Tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán, phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tại Công ty TNHH thương mại và thiết bị văn phòng Việt Nhật - Pdf 30

Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị thực tập.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hà
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ KẾ TOÁN VÀ CÁC BẢNG, BIỂU
SƠ ĐỒ
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
LỜI NÓI ĐẦU
Theo xu hướng phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế nước ta
dưới sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước có những đổi mới sâu sắc theo cơ chế kinh tế,
đồng thời hệ thống kế toán Việt Nam đã được hoàn thiện để đáp ứng những đòi hỏi
cấp thiết của nền kinh tế thị trường góp phần tích cực vào tăng cường và nâng cao
chất lượng quản lý tài chính toàn doanh nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh
tế nói chung. Chính nhờ những đổi mới mạnh mẽ này đã tạo cho nền kinh tế một
động lực phát triển thông qua cơ chế cạnh tranh. Cạnh tranh là qui luật tất yếu của
nền kinh tế thị trường đồng thời cũng là nhân tố tạo ra sức sống mãnh liệt cho nền
kinh tế. Trong cơ chế mới các doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trong

Chương I: Lý luận chung về tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán, phân
tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng tổ chức kế toán các nghiệp vụ thanh toán, phân tích
tình hình công nợ và khả năng thanh toán tại công ty TNHH thương mại và thiết bị
văn phòng Việt Nhật.
Chương III: Phương hướng hoàn thiện kế toán thanh toán nhằm góp phần
nâng cao khả năng thanh toán tại công ty TNHH thương mại và thiết bị văn phòng
Việt Nhật.
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CÁC NGHIỆP VỤ THANH TOÁN,
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG NỢ VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề chung về thanh toán
1.1.1.Vai trò của thanh toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh chung của
doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động khác trong
nền kinh tế cuối cùng đề được kết thúc bằng khâu thanh toán. Hoạt động thanh toán
trong các doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong công tác
quản lí tài chính của mỗi đơn vị, nó có những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp diễn ra từ khâu mua hàng hóa về nhập kho cho tới khi tiêu thụ nó, và hoạt
động thanh toán phát sinh ngay từ khâu đầu tiên kéo dài đến khâu cuối cùng của
hoạt động kinh doanh. Như vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động thanh toán được thực hiện một cách khoa học, hợp lý và kịp thời sẽ
có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và
ngược lại. Do vậy, việc tổ chức công tác thanh toán một cách khoa học và hoạt

thanh toán khác…Kết quả thực hiện các khoản thanh toán này cũng ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2 Phân loại các nghiệp vụ thanh toán
- Căn cứ vào nội dung các hoạt động thanh toán, có thể chia các nghiệp vụ
thanh toán thành các loại sau:
+ Thanh toán các khoản nợ phải thu
+ Thanh toán các khoản nợ phải trả
- Căn cứ vào đối tượng của thanh toán có thể chia thành:
+ Thanh toán với nhà cung cấp
+ Thanh toán với Ngân sách Nhà nước
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
+ Thanh toán với khách hàng
+ Thanh toán với công nhân viên
+ Thanh toán với ngân hàng và các tổ chức tín dụng
+ Thanh toán với các đối tượng khác
- Căn cứ vào thời hạn thanh toán, các nghiệp vụ thanh toán có thể chia thành:
+ Thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
+ Thanh toán các khoản nợ dài hạn
+ Thanh toán ngay sau khi giao nhận hàng
+ Thanh toán sau khi nhận hàng
+ Thanh toán khác: thanh toán trả góp, thanh toán bù trừ…
1.1.3 Các phương thức thanh toán
Tất cả các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động khác trong
nền kinh tế cuối cùng đều kết thúc bằng khâu thanh toán. Để cho quá trình thanh
toán được thực hiện một cách thuận lợi, vừa tiết kiệm thời gian vừa đảm bảo an
toàn gọn nhẹ thì các phương thức thanh toán cũng ngày được cải tiến. Vì vậy ngoài
các phương thức thanh toán bằng tiền mặt, hình thức hàng đổi hàng trước đây, hiện
nay trong thanh toán người ta còn áp dụng nhiều hình thức thanh toán gián tiếp

hàng ngày giao nhận chứng từ trực tiếp hoặc khác hệ thống có tham gia thanh toán
bù trừ trên địa bàn tỉnh thành phố.
* Thanh toán ủy nhiệm chi
Ủy nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của
ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích chuyển tài khoản của mình để trả
cho người hưởng thụ.
Ủy nhiệm chi dùng để thanh toán các khoản tiền hàng, dịch vụ hoặc chuyển
tiền trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng trong phạm
vi ngày làm việc phải thực hiện lệnh chi của khách hàng với tư cách là ngân hàng
trả tiền. Các ngân hàng phục vụ đơn vị được hưởng phải kịp thời chuyển vào tài
khoản của người được thụ hưởng.
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
* Thanh toán theo ủy nhiệm thu
Ủy nhiệm thu là lệnh ủy thác của người được hưởng nhờ ngân hàng thu hộ số
tiền ghi trên ủy nhiệm thu.
Ủy nhiệm thu được áp dụng trong thanh toán giữa các khách hàng do một
ngân hàng hay hai ngân hàng cùng hệ thống hay khác hệ thống phục vụ. Người
được hưởng phải thông báo cho ngân hàng phục vụ mình những điều kiện thanh
toán ghi trong hợp đồng mua hàng. Người thụ hưởng phải lập và nộp ủy nhiệm thu
cùng với các chứng từ hàng hóa, dịch vụ trong thời hạn qui định đến ngân hàng
phục vụ mình. Trong vòng một ngày làm việc, ngân hàng phục vụ người trả tiền
phải hoàn tất các thủ tục trích tài khoản và chuyển số tiền trả cho bên thụ hưởng.
*Thanh toán theo thư tín dụng L/C
Thư tín dụng là lệnh viết của người trả tiền yêu cầu một ngân hàng trả tiền cho
người được hưởng khi người đó thực hiện đúng và đủ những điều kiện ghi trong thư
tín dụng.
Người trả tiền lập giấy mở thư tín dụng, ghi rõ các yếu tố qui định và phải lưu
số tiền trên L/C ở ngân hàng phục vụ mình.

- Tiền tệ trong thanh toán quốc tế
- Thời hạn thanh toán
- Các phương thức thanh toán quốc tế
- Các điều kiện đảm bảo hối đoái
* Thanh toán Quốc tế thông qua thư tín dụng (L/C)
Phương thức thanh toán Quốc tế bằng L/C là một sự sự thỏa thuận giữa đơn vị
mua hàng và đơn vị bán hàng thuộc hai quốc gia khác nhau thông qua tổ chức tài
chính trung gian là ngân hàng thương mại, ngân hàng phát hành L/C theo yêu cầu
của khách hàng để thanh toán cho bên bán hay đơn vị xuất khẩu thông qua một
ngân hàng do người bán lựa chọn và được sự thống nhất của hai bên.
Trong phương thức thanh toán này ngân hàng đóng vai trò trung gian như là
một người đảm bảo thanh toán cho bên bán khi tất cả các hóa đơn chứng từ đầy đủ
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
và hợp lệ.
* Thanh toán bằng điện chuyển tiền
Bên cạnh các hình thức thanh toán bảng L/C, trong thanh toán Quốc tế người
ta còn sử dụng hình thức thanh toán bằng điện chuyển tiền. Về phương thức thanh
toán cơ bản giống thanh toán bằng L/C nhưng đơn giản hơn nhiều về mặt thủ tục
thanh toán. Thông thường hình thức thanh toán này chỉ được áp dụng trong trường
hợp giữa hai bên có sự giao dịch thường xuyên lâu dài, có sự tin tưởng lẫn nhau và
bên bán chấp nhận cho bên mua thanh toán bằng điện chuyển tiền. Việc thanh toán
được tiến hành sau khi giao nhận hàng , thời gian do hai bên thỏa thuận.
* Hình thức thanh toán ủy thác thu
Ủy thác thu là một hình thức thanh toán quốc tế, trong đó người bán sau khi đã
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua thì lập giấy
ủy thác thu nhờ ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối
phiếu do người bán kí phát.
Trong đó ngân hàng trung gian chỉ chịu trách nhiệm thu hộ tiền chứ không

từng bên để lấy số liệu ghi vào các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính liên quan.
1.2.2.1. Đối với kế toán các khoản phải thu
Các khoản phải thu là một bộ phận vốn của đơn vị đang bị các cá nhân, cơ
quan, đơn vị khác chiếm dụng.
Đặc điểm của các khoản phải thu là tuy nó thuộc vốn sở hữu của đơn vị nhưng
tạm thời không thuộc quyền sử dụng của đơn vị, không tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh, không mang lại lợi ích cho đơn vị.
Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu để tránh tổn thất, nhanh chóng thu hồi
vốn đưa vào kinh doanh là yêu cầu thường xuyên cấp bách của đơn vị.
Kế toán các khoản phải thu phải tôn trọng những yêu cầu có tính nguyên tắc
sau đây:
- Những khoản nợ phải thu cần được hạch toán chi tiết theo từng đối tượng
phải thu. Kế toán theo dõi chặt chẽ từng khoản nợ phải thu, thường xuyên kiểm tra
đôn đốc thu hồi nợ, tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn hoặc nợ nần dây dưa.
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
- Những khách nợ có quan hệ giao dịch, mua hàng thường xuyên hoặc có số
dư nợ lớn thì định kỳ hoặc cuối tháng kế toán cần tiến hành kiểm tra, đối chiếu từng
khoản nợ đã phát sinh, đã thu hồi và số còn lại. Nếu cần có thể yêu cầu khách hàng
xác nhận bằng công văn.
- Các khách hàng không thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp bằng tiền
mặt, bằng séc mà thanh toán bằng hàng (trường hàng đổi hàng) hoặc bù trừ giữa nợ
phải thu hoặc nợ phải trả, chuyển vào dự phòng nợ phải thu khó đòi cần có đủ các
chứng từ hợp pháp, hợp lệ liên quan như biên bản đối chiếu công nợ, biên bản bù
trừ công nợ, biên bản xóa nợ kèm theo các bằng chứng xác đáng về số nợ thất thu
phải tính vào số đã lập dự phòng.
- Trong báo cáo tài chính, chỉ tiêu Tài sản ngắn hạn phản ánh các khoản phải
thu được thể hiện theo giá trị thuần, do đó trong nhóm tài sản này phải thiết lập
“một khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi” để bù đắp giá trị thiệt hại khi khách

những qui định có tính chất sau:
- Tất cả các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp phải được theo dõi một cách
chi tiết số phải trả, số đã trả trong kỳ, số đã tăng trong kỳ và số còn phải trả với từng
chủ nợ. Yêu cầu này đặt ra nhằm mục đích tránh có sự nhầm lẫn trong thanh toán
các khoản nợ quá hạn.
- Với các chủ nợ mà doanh nghiệp có quan hệ giao dịch, mua bán thường
xuyên và có số nợ phải trả lớn, hàng tháng, hàng quý, năm kế toán cần phải kiểm tra
đối chiếu tình hình công nợ, bao gồm các khoản nợ phát sinh, các khoản nợ đã
thanh toán và số nợ còn phải thanh toán có xác nhận với từng chủ nợ.
- Các tài khoản theo dõi nợ phải trả thường có số dư bên Có, nhưng trong quan
hệ thanh toán với từng chủ nợ, có trường hợp doanh nghiệp trả trước tiền hàng, số
tiền đã trả lớn hơn số phải trả…như vậy sẽ có một số tài khoản có số dư bên Nợ.
Cuối kỳ kế toán, khi lập Báo cáo tài chính, khi tính toán các chỉ tiêu phải trả cho
phép lấy số dư chi tiết của các đối tượng nợ phải trả để lên hai chỉ tiêu bên Tài sản
và Nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán.
1.2.3 Tổ chức kế toán một số nghiệp vụ thanh toán chủ yếu trong doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hoạt động thanh toán trong quan
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
hệ giữa các doanh nghiệp với các bên liên quan cũng ngày càng đa dạng phong phú.
Do điều kiện thời gian hạn chế cho nên luận văn này chỉ đi vào trình bày hai nội
dung: kế toán các khoản phải thu và kế toán các khoản nợ phải trả.
Trong đó: Phần kế toán các khoản phải thu trình bày các nội dung sau:
- Kế toán phải thu khách hàng.
- Kế toán thuế GTGT được khấu trừ.
- Kê toán các khoản phải thu khác.
- Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Phần kế toán các khoản nợ phải trả trình bày các nội dung sau:
- Kế toán các khoản phải trả nhà cung cấp.

Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
Thuế GTGT được khấu trừ là số tiền đơn vị đã nộp cho Nhà nước khi mua vật
tư hàng hóa thông qua người bán hàng để khi đơn vị bán sản phẩm hàng hóa sẽ
được khấu trừ hoặc được Nhà nước trả lại theo luật thuế GTGT hiện hành. Thực
chất thuế GTGT được khấu trừ là một khoản phải thu của đơn vị với Ngân sách Nhà
nước, nó được thanh toán bằng cách khấu trừ số thuế GTGT mà đơn vị phải
nộp(nếu có) hoặc được trả lại bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
Đặc điểm của thuế GTGT được khấu trừ là khi phát sinh nghiệp vụ mua vật
tư, hàng hóa đồng thời là khi đơn vị nộp khoản thuế GTGT được khấu trừ. Hơn nữa
đơn vị là người nộp trước thuế GTGT phải nộp nhưng không trực tiếp với cơ quan
thuế mà thông qua người bán.
Việc tổ chức phản ánh chính xác, đầy đủ, bóc tách kịp thời giá mua, thuế
GTGT được khấu trừ trong giá thanh toán hàng mua là nhiệm vụ của kế toán.
* Tài khoản sử dụng trong kế toán thuế GTGT được khấu trừ:
Kế toán sử dụng TK 133- Thuế GTGT được khấu trừ. Tài khoản này chỉ áp
dụng ở doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
TK 133- Thuế GTGT được khấu trừ có 2 TK cấp 2.
+ TK 1331- Thuế GTGT được khấu trừ của vật tư hàng hóa.
+ TK 1332- Thuế GTGT được khấu trừ của tài sản cố định.
* Chứng từ và hệ thống tài khoản sử dụng:
Chứng từ :
- Hóa đơn GTGT
- Bảng kê mua hàng
Sổ sách kế toán:
- Sổ theo dõi tình hình thanh toán thuế GTGT
- Sổ tổng hợp TK 133
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ

không có khả năng thanh toán đúng thời hạn, đầy đủ (như là bị phá sản thiên tai,
hỏa hoạn, mất khả năng thanh toán… trong năm kế hoạch.
Lập dự phòng phải thu khó đòi là việc đơn vị tính trước vào chi phí doanh
nghiệp một khoản chi để khi có khoản nợ phải thu khó đòi, không đòi được thì tình
hình tài chính của đơn vị không bị ảnh hưởng.
Việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi được thực hiện vào cuối niên độ kế
toán, trước khi lập Báo cáo tài chính như các khoản dự phòng khác. Mức trích lập
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
dự phòng đối với các khoản nợ phải thu khó đòi và việc xử lý nợ phải thu khó đòi
phải theo qui định của chế độ tài chính doanh nghiệp.
* Tài khoản sử dụng trong kế toán dự phòng phải thu khó đòi:
Để theo dõi và quản lý các khoản nợ phải thu ở các đơn vị khách hàng mà theo
đánh giá của doanh nghiệp là khó có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn và đầy đủ trong
năm kế hoạch thì kế toán phải lập dự phòng và theo dõi trên TK 1592- Dự phòng
phải thu khó đòi.
* Trình tự kế toán dự phòng phải thu khó đòi.
Sơ đồ số 05 – trình tự kế toán dự phòng phải thu khó đòi
1.2.3.2 Kế toán các khoản phải trả
1.2.3.2.1 Kế toán các khoản phải trả nhà cung cấp
Khoản nợ phải trả cho người bán, người nhận thầu , người cung cấp lao vụ
dịch vụ là những khoản nảy sinh trong quá trình thanh toán có tính chất tạm thời mà
doanh nghiệp chưa thanh toán cho các bên do chưa đến hạn thanh toán.
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: GS.TS Nguyễn Đình Đỗ
* Tài khoản sử dụng trong thanh toán với nhà cung cấp:
Để theo dõi các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp, kế toán sử dụng TK 331-
Phải trả cho người bán.

thuế đã nộp được xét miễn giảm cho thoái thu.
TK 333- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước có 9TK cấp 2:
TK 3331-Thuế GTGT phải nộp.
SVTH: Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ47/21.04

Trích đoạn Kế toán thuế GTGT được khấu trừ Kế toán các khoản phải trả người bán Kế toán thuế và các khoản phải nộp Nhà nước Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tại công ty TNHH thương mại và thiết bị văn phòng Việt Nhật Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status