Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ GIANG THANH
QUYÒN SöA B¶N ¸N S¥ THÈM CñA TßA ¸N PHóC THÈM
THEO Bé LUËT Tè TôNG H×NH Sù N¡M 2003
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2015


HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Giang Thanh
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục

2.3.2. Quyền sửa về phần bồi thường thiệt hại 45
2.3.3. Quyền sửa về xử lý vật chứng và các vấn đề khác 49
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ QUYỀN
SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM 51
3.1. Những vi phạm, sai lầm của Tòa án phúc thẩm trong thực tiễn
thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền sửa bản
án sơ thẩm 51
3.1.1. Sửa tội danh không đúng 52
3.1.2. Giảm hình phạt không đúng 54
3.1.3. Tăng hình phạt không đúng 55
3.1.4. Chuyền hình phạt không đúng 57
3.1.5. Cho bị cáo hưởng án treo không đúng 58
3.1.6. Sửa trách nhiệm dân sự không đúng 60
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quy định quyền
sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm 61
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật 61
3.2.2. Giải pháp hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổng kết công tác xét xử,
xây dựng và công bố án lệ 65
3.2.3. Giải pháp tập huấn nghiệp vụ và công tác cán bộ 71
3.2.4. Các giải pháp khác 75
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự

Đã có nhiều quy định của pháp luật ra đời thể chế hóa các quan điểm
đổi mới của Đảng, trong đó có BLTTHS năm 1988. Đây là BLTTHS đầu tiên
thể hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
VI. Sau 15 năm thi hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung 3 lần, song
BLTTHS năm 1988 vẫn có nhiều bất cập, trong đó có những bất cập đối với
quy định về Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm. Năm
2003, BLTTHS mới được ban hành, tuy đã có những sửa đổi bổ sung song
các quy định về thủ tục phúc thẩm nói chung và quyền sửa bản án sơ thẩm
của Tòa án phúc thẩm nói riêng về cơ bản vẫn giống BLTTHS 1988. Do đó,
vẫn còn những tồn tại về vấn đề này phát sinh trong thực tiễn mà chưa được
sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn thi hành. Cụ thể là, quy định về các nội dung
của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm được quyền sửa còn chưa đầy
đủ, mâu thuẫn với các quy định khác. Thực tế tại các địa phương khác nhau
có những ý kiến khác nhau về trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa những
nội dung không được quy định trong Điều 249 BLTTHS. Không những thế,
hậu quả của việc sửa bản án sơ thẩm còn liên quan tới những vấn đề khác về
thẩm quyền xét xử hoặc liên quan tới cả công tác thi hành án hình sự. Vậy cần
2

có nhận thức như thế nào về các nội dung tại Điều 249 BLTTHS, làm thế nào
để các sai sót trong bản án hình sự sơ thẩm được sửa chữa khắc phục tại cấp
phúc thẩm một cách chính xác, đảm bảo nguyên tắc công bằng và chính sách
nhân đạo trong xử lý hình sự?
Trong chế định về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, quyền sửa bản án sơ
thẩm là một quyền rất quan trọng của Tòa án cấp phúc thẩm. Nếu không có
quyền này, thì khi các bản án sơ thẩm có sai sót sẽ không được sửa chữa khắc
phục kịp thời. Nếu bất kì sai sót nào của bản án sơ thẩm cũng bị hủy để xét xử
lại hoặc y án để xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì sẽ vừa gây tốn kém thời
gian, kinh phí, vừa không kịp thời bảo vệ được quyền con người và tạo niềm
tin của nhân dân vào pháp luật. Quyền sửa bản án khắc phục được tất cả

sự Việt Nam” của Ths. Nguyễn Thị Thu Hồng năm 2010 v.v
Trước khi có BLTTHS 2003 có một số bài nghiên cứu trên các báo, tạp
chí như: Hoàng Thị Sơn “Quyền hạn của Tòa án khi xét xử phúc thẩm” và
“Sửa bản án sơ thẩm theo Điều 221 BLTTHS”, tạp chí luật học số 6/1997 và
5/1999; Nguyễn Nông “Về quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án cấp phúc
thẩm”, tạp chí Tòa án nhân dân số 8/1994; Vũ Gia Lâm “Phạm vi xét xử và
quyền sửa bản án sơ thẩm”, Tạp chí luật học số 5/2010; “Hoàn thiện một số
quy định về xét xử phúc thẩm hình sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc
hai cấp xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2006; và “Một số vấn đề về
phạm vi xét xử và quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2009. Đinh Văn Quế “Một số vấn đề về sửa bản
án sơ thẩm trong xét xử phúc thẩm theo Bộ luật TTHS năm 2003”, Tạp chí Tòa
án nhân dân số 13/2006. Ngoài ra còn được đề cập tới ở một số tài liệu khác
như Giáo trình luật TTHS của Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật
TTHS của Viện đại học mở… và các sách chuyên khảo về kĩ năng xét xử.
4

Như vậy, nội dung cụ thể về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp
phúc thẩm chủ yếu là một phần trong các nội dung nghiên cứu về thủ tục phúc
thẩm của luận án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ. Các nghiên cứu riêng biệt hơn
mới chỉ dừng lại ở cấp độ là các nghiên cứu trao đổi trên các báo và tạp chí,
chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Điều đó càng cho
thấy việc nghiên cứu toàn diện về quy định này là rất cần thiết, tạo sự thống
nhất trong nhận thức và chính xác trong thực tiễn áp dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung về quyền sửa bản án sơ
thẩm, tìm hiểu quy định này trong lịch sử luật TTHS Việt Nam và pháp luật
TTHS của một số nước trên thế giới; giải thích rõ các quy định của BLTTHS có

Luận văn nghiên cứu các quy định có liên quan trong lịch sử phát triển
của pháp luật TTHS của nước ta; nghiên cứu pháp luật TTHS của một số
nước trên thế giới, và trọng tâm là nghiên cứu quy định tại Điều 249 của
BLTTHS Việt Nam năm 2003 về quyền sửa bản án sơ thẩm và các quy định
tại các văn bản pháp luật khác có liên quan. Nghiên cứu cụ thể các nội dung
quy định tại Điều 249 trong mối tương quan phù hợp với các văn bản pháp
luật khác như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự v.v Đồng thời, luận văn tổng
hợp số liệu và phân tích thực tiễn áp dụng Điều 249 của các Tòa án nhân dân
trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2013.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền. Các giải pháp
luận văn đưa ra được nghiên cứu dựa trên các quan điểm định hướng chỉ đạo
của Đảng và nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong giai đoạn hiện nay.
6

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự như: phân tích, đối chiếu, tổng hợp. Luận văn cũng tiến hành thu thập số
liệu thống kê về thực tiễn xét xử phúc thẩm của TANDTC trong những năm
gần đây, đồng thời so sánh và giải thích những quan điểm khác nhau đối với
các vấn đề có liên quan tới đối tượng nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
Đây là luận văn nghiên cứu một cách chuyên sâu về thẩm quyền sửa
bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm. Kết quả nghiên cứu của luận văn
có ý nghĩa trong việc góp phần nhận thức đúng đắn, thống nhất về nội dung
của quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm. Luận văn đưa ra các
giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS

định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để phát hiện sai sót và kịp thời sửa
chữa, mặt khác thông qua việc xem xét lại để kịp thời bảo vệ các lợi ích của
Nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhờ có thủ
tục phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm buộc phải thận trọng và tuân thủ nghiêm
các quy định về tính hợp pháp và có căn cứ pháp luật khi ra bản án hoặc
quyết định về vụ án.
Tòa án cấp có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của nước ta
là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm, bao gồm: TAND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa phúc thẩm TANDTC, Tòa án
quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự trung ương. Theo quy định của pháp
luật TTHS hiện hành, Tòa án cấp phúc thẩm có những quyền hạn nhất định.
Quyền ở đây được hiểu là thẩm quyền, là cái mà luật pháp cho phép đối với
một tổ chức hoặc cá nhân.
Để hiểu khái niệm về Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc
8

thẩm, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là thẩm quyền của của Tòa án cấp
phúc thẩm. Theo từ điển luật học thì thẩm quyền của Tòa án là “quyền xem
xét để kết luận và định đoạn một vấn đề pháp luật” [27, tr.890]. Như vậy,
thẩm quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm
nói riêng phải bao gồm 2 yếu tố cần và đủ là “xem xét” và “kết luận, định
đoạt” (quyết định). Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, Tòa án
chỉ có thể kết luận và định đoạt sau khi đã tiến hành xem xét, và sau khi xem
xét phải đưa ra được kết luận và định đoạt thì việc xem xét mới có ý nghĩa.
Tiến sĩ Nguyễn Đức Mai đưa ra khái niệm về thẩm quyền của Tòa án cấp
phúc thẩm là “toàn bộ các quyền hạn mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên
trực tiếp trong việc xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình
sự do các Tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm, mà bản án (quyết định) chưa có
hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”. Theo chúng tôi đây là một
khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh.

về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ
nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi
thường thiệt hại [24, Điều 249].
Qua nghiên cứu quy định trên cho thấy quyền sửa bản án sơ thẩm của
Tòa án cấp phúc thẩm có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyền sửa các nội dung của
bản án sơ thẩm có sai sót liên quan đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân
sự, hình phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo, xử lý vật chứng, không sửa
các sai sót liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng. Điều này xuất phát từ lý
do các sai sót về thủ tục tố tụng là sai sót ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền,
lợi ích chính đáng của đương sự và bị cáo, làm cho quá trình xác định sự
thật của vụ án không khách quan toàn diện và đầy đủ. Sai sót về thủ tục tố
10

tụng là những gì đã xảy ra không thể lặp lại được nên không thể sửa lại
được. Nếu không sai lầm vi phạm nghiêm trọng thì chỉ rút kinh nghiệm, rút
ra bài học, nếu là sai lầm, vi phạm nghiêm trọng thì chỉ có thể hủy bản án sơ
thẩm để điều tra hoặc xét xử lại.
Thứ hai, phạm vi quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
được quy định theo hướng mở rộng quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho
bị cáo, hạn chế quyền sửa bản án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo.
Hầu như tất cả các vấn đề liên quan tới trách nhiệm hình sự và hình
phạt đối với bị cáo Tòa án cấp phúc thẩm đều có thể xem xét và sửa theo
hướng có lợi cho bị cáo. Điều kiện để Tòa án phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo
hướng này được quy định khá mở rộng nhưng cũng không quá lỏng lẻo để
tránh việc biến cấp phúc thẩm trở thành cấp sơ thẩm thứ hai. Ngoài yêu cầu
chung là có kháng cáo kháng nghị (kể cả kháng cáo, kháng nghị theo hướng
không có lợi cho bị cáo) thì không có bất kì một hạn chế nào khác trong quá
trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm.
Ngoại trừ trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và

kháng cáo hoặc không bị kháng cáo kháng nghị. Quy định trên buộc người
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát phải thận trọng trong việc kháng cáo hoặc
kháng nghị, buộc Tòa án cấp phúc thẩm phải thận trọng trong việc quyết định
sửa án sơ thẩm theo hướng bất lợi.
Thứ ba, Tòa án cấp phúc thẩm không sửa bản án sơ thẩm từ tuyên bố bị
cáo không có tội thành có tội. Xuất phát từ nguyên tắc chung là “bảo đảm
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”, việc Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo không có tội thành có tội sẽ làm mất
đi quyền bào chữa và quyền kháng cáo của bị cáo đối với tội danh mới bị
tuyên trong bản án phúc thẩm.
12

Tóm lại, quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm là một quy định rất
quan trọng. Tòa án cấp phúc thẩm làm thay đổi các nội dung của bản án hình
sự sơ thẩm có sai sót để kịp thời sửa chữa khắc phục sai lầm trong công tác
xét xử, kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và đương
sự, đồng thời góp phần hạn chế tình trạng oan sai trong xử lý hình sự.
1.2. Điều kiện làm phát sinh quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án
phúc thẩm
Điều kiện làm phát sinh quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc
thẩm chính là có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp pháp theo thủ tục phúc thẩm
đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Kháng cáo là việc những người tham gia tố tụng do pháp luật tố tụng quy
định đề nghị Toà án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của tòa án cấp
sơ thẩm đang trong thời hạn kháng cáo nhằm bảo đảm cho họ có điều kiện bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tòa án xử lí vụ án [13, tr.192].
Theo quy định tại Điều 231 BLTTHS và

Nghị quyết số 05/2005/NQ-
HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi

33c/SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946, sắc lệnh 51/SL
ngày 17/4/1946 quy định việc thành lập Tòa án quân sự và thẩm quyền xét
xử của Tòa án quân sự. Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 và sắc lệnh số 51
ngày 17/4/1946 nêu rõ việc phân định thẩm quyền của Tòa án quân sự, trong
đó đối với các vụ án hình sự thì Tòa án sơ cấp vừa có thẩm quyền xử sơ thẩm
và chung thẩm, Tòa án đệ nhị cấp có thẩm quyền xử chung thẩm những án vi
cảnh của Tòa án sơ cấp bị kháng cáo, Tòa thượng thẩm có thẩm quyền xử
chung thẩm những án kháng cáo sơ thẩm của Tòa đệ nhị cấp.
Riêng đối với các vụ án phản cách mạng hoặc vụ án thuộc thẩm quyền
của Tòa án quân sự thì giai đoạn 1946 - 1957 không xét xử đến cấp thứ hai,
bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành ngay (sắc lệnh số
21/SL ngày 14/02/1946 và sắc lệnh số 156/SL ngày 17/11/1950).
14

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thủ tướng
Chính phủ ra nghị định số 300/TTg ngày 14/8/1959 thiết lập lại hệ thống Tòa
án, và khi đó Tòa án cấp phúc thẩm được chia tại 3 khu vực: Tại Hà Nội, Hải
Phòng và Vinh, có nhiệm vụ xét xử lại các vụ án hình sự sơ thẩm bị kháng
cáo kháng nghị. Sau Nghị định 331/TTg ngày 20/10/1959, TAND tách khỏi
Bộ tư pháp và Tòa án tối cao được thành lập “có nhiệm vụ xét xử phúc
thẩm những vụ án do tòa án cấp dưới xét xử trong trường hợp có kháng
nghị của cơ quan công tố”.
Với đặc điểm tình hình đất nước có chiến tranh, bị chia cắt hai miền
Nam Bắc nên trong giai đoạn này có khá nhiều văn bản pháp luật về TTHS
được ban hành, tuy nhiên chủ yếu là các văn bản điều chỉnh về thiết lập và
hoàn thiện hệ thống Tòa án nhân dân và thẩm quyền chung của các Tòa án.
Hệ thống văn bản TTHS không có quy định nào xác định cụ thể khi xét xử
phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền sửa đổi nội dung gì của
bản án sơ thẩm.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988

thẩm tuyên vô tội hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự, tha miễn hình phạt; có
thể xử tội danh nặng hơn, tăng nặng hình phạt. Đối với bị cáo không kháng
cáo hoặc không bị kháng nghị về phần hình phạt thì vấn đề sửa bản án sơ
thẩm theo hướng nặng hơn không đặt ra. Tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm vẫn
có thể sửa tội danh và hình phạt trong một số trường hợp cụ thể như: có thể
xử tội danh nặng hơn nếu tại phiên tòa chính bị cáo cũng thừa nhận tội danh
nặng hơn, có thể bổ sung thêm hình phạt phụ vào hình phạt chính mà hình
phạt chính vẫn được giữ nguyên v.v Ngoài ra cũng có thể sửa về bồi thường
thiệt hại và xử lý tang vật [31, tr. 224-227].
16

1.3.3. Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003
Bộ luật TTHS 1988 ra đời trong giai đoạn đầu của thời kì đổi mới, đánh
dấu bước ngoặt quan trọng. Đây là Bộ luật đầu tiên quy định cụ thể, chi tiết
thẩm quyền của Tòa án, trình tự tố tụng trong xét xử vụ án hình sự, trong đó
có quy định chi tiết về các trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ
thẩm tại Điều

221. Điều luật quy định rất rõ ràng hai trường hợp Toà án cấp
phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:
1-Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho bị cáo;
b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý
vật chứng.
2- Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt
hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho cả
những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
3- Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị

TTHS. Quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm trong pháp luật TTHS của
nước ta từ năm 1960 trở lại đây và nhất là quy định tại BLTTHS năm 2003
cũng chịu ảnh hưởng và được phát triển dựa trên nguyên tắc trên.
1.4. Quyền sửa bản án sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự một
số nước trên thế giới
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, pháp luật của các nước trên thế giới quy
định thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm theo hai xu hướng. Một số
nước điều chỉnh mở rộng thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm (phúc thẩm mở
rộng), ngược lại một số nước lại điều chỉnh thu hẹp thẩm quyền này (phúc
18

thẩm thu hẹp). Phúc thẩm mở rộng không hạn chế quyền xem xét quyết định của
Tòa án cấp phúc thẩm đối với bản án bị kháng cáo kháng nghị theo bất cứ hướng
nào. Ngược lại, phúc thẩm thu hẹp hạn chế phạm vi xem xét kháng cáo kháng
nghị để không biến cấp phúc thẩm thành cấp sơ thẩm thứ hai [5, tr. 39-42]. Mỗi
xu hướng đều có những ưu nhược điểm riêng, việc các quốc gia lựa chọn xu
hướng điều chỉnh nào đều phải căn cứ vào chế độ chính trị, mô hình tố tụng
và chính sách hình sự của quốc gia mình. Qua nghiên cứu cho thấy dù đi theo
xu hướng nào, quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc
thẩm trong pháp luật TTHS của đa số các nước đều có đặc trưng là không
được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và mở rộng quyền sửa bán án sơ thẩm
theo hướng có lợi cho bị cáo.
Luật TTHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, được Đại hội Đại
biểu nhân dân toàn quốc thông qua ngày 01 tháng 7 năm 1979, và được sửa
đổi theo Quyết định sửa đổi Luật TTHS của nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa ngày 17 tháng 3 năm 1996 (sau đây gọi là luật TTHS Trung Quốc). Luật
TTHS của Trung Quốc có cấu trúc tương tự như luật TTHS của Việt Nam,
cũng quy định nguyên tắc hai cấp xét xử. Đây là Bộ luật điển hình cho xu
hướng điều chỉnh mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc
xem xét bản án sơ thẩm.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status