NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TUỆTRUNG THƯỢNG SĨCHO THƠTHIỀN VIỆT NAM - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________________

Trần Thị Thu Hiền
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TUỆ TRUNG
THƯỢNG SĨ CHO THƠ THIỀN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Mã số : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Lời cảm ơn

Đề tài này được thực hiện hiện dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình
của PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân cùng sự góp ý của các Giáo sư – Tiến sĩ

thơ thiền Việt Nam nói chung. Sáng tác của một thiền sư – cư sĩ, tất nhiên
hàm chứa những triết lí của Phật giáo. Song nếu xem chúng chỉ đơn thuần là
giáo lí, truyền giảng kinh Phật thôi thì chưa đủ. Bởi vì “giữa thơ thiền và lời
triết lí truyền giáo có khoảng cách rất xa. Cái gì tạo nên khoảng cách ấy?
Đó
là chất thơ, là rung cảm nghệ thuật, là cảm quan sáng tạo của nhà thơ trước
cuộc đời, là ẩn tàng bao dấu ấn tâm hồn của nhà thơ trong đó...” [109, tr.492].
Nhận định này của tác giả Nguyễn Phạm Hùng tuy viết về “Thơ thiền v
à việc
lĩnh hội thơ thiền thời Lý” song cũng rất phù hợp khi nói về Tuệ Trung. Ông
là một thiền gia lỗi lạc được người đương thời rất mực đề cao, đồng thời cũng
là một nghệ sĩ có lối viết riêng khó lẫn.

Đóng góp của Tuệ Trung là không thể phủ nhận, song do xa lạ với
sách giáo khoa cũng như do cái chất uyên áo không dễ lí giải trong các tác
phẩm thơ thiền nên Thượng sĩ vẫn còn là nhân vật mới mẻ, nếu không muốn
nói là lạ lẫm với phần đông độc giả. Bởi vậy, tìm hiểu những đóng góp của
Tuệ Trung cho thơ thiền Việt Nam là một cách đưa nhà thơ – nhà triết học có
vai trò quan trọng đối với học phong của một thời đại hoàng kim
trong lịch sử
dân tộc đến với mọi người, đồng thời cũng là mở ra cho bản thân cơ hội được
hiểu thêm về Thượng sĩ cũng như thơ văn thời đại Lý Trần.
2. Lịch sử vấn đề:
Tuệ Trung Thượng sĩ là cây đại thụ trong rừng thiền Việt Nam. Cho
đến nay đã có khá nhiều bài tham luận, công trình viết về ông. Các công trình
đó có thể chia làm hai hướng nghiên cứu sau:
2.1. Tuệ Trung là một bộ phận nhỏ trong đối tượng nghiên cứu:

+ Diện mục Tuệ Trung
+ Hòa quang đồng t
rần
+ Đập vỡ thái độ bám víu vào khái niệm
+ Phá vỡ những vấn đề giả tạo
+ Diệu khúc bản lai tu cử xướng
Qua năm p
hần lớn này, Nguyễn Lang khẳng định Tuệ Trung là một
thiền gia lớn có hành trạng đặc biệt: “Tùy tục hay không tùy tục, trộn lẫn với
đời hay không trộn lẫn với đời, hành tung của tuệ Trung chỉ có thể là hành
tung của Tuệ Trung, chẳng ai có thể bắt chước mà trở nên một Tuệ Trung
được” [66, tr.312].
- Năm 1995, quyển Thiền học đời Trần do Viện nghiên cứu Phật học
Việt Nam
xuất bản, gồm 28 bài viết của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề tác
phẩm, tư tưởng của các thiền gia đời Trần. Trong số đó có thể kể đến bốn bài
viết đề cập trực tiếp về Tuệ Trung Thượng sĩ: Con người Tuệ Trung Thượng
sĩ của Minh Chi, Chất thiền nơi Tuệ Trung Thượng sĩ của Thích Minh Tuệ,
Tuệ Trung Thượng sĩ và Tinh t
hần siêu phóng của Tuệ Trung Thượng sĩ của
Thích Thanh Từ. Bốn bài viết này lí giải về thân thế, phong cách và đạo Thiền
của Tuệ Trung Thượng sĩ. Các tác giả chỉ ra tâm hồn của Tuệ Trung Thượng

sĩ là một tâm hồn siêu thoát, có thể hòa ánh sáng của mình vào cõi đời bụi
bặm.
- Nguyễn Hùng Hậu viết Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập
I, Từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV, NXB Khoa học xã hội, năm 2000 và

định những đóng góp của ông về mặt tư tưởng. Tác giả Lê Mạnh Thát khẳng
định:
Có thể nói lối sống thiền mà Tuệ Trung Trần Tung đưa ra vừa
là một tổng kết tinh hoa tư tưởng của một giai đoạn Phật giáo mà
bắt đầu với vua Lý Thánh Tông và dòng Thiền Thảo Đường, đồng
thời vừa mở ra một giai đoạn Phật giáo mới, giai đoạn Phật giáo cư
trần lạc đạo của vua Trần Nhân Tông (
...). Tuệ Trung Trần Tung
không chỉ cống hiến cho Phật giáo Việt Nam mà còn cho cả Phật
giáo thế giới. [25, tr.788].
- Trong công trình Tư tưởng Việt Nam thời Lý Trần do PGS. TS.
Trương Văn Chung và PGS. TS. Doãn Chính đồng chủ biên (NXB Chính trị
quốc gia, 2008) có hai bài viết đề cập trực tiếp đến Tuệ Trung Thượng sĩ. Bài
Bước đầu tìm hiểu tư tưởng triết học Tuệ Trung Thượng sĩ của CN. Diệu
Minh bàn bạc về bản thể luận và nhận thức luận của Thượng sĩ. Trên cơ sở
đó, tác giả bài viết k
hẳng định:
Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ đã trở thành một
trong những cơ sở lí luận, là ngọn đèn soi đường chỉ lối cho Phật
hoàng Trần Nhân Tông sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử,
trở thành giá đỡ tinh thần vững chắc cho sự thống nhất cao về tư
tưởng trong đời sống xã hội, đưa chế độ phong kiến Việt Nam bước
vào thời kì phát
triển hưng thịnh rực rỡ vào bậc nhất trong lịch sử.
[104, tr.140].
Bài Thiền học của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung và hiện tượng học
của Edmund Huserl: một số điểm tương đồng trong học thuyết về nhận thức
và phương pháp luận triết học của Ths. Nguyễn Trọng Nghĩa khi tiến hành so
sánh đã đá
nh giá: “Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung (1230 – 1291) là một nhà

đặc biệt là về dòng văn học Phật giáo của một thời đại phát triển rực rỡ vào
bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Để củng cố vững chắc các luận
điểm của mình, tác giả trích dẫn nhiều dẫn chứng, bao gồm trong đó cả những
sáng tác của Tuệ Trung.

- Nguyễn Phạm Hùng với ba chuyên luận: Văn học Lý – Trần nhìn từ
thể loại (NXB Giáo Dục, 1996), Thơ thiền Việt Nam – Những vấn đề lịch sử
và tư tưởng (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1998) và Trên hành trình văn
học trung đại (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2001) đã đưa ra nhiều lí giải
thú vị về thơ thiền Việt Nam qua các thời kì (thời nhà Lý, thời nhà Trần, thời
nhà Lê đến nhà Nguyễn) cũng như sự cần thiết phải nghiên cứu thơ thiền từ
khía cạnh thể loại. Đặc biệt trong công trình Thơ thiền Việt Nam – Những
vấn đề lịch sử và tư tưởng (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1998), ở chương
V – Thơ thiền thời Trần, Nguyễn Phạm hùng đã chỉ ra nét riêng trong sáng tác
của các gương mặt tiêu biểu cho thơ thiền thời kì này như: Trần Thái Tông,
Trần Tung (Tuệ Trung), Trần Nhân Tông, Huyền Quang. Khi viết về Tuệ
Trung, tác giả nhận định: “Cái độc đáo của nội dung thơ thiền Trần Tung là ở
tư tưởng phóng cuồng hết sức mạnh liệt. Cái độc đáo của hình thức thơ thiền
Trần Tung là mở rộng các biện pháp biểu hiện, từ thơ tới ca. Ca từ bằng chữ
Hán của Trần Tung khó có tác gia thiền nào sánh kịp…” [68, tr.152]
.
- Tác giả Đoàn Thị Thu Vân đã có một loạt bài viết bàn về văn học Lý
Trần đăng trên TCVH như: Một vài nhận xét về thơ thiền Lý Trần, TCVH,
1992, số 2, tr.35; Quan niệm về con người trong thơ thiền Lý Trần, TCVH,
1993, số 3, tr.12; Khoảnh khắc “Quên” trong thơ thiền, TCVH, 1998, số 4,
tr.90… Và đáng chú ý hơn cả là quyển chuyên luận Khảo sát đặc trưng nghệ
thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỉ X – thế kỉ XVI (NXB Văn học và Trung

Đối tượng chính của các công trình này là văn học của cả một thời đại,
Tuệ Trung chỉ là một tác giả trong số rất nhiều tác giả góp phần làm
nên diện
mạo văn học của thời đại ông đương sống. Vì vậy thơ văn của Thượng sĩ chưa
được bàn bạc cặn kẽ.
2.2. Tuệ Trung là một đối tượng chính của công trình nghiên cứu:
- Hướng nghiên cứu này có bài viết của Nguyễn Huệ Chi xuất hiện từ
rất sớm t
rên Tạp chí Văn học: Trần Tung, một gương mặt lạ trong làng thơ
thiền thời Lý Trần (TCVH, 1977, số 4, tr.116). Trong bài viết này, Nguyễn
Huệ Chi ngoài việc chỉ ra sự nhầm lẫn của Bùi Huy Bích (tác giả Hoàng Việt
thi tuyển) về thân thế của Tuệ Trung còn đề cập đến sự “lạ” trong sáng tác
của Thượng sĩ. Đó là thơ ca của Tuệ Trung “thể hiện khá đậm nét bản sắc con

người nhà thi sĩ (…). Bởi vì, nói đến Phật là nói đến vô tâm, là bình đẳng, là
không sai biệt (…). Ấy vậy mà một nhà tu hành trong quá trình cầu đạo lại
dám thả lỏng cho bản ngã của mình tự do bộc lộ” [54, tr.127].
- Nguyễn Duy Hinh, năm 1998 đã hợp tác với NXB Khoa học xã hội
xuất bản quyển sách Tuệ Trung nhân sĩ – Thượng sĩ – Thi sĩ . Công trình
này gồm ba chương chính:
+ Chương I: Tuệ Trung – nhân sĩ, Nguyễn Duy Hinh tập trung xác
định vị trí của Tuệ Trung trong lịch sử bảo vệ nước nhà cũng như trong lịch
sử phát triển của Thiền tông ở Việt Nam.
+ Chương II: Tuệ Trung – T
hượng sĩ, Nguyễn Duy Hinh minh giải
một số vấn đề Thiền học chính của Tuệ Trung.
+ Chương III: Tuệ Trung – thi sĩ, Nguyễn Duy Hinh tiến hành phân

rong đó những nguồn cảm
hứng tuyệt vời qua cái nhìn của một thiền sư cư sĩ, âm điệu nhẹ
nhàng toát lên một cách nhịp nhàng rung chuyển về cả hai mặt:
nghệ thuật thẩm mĩ và tư tưởng siêu thoát…
(…)Thượng sĩ không những làm nổi bật hình ảnh một cư sĩ đã
thâm nhập lẽ đạo trong việc dốc tâm thọ pháp tu tập thực hành về
Thiền học với cá
c thiền sư nổi tiếng thời đó để chứng ngộ pháp
chánh, ông còn là hình ảnh một thi nhân không những chỉ biết rung
cảm ca tụng vẻ thẩm mĩ của thiên nhiên, mà còn biết thưởng thúc
nét sinh động hay tịch lặng của nó qua lăng kính nhìn về thực tại...
[107, tr.185].
Cùng gặp gỡ với ý kiến trên, Trần Thanh Đạm khẳng định thê
m:
(…)Vị Thượng sĩ ấy trước hết là một thi sĩ. Có lẽ phải dành
cả một chuyên đề riêng để bàn về thi hứng và thi pháp thơ Tuệ
Trung. Tôi cứ nghĩ rằng trong các thiền gia thời Lý – Trần thì Tuệ
Trung thi sĩ hơn cả. Đặc biệt ông là cao thủ về thơ tứ tuyệt vốn
cũng là một lợi khí nghệ thuật của Thiền tông Trung Hoa, Nhật Bản,

Việt Nam. Những bài tứ tuyệt của Tuệ Trung về tứ thơ thầm trầm và
lời lẽ cao đẹp có thể sánh với thơ Vạn Hạnh, Viên Chiếu đời Lý,
song ở ông phong phú, dồi dào hơn… [107, tr.276].

Đó quả là những nhận định tinh tế, tiếc là các tác giả chưa lí giải cụ thể.
Tuy nhiên, có thể khẳng định tập sách là một công trình rất có giá trị, gợi mở
nhiều điều thú vị về hành trạng, lối sống, tư tưởng cũng như đóng góp về thơ

Về thuật ngữ thơ thiền, từ trước đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên
cứu đề cập, giới thuyết.
Đoàn Thị Thu Vân trong luận án PTS Khảo sát đặc trưng nghệ thuật
của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ X – thế kỉ XIV, cho rằng: Thơ Thiền là những
bài thơ của các tác giả là Thiền sư hoặc không phải là thiền sư nhưng hâm mộ
Thiền, có nghiên cứu và hiểu biết về Thiền, sáng tác theo những nội dung:
- Trực tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông – đó l
à những bài kệ.
- Gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông bằng hình ảnh trong
thiên nhiên và cuộc sống hằng ngày với cách nói ẩn dụ, nghịch ngữ…
- Bày tỏ cảm
xúc mang ý vị Thiền trước cái đẹp của thiên nhiên, con
người, cuộc sống; hoặc bày tỏ trạng thái tâm
tư đã giác ngộ chân lí, miêu tả
cái đẹp vi diệu bên trong con người.
Nguyễn Công Lý t
rong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần
diện mạo và đặc điểm lại cho thơ văn thiền gồm có bốn loại:
- Loại thứ nhất là kệ: trực tiếp t
rình bày giáo lí, tư tưởng nhà Phật bằng
hình thức thơ ngắn gọn, cô đúc.
- Loại thứ hai là kệ được thi vị hoá (còn gọi là thơ triết lí): thể hiện triết
lí nhà Phật
thông qua thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn với ngôn ngữ lung linh,
đầy hình ảnh đẹp và gợi cảm, giàu chất thơ.
- Loại thứ ba là thơ mang cảm hứng Thiền học: là những bài thơ m
ang

4. Đóng góp của luận văn:
Như đã khẳng định, Tuệ Trung là người chuộng đạo Thiền, lại là người
có đạo học uyên thâm, tác phẩm của ông tất nhiên là những t
ác phẩm nói về
đạo Phật, song do cách truyền giảng đặc biệt, chúng còn là những tác phẩm
văn học. Vì vậy thiết nghĩ cũng nên xét đóng góp của Thượng sĩ từ góc độ của
một nhà thơ thiền.
Trong l
uận văn này, dựa trên cơ sở của những công trì
nh nghiên cứu
trước, người viết bàn thêm về những vấn đề sau:
- Phát hiện những đóng góp về nội dung – tư tưởng của Tuệ Trung cho

thơ thiền Việt Nam trên cơ sở so sánh với các tác giả đời Lý và sự kế thừa của
các tác giả đời Trần.

- Phát hiện và lí giải một số nét riêng về đặc trưng nghệ thuật của thơ
thiền Tuệ Trung trong quan hệ với đặc trưng nghệ thuật chung của thời đại Lý
Trần.
Với việc lí giải những vấn đề trên, luận văn góp thê
m một cách nhìn để
hình tượng nhà thơ Tuệ Trung trở nên hoàn thiện hơn.
5. Phương pháp nghiê
n cứu:
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp và
thao tác s
au:

thời đại Lý Trần, Phật giáo Thiền tông thời Lý Trần, hành
trạng của Tuệ Trung Thượng sĩ).
- Chương 2: Những đóng góp về nội dung – tư tưởng của Tuệ Trung
cho thơ thiền Việt Nam (Gồm các nội dung: tư tưởng “t
ùy
duyên”, tinh thần phá chấp triệt để, tinh thần tự tin vào bản
thân, tinh thần dung hợp tam giáo).
- Chương 3: Những đóng góp về nghệ thuật của Tuệ Trung cho thơ
thiền Việt Nam (Khai thác các mặt: ngôn ngữ, giọng điệu,
hình tượng, thể thơ và kết cấu).
Chương 1:
THỜI ĐẠI LÝ TRẦN VÀ TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

đại từng chiếm giữ nhiều quốc gia ở Châu Á và Châu Âu. Cán cân ngoại giao
giữa Đại Việt và các nước phương Bắc ở thời kì này luôn được giữ ở thế cân
bằng. Dân tộc ta nhất quyết từ chối những yêu sách vô lí của ngoại bang đồng
thời khéo léo và quyết liệt buộc họ phải trả lại kì hết đất đai thuộc về Đại
Việt.
Tốc độ phát triển mau lẹ này còn thể hiện rõ ở mặt kinh tế. Nếu dưới
triều Ngô, Đinh công cuộc khôi
phục kinh tế chưa đạt thành tựu là bao thì đầu
thời nhà Lý trở đi công cuộc xây dựng đó đã thực sự khởi sắc, đặt nền tảng
cho sự phát triển vững chắc. Nông nghiệp được chú trọng, việc khẩn hoang và
xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp rất được coi trọng.
Hàng loạt ngành nghề thủ công truyền thống như dệt, gốm, in, chạm k
hắc, mĩ
nghệ… được khôi phục và phát triển. Nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc trên gỗ,
đá, gốm đạt đến trình độ khá cao. Đặc biệt là hình ảnh con rồng – con vật linh
của người Việt đã được tạc trên đình chùa với dáng vẻ mềm mại uyển chuyển.
Nhiều công trình nổi tiếng xuất hiện như: chùa Diên Hựu (chùa Một cột) đời
Lý, Tháp Phổ Minh ở Nam Định, Tháp Bình Sơn ở Vĩnh Phúc vào đời Trần…
Thời đại này còn tạo ra bốn công trình nổi tiếng được mệnh danh là “An Nam

tứ đại khí”. Đó là: Tháp Báo Thiên, Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông
Quy Điền và đỉnh (vạc) chùa Phổ Minh.
Việc học tập, thi cử đào tạo nhân tài, xây dựng đất nước cũng được
quan tâm. Ở đời Lý bên cạnh lệ bảo cử và
tiến cử làm quan, đến đời Vua Lý
Thánh Tông và Lý Nhân Tông còn có kỳ thi tuyển chọn nhân tài. Nhà Lý còn
cho xây dựng Văn miếu (1070), mở trường Quốc tử giám (1076). Sang đời

đặc trưng tinh thần của thời đại: nhân thứ, khoan dung, rộng mở, dân chủ mà
dũng liệt” [45, tr.68]. Đó là những ông vua anh minh, thương dân như con
như Lý Thánh Tông. Làm vua mà dễ dàng từ bỏ ngai vàng như “trút chiếc
giày rách” như Trần Thái Tông lúc trẻ; khi về già lại nhường ngôi cho con,
làm
thái thượng hoàng cùng xây dựng chính sự. Đó là những vị tướng vì an
nguy của xã tắc sẵn sàng xóa bỏ hiềm khích mâu thuẫn của gia tộc, ở ngôi cao
chức trọng được ân sủng đặc biệt nhưng không lạm dụng chức quyền, luôn
giữ trọn đạo làm tôi. Đó là những phi tần, công chúa quên đi việc làm đẹp,

hạnh phúc của bản thân, biết đặt quyền lợi của quốc gia trên quyền lợi của gia
đình. Đó là những thiền sư, cư sĩ tu theo đạo Phật, nhưng không ngại dấn thân
vào cuộc đời vì lợi ích của xã tắc… Ta có thể mượn một vài đoạn trong sách
sử của người xưa để hình dung rõ hơn về hào khí của con người thời ấy.
 “Vua Lý Thánh Tông cũng giống các vua đời trước tuy đóng đô
ở Thăng Long nhưng tình cảm thường gắn bó với ruộng đồng và rất thương
dân (...). Một lần ngự ở điện Thiên Khánh để xử kiện, con gái vua là Động
Thiên đứng hầu bên cạnh, phạm
nhân là một chàng trai trẻ phạm tội vì không
hiểu luật. Nhà vua gọi chúa ngục lại chỉ vào con gái mình mà nói:
- Ta yêu con ta như các bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu con cái họ. Trăm
họ không hay biết nên tự phạm vào luật pháp ta rất thương xót. Từ nay các
tội bất kỳ nặng nhẹ cần răn dạy kĩ lưỡng và nhất nhất phải đều khoan giảm.
Và nhà vua đã tha bổng cho người con trai nọ. Lần khác gặp trời rất
lạnh nghĩ đến dân vua chạnh lòng với tả hữu:
- Ta ở trong thâm cung sưởi lò t
han, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh còn thế

khanh nên lấy câu nói ấy mà truyền cho con cháu để nhớ lâu đừng quên thế là
phúc muôn năm của tôn miếu xã tắc vậy. Đến đây xuống chiếu cho các vương
hầu tôn thất, xong buổi chầu t
hì vào trong điện và lan đình, cùng nhau ăn
uống; hoặc có khi trời tối không về thì đặt gối dài chăn rộng cùng ngủ liền
giường với nhau để tỏ hết lòng yêu nhau. Còn như lễ lớn chầu mừng, tân
khách yến tiệc thì phân biệt ngôi thứ cao thấp. Vì thế nên vương hầu bấy giờ
không ai là không hòa thuận kính sợ, mà không có lỗi lệch vì sự nhờn mặt
kiêu căng” [42, tr.442-443]
.
 “Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra có người
thấy tướng trông thấy bảo rằng: Người này sau có thể giúp nước cứu đời (…).
Yên Sinh Vương với Chiêu Lăng (tức Trần Thái Tông) vốn không ưa nhau,
mang lòng hậm hực, tìm gặp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Khi
Yên Sinh Vương sắp mất cầm tay Quốc Tuấn mà giối giăng rằng: Mày mà
không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt. Quốc Tuấn để
bụng t
hôi nhưng không cho thế là phải. Đến khi nước lung lay, quyền bính
quân quốc ở tay mình, Quốc Tuấn đem lời cha rặn nói với hai gia nô là Dã

Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can rằng: làm kế ấy tuy được phú quý một
lúc mà để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay đại vương chẳng phải phú quý hay
sao? Chúng tôi thề xin chết làm gia nô chứ không muốn làm quan mà không
có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi. Quốc
Tuấn cảm kích đến phát khóc rồi khen ngợi mãi (...). Thái Tông có vài văn bia
ở sinh từ của Quốc Tuấn để ví với Thượng phụ ngày xưa. Lại cho là có công
lớn phong làm Thượng quốc công, cho phép được phong tước cho người khác

Ngài xem con người là sự tập hợp của nhiều yếu tố vật chất không ngừng biến
hóa nên sẽ không có cái gọi là linh hồn bất tử.
Khi Phật Thích Ca mất, Phật giáo phân chia thành nhiều tông phái.
Trong đó nổi bật nhất là hai tông phái: Tiểu thừa và Đại thừa. Tông phái Tiểu
thừa phát triển ở miền Nam Ấn Độ và truyền sang các nước Sơrilanca, Thái
Lan, Campuchia… (nó còn đư
ợc gọi là Phật giáo Nam phương hay Phật giáo
Pali). Tông phái Đại thừa phát triển ở Bắc Ấn và truyền qua các nước Tây
Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản… (tông phái này còn được gọi là Phật giáo Bắc
phương hay Phật giáo Sanskrit).
Việt Nam là đất nước nằm trong bán đảo Đông Dương, giữa chiếc nôi
của hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Quốc nên hiển nhiên sẽ chịu ảnh
từ cả hai phía. Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo truyền vào
nước ta từ thế kỉ thứ II bằng con đường tiếp nhận tự nguyện từ các thương
buôn và t
u sĩ người Ấn Độ trước khi Trung Quốc áp dụng chính sách đồng
hóa nước ta. Trong công trình Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Lang có
viết: “Luy Lâu là trụ sở của Giao Chỉ, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng
Việt Nam, tức huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Từ đây có n
hững
tuyến đường thủy bộ nối với Bành Thành và Lạc dương. Các nhà buôn người
Ấn Độ và người Trung Á đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là các
nhà sư đến hành đạo và truyền đạo... Ở đây lại xuất hiện một trong những tác
phẩm Phật giáo viết sớm nhất bằng chữ Hán, đó là cuốn Lý hoặc Luận của
Mâu Tử, viết vào t
hế kỉ thứ II, xuất hiện những người trưởng thành về tu
luyện rồi sang Trung Quốc truyền đạo như Mâu Tử, Khương Tăng Hội...”
[106, tr.29]. Nhà sư Đàm Thiên (người Trung Quốc) khi trả lời Tùy Văn Đế
về Phật giáo Giao Châu cũng khẳng định: “Xứ Giao Châu có đường thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status