được ngâm rửa nhiều lần, mỗi lần rửa không được rửa nhiều thức ăn được chế biến
nấu kỹ; trước khi ăn phải đun lại thức ăn.hàng ngày nhà bếp cần thực hiện đúng
quy định lưu mẫu thức ăn. Kiờ̉m tra kư chất lượng thực phẩm khi giao nhận.
b. Xây dựng bếp một chiều vệ sinh:
Có dụng cụ chế biến thức ăn sống và chíndụng cụ dùng xong phải rửa sạch

Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
6
Sáng kiến kinh nghiệm
rác thải hợp vệ sinh, dịnh kỳ duyệt ruồi muỗi , tủ lạnh phải lưu mẫu thức ăn sống
và chín có nhãn mác rõ ràng.
I.1.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN;
Ở nước ta, qua việc nghiên cứu vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường Mầm
non mới được quan tâm mấy năm gần đây trong công trỡnh nghiờn cứu: “ Khảo sỏt
khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” của tác giả Lê Thị Khánh Hoà ( 1983 ) có đưa ra
khảo sát khẩu phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường Mầm non. Kết qủa nghiờn
cứu cho thấy tỡnh hỡnh cung cấp năng lượng cho trẻ ở trường mầm non cũn thấp
so với tiờu chuẩn; tỉ lệ cỏc chất sinh năng lượng chưa cân đối, chưa hợp lý, trong
đó lượng Gluxit quá cao, cũn lượng Lipit thỡ quỏ thấp. Đồng thời tác giả cũng chỉ
ra một nguyên nhân dẫn đến tỡnh hỡnh trờn như: bếp ăn mới được hỡnh thành, cơ
sở vật chất thiếu thốn, có nhiều quan niệm coi nhẹ việc nuôi nên các hỡnh thức tổ
chức cũn nghốo nàn.Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp: Trang bị đầy đủ cơ sở vật
chất cho các trường mầm non để đảm bảo cho việc tổ chức ăn cho trẻ; đào tạo đội
ngũ cô nuôi có trỡnh độ hiểu biết về dinh dưỡng cho trẻ….
Khi cụng trỡnh nghiờn cứu: “ Điều tra tỡnh trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu
giáo ở một số trường phớa Bắc” của tỏc giả Nguyễn Thị Ngọc Trõm ( 1989) và
“tỡnh hỡnh cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo” của tác
giả Vừ Thị Cỳc ( 1992) cũng cho thấy việc cung cấp dưỡng chất cơ bản ( Gluxit,
Lipit) cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non của ta hiện nay cũn thấp. Chỳng ta
mới chỉ cung cấp được khoảng 70% nhu cầu cần thiết tối thiểu năng lượng cho trẻ
mẫu giáo và năng lượng đó chủ yếu là do Gluxit mang lại. Mặt khác hai tác giả
cùng nhấn mạnh việc nâng cao hơn nữa kiến thức khoa học về dinh dưỡng cho trẻ
mẫu giáo đối với các cơ sở nuôi dạy trẻ, tránh tỡnh trạng cho ăn theo kinh nghiệm
hoặc tổ chức dinh dưỡng thiếu lí luận toàn diện, chặt chẽ và kém hiệu quả. Đồng
thời, nhà trường và gia đỡnh cần cú sự hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ giữa nuụi
và dạy, giữa sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của trẻ mẫu giỏo.

sẽ tiết ra dịch. Hoặc thức ăn được bày biện lịch sự, gọn gàng…sẽ tạo cảm giác
muốn ăn của cơ thể.
Trong bầu không khí trước và trong khi ăn có ảnh hưởng rất lớn đến cảm
giác muốn ăn của cơ thể. Người ta chỉ muốn ăn và ngon miệng khi mà con người
cảm thấy thoải mái, không bị ức chế bởi một lý do nào đó vỡ vậy trong khi ăn cần
tạo bầu không khí ấm cúng vui vẻ, yên tĩnh, nhẹ nhàng tránh những tin gây xúc
động mạnh… thỡ cảm giỏc ngon miệng sẽ được tăng lên.
Khoa học dinh dưỡng giúp chúng ta hiểu được: Con người ta cần ăn để sống,
ăn uống là một trong những nhu cầu của con người từ đó xây dựng các chế độ ăn
hợp lý cho từng độ tuổi, trạng thái sinh lý, bệnh lý. Đối với trẻ Mầm non cơ thể
đang trong giai đoạn phát triển nhanh, vỡ vậy đũi hỏi khẩu phần ăn phải đầy đủ về
số lượng và chất lượng, ăn uống rất cần thiết cho cơ thể phát triển về thể chất và
tinh thần vỡ thế thức ăn cung cấp vật liệu cần thiết , phát triển và phục hồi sức khoẻ
cho cơ thể.
Thức ăn chính là sợi dây liên lạc giữa cơ thể và môi trường và cung cấp
năng lượng cho tất cả các bộ máy trong cơ thể hoạt động của hệ thần kinh, tuần
hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hoá, cơ bắp… vỡ thế chẳng cú tế bào nào trong cơ thể
giám từ chối thức ăn. Không những thế thức ăn cũn cung cấp những chất cần thiết
để cơ thể lớn lên và phát triển. Từ cái thai lớn lên thành em rồi thành người lơn,
không thể trông cậy vào gỡ khỏc ngoài thức ăn. Thức ăn cũn đem lại vật liệu để cơ
thể sửa chữa những bộ phận hư hỏng, tái tạo lại những cơ quan hao mũn quỏ trỡnh
sống. Vớ dụ: cứ vài giờ tế bào trong ruột lại chết vỡ thế phải tạo ra tế bào mới thay
thế tế bào cũ. Núi chung cỏc cơ quan trong cơ thể đều nhờ vào thức ăn để tồn tại và
phát triển.
Ăn uống là một trong những biện phỏp giỳp cơ thể khoẻ mạnh. Trẻ khoẻ
mạnh, giúp trẻ có sự cân bằng giữa cân nặng và chiều cao, cơ thể phát triển giúp cơ
thể tránh sự nhiễm trùng, tinh thần mở mang điều hoà, khuôn mặt vui tươi của tuổi
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
8
Sáng kiến kinh nghiệm

cho trẻ để bù đắp cho sự tiêu hao năng lượng ( do hoạt động ) và đảm bảo năng
lượng cho trẻ hoạt động tiếp theo trong ngày. Trẻ đến trường mầm non ngay từ
buổi sáng đó tham gia vào cỏc hoạt đông trong chế độ sinh hoạt một ngày, như: thể
dục sáng, hoạt động học tập, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc… trẻ rất hiếu
động nên thường tham gia các hoạt động một cách tích cực. Khi trẻ hoạt động tích
cực sẽ tiêu hao nhiều năng lượng. Với cơ thể trẻ sẽ lấy năng lượng ở đâu để hoạt
động, đương nhiên nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể là thức ăn. Thường buổi
sáng, trẻ ăn rất ít, do vậy không thể đủ năng lượng cho trẻ đủ hoạt động. Vỡ vậy,
nhất thiết phải cú bữa ăn trưa để bù đắp phần năng lượng bị tiêu hao trong các hoạt
động từ sáng đến trưa và cung cấp năng lượng cho trẻ tham gia vào các hoạt động
buổi chiều. Nếu như trẻ không có bữa ăn trưa hay có ăn nhưng không hợp lý thỡ
cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất của trẻ.
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
9
Sáng kiến kinh nghiệm
Cuối năm học 2012 -2013 trường mầm non Trung Mõ̀u có 08 lớp ăn bán trú với
256 cháu đạt tỉ lệ 90%. Tỷ lệ nhà trẻ kênh A đạt 85.4%, tỷ lệ suy dinh dưỡng
14.6%, mẫu giáo tỷ lệ kênh A đạt 86.4%, tỷ lệ suy dinh dưỡng 13.6%, So với đầu
năm học tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm 3.2%.
Đầu năm học 2013-2014 nhà trường duy trì được 08 lớp ăn bán trú gồm 167 đạt
tỷ lệ 85% , tỷ lệ mẫu giáo kênh A 85%, tỷ lệ suy dinh dưỡng 15% , nhà trẻ đạt kênh
A 94%, tỷ lệ suy dinh dưỡng 6%.
Qua khảo sát thực tế và kiểm tra an toàn thực phẩm trong nhà trường. Nhà
trường có ưu nhượ điểm sau:
Về ưu điểm:
- Nhà trường đã đầu tư và mua sắm trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho tổ chức
bán trú, sửa bếp một chiều điểm trung tâm, quy định một số biểu bảng trong nhà
bếp, mua tủ lạnh bảo quản và lưu mẫu thức ăn, mua 2 tủ thuốc và bổ sung thêm
đường ống dẫn nước, bồn vệ sinh cho trẻ.


Đội ngũ cán bộ giáo viên nhõn viờn đoàn kết tốt, đồng tâm, đồng sức thực
hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ năm học, không chấp nhận bệnh thành tích trong nhà
trường. Nhiều đồng chí năng lực sư phạm xếp loại tốt, đạt giáo viên dạy giỏi cấp
huyợ̀n và cấp cơ sở. Uy tín với phụ huynh, nhân dân,và bạn bè đồng nghiệp. phẩm
chất đạo đức tốt trung thực thật thà, tận tụy với công viêc, nhiệt tình chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ, thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn nghiệp vụ tích cực đổi mới
phương pháp đổi mới và thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cơ sở vật chất từng bước được ổn định các công trình và nguồn nước sạch
được đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đồ dùng phục vụ bán trú, bếp được xây
dựng bếp một chiều công tác vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường đẩm bảo an
toàn , nâng cao khẩu phần ăn bán trú cho trẻ.
Khó khăn : Một số cô nuôi còn hạn chế về nhận thức nuôi dưỡng , xây dựng
thực đơn chưa phù hợp, một số công trình vệ sinh và nguồn nước sạch còn hạn chế,
khẩu phần ăn của trẻ mẫu giáo chưa đạt mức tố thiểu 47-48% theo quy định (50-
60%) năng lượng cần đạt của trẻ nhà trẻ tại trường chưa đạt mức tối thiểu 57-59%
( quy định 60-70%), chưa thực hiện thường xuyên khâu cung cấp thực phẩm an
toàn. Con em chủ yếu là nông thôn nên kinh tế còn khó khăn.
Xuất phát từ những ưu điểm và tồn tại trên, tôi và các nhân viên tổ nuôi đã thực
hiện tốt việc nâng cao bữa ăn và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non
so sánh kết quả dinh dưỡng đầu năm học và cuối năm học giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng 4.7% từ những vấn đề trên tôi đưa ra một số biện pháp giải quyết vấn đề đó
như sau :
II.2.2 CÁC BIÊN PHÁP CHỦ YẾU :
* BIỆN PHÁP VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
II.2.2.1. Bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hành tốt vệ sinh an
toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ giáo viên, vệ sinh trong ăn
uống cho trẻ .
Vào kỳ hè năm học phòng giáo dục tập huấn chuyên môn cho cán bộ giáo
viên trong những nôi dung quan trọng là công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu

chất lượng như rau không tươi, thịt không tươi
Cô nuôi, nhân viên nhà bếp khi tiếp nhận thực phẩm cần có sổ sách ghi chép
đầyđủ định lượng và tình trạng thực phẩm các thực phẩm không đảm bảo không
được tiếp nhận khi giao nhận thực phẩm hai bên phải ký nhân cùng chứng kiến của
ban giám hiệu nhà trường hoặc đại diện phụ huynh, khâu bảo quản tại kho của nhà
bếp phải đảm bảo vệ sinh, không đẻ thực phẩm quá hạn, ẩm mốc, kém chất lượng.
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
12
Sáng kiến kinh nghiệm
II.2.2.2.4. Yêu cầu trong chế biến và bảo quản thực phẩm :
Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng ngon , đẹp phù hợp với trẻ, đảm
bảo an toàn.Thức ăn phải được chế biến nấu chín kỹ, nấu xong cho trẻ ăn ngay.
Thực hiên nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn. Hàng ngày, nhà bếp đưa mẫu
thức ăn theo quy định 24/24 mẫu thức ăn phải được lấy vừa nấu xong trước khi cho
trẻ ăn, hộp dựng mẫu thức ăn phải sạch sẽ có nhãn mác có nắp đậy , mẫu thức ăn
lưu có cả sống và chín nhưng được đựng riêng từng hộp dẩm bảo vệ sinh.
II.2.2.3. Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng, dụng cụ nhà bếp và
vệ sinh môi trường.
+ Vệ sinh khu vực bếp :
Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng và có biển đề rõ ràng
nơi tiếp phẩm và nơi sơ chế khu nấu chín và nơi chia cơm từng lớp, nhà bếp phải
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
13
Sáng kiến kinh nghiệm
có mảng phân công trong ngày: Người nấu chính, người nấu phụ. Người tiếp phẩm,
người sơ chế.
Bếp ăn phải có thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày và
công khai tài chính. Phải thực hiện nghiêm túc việc tính khẩu phần ăn cho trẻ, phải
thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp theo lịch hàng ngày, tuần, và tháng, khi
nấu xong phải gọn dẹp, xếp dồ dùng ngăn nắp đúng nơi quy định.

ăn cho trẻ rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chẩy, xả xong lau tay khô, dạy trẻ
biết rửa tay trước khi đi vệ sinh và sau khi tay bẩn, nhắc cha mẹ trẻ căt móng tay,
móng chân mỗi tuần một lần, Dạy trẻ có thói quen vệ sinh khi ăn uống, ăn chín,
uống sôi, ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống từ tốn, biết nhặt cơm rơi vãi vào nơi quy định,
ăn xong uống nước, súc miệng, chải răng sạch sẽ.
II.2.2.4.3 Thực hiện tốt việc theo dõi biểu đồ, khám sức khẻo, chú trọng công
tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm.
Phối hợp với trạm y tế trẻ mẫu giáo 3 tháng khám sức khỏe một lần, nhà trường
theo dõi biểu đồ mỗi tháng một lần tuyên truyền cho các bà mẹ tiêm chủng mở
rộng 100% trong nhà trường và phòng chống các dịch bệnh theo các công văn như
bệnh sốt xuất huyết, sởi phát ban, dịch cúm gia cầm tiêu chảy , tăng cường công
tác kiểm tra giám sát thường xuyên việc chăm sóc nuôi dưỡng và vấn đè vệ sinh an
toàn thực phẩm để đôn đốc nhắc nhở giáo viên nhân viên làm tốt công tác vệ sinh
an toàn thực phẩm trong nhà trường.
II. 2.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với các đoàn thể và phụ huynh.
Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền với các ban ngành địa phương và
phụ huynh về công tác nuôi dưỡng và giáo dục trẻ bằng nhiều hình như họp phụ
huynh ,các hội thi như dinh dưỡng tuổi thơ, khéo tay nội trợ tuyên truyền về công
tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục xây dựng góc học tập, tranh ảnh, tờ rơi đặc
biệt khâu chế biến tại bếp ăn nhà trường.
Và công tác vệ sinh an toàn thực phẩm gia đình và nhà trường góp phần bảo vệ sức
khỏe để trẻ phát triển toàn diện.
* BIỆN PHÁP NÂNG CAO BỮA ĂN CHO TRẺ
II.2.2.6: Bổ xung thực phẩm
để tăng lượng bằng cách :
- Tăng chất béo bằng cách: cho dầu hoạc mỡ vào canh,
- Giảm lượng bột đường bằng cách: chế gạo rẻo vào cơm
- Tăng can xi trong bữa ăn ; chọn đậu phụ ,cá , đỗ , sữa đậu nành , trứng, tôm cua
trong khẩu phần ăn
- Tăng lượng vitamin bằng cách : phát động các nhóm lớp trồng các loại rau để bổ

Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
16
Sáng kiến kinh nghiệm
4 Cá trắm rim thịt lợn rang ruốc
Canh bắp cải nấu thịt
MG: Bún thịt ngan
rau cải xanh
5 Thịt ḅ hầm ngũ sắc
Canh bí xanh nấu thịt
Cháo ngao
6 Trứng đúc thịt
Canh thập cẩm nấu thịt
Mỳ thịt ḅ rau cải
7 Thịt lợn rang ruốc, lạc, vừng
Canh ngao nấu rau cải
Sữa bột, bánh
II.2.2.9: Tăng cường công tác tuyên truyền và xã hội hoá :
- Tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của xã, nhà trường phối kết hợp với các ban ngành
đoàn thể ở địa phương ,các doanh nghiệp đóng trên địa bàn,hội cha mẹ phụ huynh
để phát động phong trào tuyên góp ủng hộ
- Đầu năm nhà trường họp và tuyên truyền cho các bậc phụ huynh về cách chăm
con theo khoa học, thông báo sức khoẻ của từng trẻ qua bảng tin tại các nhóm lớp
để phụ huynh nắm được sực khoẻ của con em mình để từ đó phối kết hợp với nhà
trường nuôi dưỡng trẻ.
- Tổ chức các hội thi dinh dưỡng nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng như thi
“Bé tập làm nội trợ, bé khéo tay ”. qua đó tạo sự chuyển biến cao trong nhận thức
của mọi người về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ về phòng trống suy dinh dưỡng
ở trẻ và bảo đảm VSATTP, làm thay đổi nhận thức của nhiều người về cho trẻ ăn
bán chú tại trường, cũng qua hội thi đã tạo động lực thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ
giữa các ban nganh đoàn thể ở địa phương ngày càng tốt hơn, tạo sự tin tưởng của

II.2.3.2 Chỉ đạo công tác tổ chức bán trú thực hiện tốt các nội dung sau:
- Đầu tư đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, phục vụ cho việc tổ chức bán
trú.
- Tạo nguồn thực phẩm sạch.
- Thực hiện tốt công tác tiếp phẩm và giao nhận thực phẩm.
- Yêu cầu trong chế biến và bảo quản thực phẩm.
II.2.3.3. Chú trọng công tác vệ sinh khu vực nhà bếp, dụng cụ nhà bếp và vệ
sinh môi trường.
II.2.3.4. Tăng cường các hoạt động giáo dục vệ sinh đối với cô nuôi, nhân viên
nhà bếp và vệ sinh nhà bếp, giáo viên, cô phụ tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Thực hiện tốt việc theo dõi biểu đồ, khám sức khỏe, và công tác tiêm chủng mở
rộng, phòng chống các dịch bệnh, kiểm tra giám sát của ban giám hiệu nhà trường
vói công việc chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục, chú trong công tác vệ sinh an toàn
thực phẩm trong nhà trường.
II,2.3.5. đẩy mạnh công tác tuyên truyền vói cộng đồng và xã hội về công tác
chăm sóc nuôi dưỡng- giáo dục trong nhà trường.
II.2.3.6. nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc VSATTP và nâng cao
bữa ăn cho trẻ trên cơ sở triển khai nghiêm túc và chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng
kế hoạch nuôi dưỡng cho từng độ tuổi.
II.2.3.7. nâng cao nhận thức trách nhiệm và bồi dưỡng thường xuyên về chuyên
môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ giáo viên MN nhất là công tác chỉ đạo từ cấp
tỉnh đến các trường.
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
18
Sáng kiến kinh nghiệm
II.2.3.8. nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh thông qua công tác tuyên
truyền .
II.2.3.9. hàng năm nhà trường nên tổ chức đánh giá, sơ kết, tổng kết theo định
kỳ để kịp thời khen thưởng những cái nhân điển hình; đồng thời phổ biến kinh
nghiệm các thực đơn tốt cho các đơn vị cùng học tập.

Phạm Thị Hiền
V. NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
19
Sáng kiến kinh nghiệm
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO, MỤC LỤC, PHỤ LỤC
*TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách chiến lược giáo dục đến năm 2020.
2. Chương trình chăm sóc giáo dục của các độ tuổi, nhà trẻ, mẫu giáo mầm non
2000-2005.
3.Tài liệu bồi dưỡng giaó dục mầm non từ 2000-2008
4. Hướng đẫn chăm sóc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm củ
bộ giáo dục mầm non
5 . Các tập san , tạp chí giáo dục mầm non
6. Các văn bản quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm của bộ y tế và bộ giáo dục
7. Các kênh thông tin, tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm,nâng bữa ăn
cho trẻ.
8.Nghiên cứu Học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp.
Phạm Thị Hiền Trường Mầm Non Trung Mầu
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status