Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo
tổng hợp kết quả nghiên cứu
Đề tài cấp bộ năm 2007
m số: b07 10
Quá trình hình thành Cộng đồng
Đông á và vai trò của nó đối với sự
phát triển của khu vực
Cơ quan chủ trì: Viện Quan hệ quốc tế
Chủ nhiệm đề tài: TS Thái Văn Long
Th ký khoa học : ThS Phạm Thị Phúc 6770
28/3/2007
Hà Nội 12 2007
2
Danh sách cộng tác viên
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
ASEM: Hội nghị cấp cao á - Âu
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng
ARF: Diễn đàn khu vực ASEAN (Bàn về vấn đề an ninh)
CHDCND: Cộng hoà dân chủ nhân dân
EC: Cộng đồng châu Âu
EU: Liên minh châu Âu
IMF: Quĩ tiền tệ quốc tế
NAFTA: Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ
LHQ: Liên hợp quốc
FDI: Đầu t trực tiếp nớc ngoài
FTA: Hiệp định mậu dịch tự do
WB: Ngân hàng thế giới
WTO: Tổ chức Thơng mại thế giới
4
Mục lục
Trang
Mở đầu 5
Chơng 1 Khái quát về Cộng đồng Đông á 12
1.1. Cộng đồng Đông á - từ ý tởng đến hiện thực 12
1.2. Các nhân tố tác động đến vai trò của Cộng đồng
5
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 14 tháng 12 năm 2005 tại Cuala Lumpua (Malaysia) Hội nghị cấp
cao Đông á (EAS) lần đầu tiên đợc tổ chức với sự tham gia của 10 nớc
ASEAN và 6 quốc gia khác, bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ấn
Độ, Austraylia và Niudilân. Tuyên bố chung Cuala Lumpua xác định: Hội
nghị cấp cao Đông á là một diễn đàn đối thoại rộng rãi về các vấn đề chiến
lợc chính trị, an ninh, kinh tế, mà các bên cùng quan tâm, hớng tới mục
tiêu thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vợng ở Đông á. Đồng thời là một
phần của cấu trúc khu vực, hỗ trợ cho các diễn đàn và tiến trình hiện có, nhất
là với khuôn khổ ASEAN +3. Ngoài ra, Tuyên bố còn khẳng định: Hội nghị
cấp cao Đông á sẽ là một tiến trình mở, thu nạp, minh bạch và hớng ra bên
ngoài, với ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Với chủ đề: "Một ý tởng, một tầm
nhìn, một cộng đồng" của Hội nghị, ý tởng về một Cộng đồng Đông á
không biên giới, có sự liên kết chặt chẽ về kinh tế đã bắt đầu hình thành, 16
quốc gia đại diện cho 1/2 dân số và 21% tổng kim ngạch thơng mại toàn
cầu, đang trên đờng hợp nhất sức mạnh.
Nh vậy, từ cuối năm 2005 trở đi, bên cạnh các mối liên kết hiện có,
ASEAN sẽ là nơi tụ họp của lãnh đạo cấp cao 10 nớc thành viên, 3 nớc
Đông Bắc á, ấn Độ và Nam Thái Bình Dơng là Austraylia và Niudilân, có
thể tiến tới sẽ có cả Nga tham gia. Điều này, không chỉ là dẫn chứng cho thấy
cơ chế hợp tác hiệu quả của các nớc ASEAN mà còn cho thấy các quốc gia
châu á đang ngày càng nhận thức đợc tầm quan trọng của xu thế hợp tác
không thể đảo ngợc. Cơ chế hợp tác Đông á mới, trong đó ASEAN là nòng
cốt sẽ giảm nhẹ những tồn tại vốn có trong quan hệ giữa các nớc Đông Bắc
á, làm bớt đi những khác biệt, vợt qua những rào cản về lòng tin và h
ớng
tới một lợi ích chung là những thách thức mà mỗi nớc phải chinh phục, vợt
qua trong quá trình liên kết nội khối.
nghị cấp cao Đông á, nhng đã đợc các cơ quan ngoại giao, đối ngoại và
các viện nghiên cứu quốc tế trong và ngoài nớc quan tâm nghiên cứu.
7
ở nớc ngoài: Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX các nhà nghiên cứu
trong khu vực đã đề cập nhiều đến vấn đề thành lập một khu vực: "Thịnh
vợng chung", một "Hành lang phát triển châu á" hay ý tởng "Đại Đông á"
của Nhật Bản. Khi đó Nhật Bản đa ra một mô thức "đàn ngỗng bay", tức là
trong hợp tác kinh tế ở Đông á thì Nhật Bản là con én đầu đàn, tiếp theo là
các nớc NIC và bay cuối cùng là các nớc đang phát triển. Tuy nhiên, vào
đầu thập kỷ 90, nền kinh tế Nhật Bản đi xuống, nên mô thức đàn én bay chỉ
tồn tại trên lời nói. Vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, ý tởng về việc
thành lập một Cộng đồng Đông á bao gồm Đông Nam á và Đông Bắc á đã
đợc cựu Thủ tớng Malaysia - ông Mahathia-Môhamed nhiều lần đề cập với
mong muốn giảm bớt sự phụ thuộc của châu á đối với Mỹ. Đề xuất của ông
Mahathia-Môhamed về việc thành lập Cộng đồng kinh tế Đông á chỉ nhận
đợc sự ủng hộ rộng rãi sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông á năm 1997.
Cuộc khủng hoảng này đã cho thấy sự phối hợp ở khu vực Đông á là cần
thiết nh thế nào. Cũng từ đây, các nghiên cứu về một Cộng đồng Đông á,
trớc hết là sự liên kết về kinh tế đã đợc đặt thành chủ đề nghị sự trong
nhiều cuộc hội thảo ở khu vực. Vào năm 2000, tại Hội nghị Thợng đỉnh
ASEAN+3, Tổng thống Hàn Quốc Kim Tê Chung đã đề xuất việc thành lập
nhóm nghiên cứu chuẩn bị cho việc thành lập Cộng đồng Đông á. Năm 2002,
tại Hội nghị ở Phnông Pênh, nhóm này đã đề nghị các nớc Đông Bắc á và
Đông Nam
á thể chế hóa sự hợp tác thành lập một cộng đồng, trong đó cộng
đồng kinh tế sẽ đợc thành lập trên cơ sở khu vực mậu dịch tự do Đông á.
Tại Hội nghị Thợng đỉnh ASEAN - Viên Chăn 10, cuối tháng 11 năm 2004,
10 nớc ASEAN và 3 nớc Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã nhất trí tổ
chức Hội nghị cấp cao Đông á đầu tiên tại Malaysia.
truy cập và lấy thông tin từ trang web:; và các thông
tin có liên quan từ Tin tham khảo đặc biệt do Thông tấn xã Việt Nam ấn
hành.
Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ chủ yếu đề cập đến vấn đề an
ninh, kinh tế của riêng từng cờng quốc đối với sự phát triển của khu vực; đến
9
những khía cạnh kinh tế, an ninh, chính trị, đối ngoại của khu vực, mà cha
tiếp cận Cộng đồng Đông á dới góc nhìn tổng thể, hệ thống.
Tình hình nghiên cứu trong nớc:
Trớc những thay đổi nhanh chóng về các mối quan hệ song phơng, đa
phơng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị ở khu vực Đông á, các viện
nghiên cứu, các trung tâm khoa học, các trờng đại học và nhiều nhà khoa
học ở Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu vấn đề này.
Trong năm 2006, Vụ ASEAN của Bộ Ngoại giao; Viện Nghiên cứu
Đông Nam á; Học viện Quan hệ quốc tế đã triển khai nghiên cứu các đề tài
cấp bộ: "Triển vọng Cộng đồng Đông á"; "Khả năng và giải pháp hội nhập
kinh tế của Việt Nam vào khu vực"; " Chiến lợc các nớc lớn ở khu vực
Đông á". Ngoài ra, trong nớc còn có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu
có liên quan đến đề tài, đáng chú ý là các tác giả và công trình sau:
Nguyễn Thu Mỹ, "Hợp tác Đông á - Những thành tựu sau ngày thành
lập", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 6 năm 2005, đã nêu và phân tích 3
thành tựu cơ bản trong hợp tác giữa các quốc gia Đông á trong thời gian qua:
xây dựng đợc tầm nhìn Đông á - hớng dẫn sự phát triển của tiến trình hợp
tác Đông á; tạo lập đợc một cơ cấu, thể chế để triển khai hợp tác Đông á;
kết quả hợp tác Đông á đã bớc đầu đóng góp vào sự phát triển của các nớc
thành viên, nâng cao vị thế của Đông á trên trờng quốc tế.
Nguyễn Xuân Thắng, "Sự điều chỉnh chiến l
ợc hợp tác khu vực châu á -
Thái Bình Dơng trong bối cảnh quốc tế mới", Nhà xuất bản Khoa học xã
triển của khu vực.
3. Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích: Làm rõ quá trình hình thành của Cộng đồng Đông á và đánh
giá đúng vai trò của Cộng đồng Đông á đối với sự phát triển của khu vực.
Trên cơ sở đó, đánh giá thuận lợi, khó khăn và triển vọng của Cộng đồng
Đông á, làm cơ sở cho Đảng và Nhà nớc ta có chính sách đúng đắn trong
những hoạt động chung của Cộng đồng này. 11
Nhiệm vụ:
- Làm rõ quan niệm, lịch sử hình thành Cộng đồng Đông á: từ ý tởng
trở thành hiện thực.
- Phân tích các nhân tố tác động đến vai trò của Cộng đồng Đông á.
- Phân tích, làm rõ vai trò của Cộng đồng Đông á đối với hòa bình, ổn
định hội nhập và phát triển trong khu vực.
- Nhận định đánh giá thuận lợi, khó khăn, triển vọng của Cộng đồng
Đông á trong sự phát triển chung của khu vực và thế giới.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Phơng pháp nghiên cứu chính đợc sử dụng là
phơng pháp lôgíc và lịch sử. Ngoài ra các phơng pháp: phân tích, thống kê,
khái quát, so sánh, dự báo đợc sử dụng để hỗ trợ cho phơng pháp chính
trong quá trình thực hiện đề tài.
5. Kết cấu của đề tài.
Đề tài đợc kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chơng, 8 tiết, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.
Diễn đàn kinh tế Đông á, hoặc Cộng đồng Đông á, bao gồm 10 nớc
ASEAN và 3 nớc Đông Bắc á là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản
1
, ý
kiến này không đơn thuần là khái niệm về địa lý, mà đợc đề cập dới góc độ
kinh tế - chính trị.
Theo quan niệm thứ hai, khu vực Đông á là một khu vực rất rộng lớn về
mặt địa lý, chiếm nửa số dân trên thế giới, là quê hơng của ba phát minh lớn
về khoa học kỹ thuật của nhân loại: thuốc súng, giấy in, la bàn; là khu vực có
nền văn hóa và văn minh lâu đời, rực rỡ và phong phú. Về kinh tế, trong
khoảng nửa thế kỷ qua, kể từ năm 1950, tỷ trọng của Đông á trong nền kinh
13
tế thế giới đã tăng lên rõ rệt và sẽ còn tiếp tục tăng. Hiện nay khu vực này
chiếm khoảng 20% đến 30% các hoạt động thơng mại thế giới. Khu vực này
bao gồm nhiều vùng kinh tế thuộc loại tiềm năng nhất trên thế giới, có những
nớc đang là mũi nhọn của sự phát triển kinh tế, là tấm gơng cho các nớc
khác trong sự vơn lên, khắc phục đói nghèo (nh Trung Quốc, Nhật Bản,
Singapore, Việt Nam, Malaysia v.v ).
Trên cơ sở phân tích trên, chúng ta rút ra quan niệm: Cộng đồng Đông á là
một khái niệm không gian cạnh tranh chiến lợc, là khái niệm địa - chính trị, địa -
kinh tế - văn hoá - xã hội, bao gồm không chỉ những quốc gia thuộc khu vực Đông
á, mà còn cả các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam á, Bắc á, Nam á, có chung ý
tởng và hành động tiến tới xây dựng một khu vực hợp tác toàn diện, nhằm thúc
đẩy phát triển khu vực và đối trọng với các khu vực khác trên thế giới.
Nh vậy, khái niệm Cộng đồng Đông á không nên hiểu theo nghĩa là địa lý
đơn thuần, có nghĩa là các thành viên không nhất thiết phải ở trong khu vực Đông á.
Đông á ngày nay là một không gian cạnh tranh ảnh hởng và những lợi ích chiến
lợc của các cờng quốc lớn. Hay nói cách khác là các cờng quốc trên toàn cầu có
cạnh tranh lợi ích ở trong không gian của khu vực Đông á, đặc biệt là khu vực
Từ thập kỷ 80 của thế kỷ trớc, khi Nhật Bản đa ra mô thức "đàn én
bay", tức là trong hợp tác kinh tế ở Đông á thì Nhật Bản là con én đầu đàn,
tiếp theo là các nớc công nghiệp mới nổi lên và bay cuối cùng là các nớc
đang phát triển. Tuy nhiên, trong những năm sau đó nền kinh tế Nhật Bản đi
xuống, nên mô thức đàn én bay chỉ tồn tại trên lời nói.
Cho tới những năm 90 của thế kỷ XX, ý tởng về việc thành lập một
Cộng đồng Đông á bao gồm Đông Nam á và Đông Bắc á, đã đợc Cựu
Thủ t
ớng Malaysia Mahathia - Môhamed nhiều lần đề cập. Năm 1994,
ông đã đề nghị thành lập tổ chức kinh tế Đông á nhằm giảm bớt sự phụ
thuộc của châu á đối với Mỹ. Nhng lúc ấy, Washington đã tìm cách huy
động các đồng minh ở châu á chống lại kế hoạch này vì sợ sẽ làm giảm vai
trò của Mỹ ở khu vực. Đề xuất của ông Mahathia Mohamed về việc thành
lập cộng đồng kinh tế Đông á chỉ nhận đợc sự ủng hộ rộng rãi sau cuộc
khủng hoảng kinh tế Đông á năm 1997. Cuộc khủng hoảng này đã cho
thấy, tính cấp thiết phải có sự phối hợp chung ở khu vực. Các hội nghị giữa
ASEAN và 3 nớc Đông Bắc á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) ngày
15
càng phát huy hiệu quả trong việc tăng cờng hợp tác nhằm ổn định kinh tế
khu vực sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997. Năm 2000, tại Hội nghị
Thợng đỉnh ASEAN + 3, Tổng thống Hàn Quốc Kim Tê Chung đã đề xuất
việc thành lập nhóm nghiên cứu chuẩn bị cho việc thành lập Cộng đồng
Đông á. Năm 2002, tại Hội nghị ở Phnông Pênh nhóm này đã đề nghị các
nớc ở Đông Bắc á và Đông Nam á thể chế hoá sự hợp tác thành lập một
cộng đồng, trong đó cộng đồng kinh tế sẽ đợc thành lập trên cơ sở khu
vực mậu dịch tự do Đông á.
Trong thực tiễn, có nhiều ý kiến trái chiều đợc nêu ra nh: liệu thời
điểm này đã cần thiết cho việc thành lập Cộng đồng Đông á cha khi mà
trớc mắt, ASEAN còn cần hoàn thiện việc hội nhập của nội bộ khối mình và
với khuôn khổ hợp tác ASEAN + 3"
2
. Ngoài ra, Tuyên bố chung còn nêu rõ:
Hội nghị cấp cao Đông á sẽ là một tiến trình mở, thu nạp, minh bạch và
hớng ra bên ngoài, với ASEAN giữ vai trò chủ đạo.
Việc tổ chức các Hội cấp cao Đông á là những bớc tiến trong quá trình
hoàn thiện cấu trúc liên kết khu vực để hớng tới một Cộng đồng Đông á.
Mục tiêu chung là nhằm tạo ra đợc một diễn đàn đối thoại khu vực
để xử lý mọi vấn đề khúc mắc, hớng tới khu vực hoà bình, an ninh và
thịnh vợng đúng nh tinh thần đã nêu trong Tuyên bố chung. Lợi ích lớn
nhất là thông qua các hội nghị, tiến hành xây dựng các cơ chế giúp các
nớc thành viên có thể đối thoại và tìm ra một phơng thức chung nhằm xử
lý các vấn đề khu vực cũng nh toàn cầu mà hiện nay Đông á còn đang
thiếu; đồng thời. xác lập diễn đàn đa phơng để phối hợp giải quyết những
căng thẳng giữa các quốc gia trong khu vực, khi hai nớc không giải quyết
đợc. Đây chính là những lợi ích chiến lợc mà các nhà lãnh đạo cấp cao
Đông á hớng tới. 2
Các khung khổ hợp tác hiện có ở Đông á gồm: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng
(APEC); Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); Hợp tác giữa ASEAN với một nớc Đông Bắc á (hoặc Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN + 1); Hợp tác ASEAN với cả 3 nớc Đông Bắc á (ASEAN + 3) (với
Trung Quốc + Nhật Bản + Hàn Quốc).
17
Từ cơ chế ASEAN + 3, nay đã trở thành ASEAN + 6, gồm 16 nớc,
thêm ấn Độ, Austraylia và Newzealand, mỗi nớc đến Hội nghị đều tìm kiếm
lợi ích chiến lợc cho riêng mình. Tuy nhiên các lợi ích này không phải lúc
nào cũng giống nhau mà thậm chí có nhiều lợi ích còn xung đột nhau. ấn Độ,
kinh tế của các quốc gia trong khu vực nhiều thập kỷ qua (vì thế không phải ngẫu
nhiên mà ý tởng đầu tiên đợc đề xuất là cộng đồng về kinh tế, trên cơ sở kinh tế),
đồng thời phản ánh xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá
đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
* Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành Cộng đồng Đông á
Quá trình từ ý tởng đến hiện thực của sự hình thành Cộng đồng Đông á
cũng đã cho thấy cơ sở của việc hình thành Cộng đồng này. ở đây, cần phân
tích cụ thể việc thiết lập Cộng đồng Đông á với những cơ sở chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự phát triển và đồng thuận giữa của nớc trong khu vực
Đây là cơ sở đặc biệt quan trọng, vì không có sự phát triển và đồng
thuận giữa của nớc trong khu vực thì không thể có nhu cầu và cơ sở cho việc
hình thành một cộng đồng thống nhất toàn khu vực. Trong những thập kỷ
cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, các nớc Đông á có sự phát triển
mạnh mẽ và toàn diện, nhất là về kinh tế, với những đầu tầu nh Nhật Bản,
Hàn Quốc, và tiếp sau đó là Trung Quốc, ấn Độ .
Vào những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, sự thần kỳ Đông á xuất hiện.
Những nền kinh tế mới công nghiệp hóa nh Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,
Hồng Kông v.v tăng trởng trung bình 7% một năm trong giai đoạn từ năm
1986 đến 1997. Trong giai đoạn này, những nớc nh Thái Lan, Indonesia,
Malaysia v.v., cũng có tốc độ tăng trởng rất cao, khoảng 10%. Mức sống ở
những nớc này đợc cải thiện rõ rệt, tình trạng đói nghèo giảm mạnh v.v
Chính sự thần kỳ này lại một lần nữa làm thức dậy giấc mơ Đông á. Nhiều
nhà nghiên cứu cũng nh nhiều nhà hoạch định chính sách đã tìm cách lý giải
hiện t
ợng thần kỳ Đông á bằng cách tìm những điểm chung đợc coi là nền
tảng vững chắc cho sự hình thành và phát triển khu vực Đông á.
19
Sự phát triển thần kỳ đó đã tạo cơ sở và thôi thúc các nớc cần gia tăng
hợp tác trong một khuôn khổ rộng lớn, phù hợp để phát triển và có tiếng nói
20
trớc đây trong lịch sử về xây dựng Cộng đồng Đông á , mà về thực chất là
sự phản ánh những nhu cầu tất yếu khách quan của các quốc gia trong khu
vực này mong muốn có một sự hợp tác, trợ giúp lẫn nhau, nơng tựa vào nhau
cùng đi lên trong khung cảnh toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh
mẽ. Nếu nh trong tình trạng chiến tranh, xung đội, đối đầu thì Đông á khó
có thể có sự liên kết kinh tế khu vực và sự thống nhất cộng đồng.
Thứ ba, những cơ sở t tởng và thực tiễn cho việc hình thành Cộng
đồng Đông á ngày càng rõ nét.
ý tởng xây dựng Cộng đồng Đông á đã nảy sinh từ lâu, vì nhiều lý do
khách quan cũng nh chủ quan (cơ sở t tởng, lý luận cũng nh cơ sở kinh tế
cho việc xây dựng Cộng đồng cha vững chắc và cha xác đáng, trong khi đó
những mâu thuẫn dân tộc, nghi kỵ, thù hằn lẫn nhau do lịch sử để lại giữa các
quốc gia khu vực Đông á còn quá nặng nề), nên ý tởng đó không thể biến
thành hiện thực.
Khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 1997 ở khu vực Đông
á, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, là do việc hội nhập mạnh mẽ vào khu vực
cũng nh vào nền kinh tế thế giới mà các nhà đầu t nớc ngoài đã coi khu
vực Đông á nh một thực thể thống nhất có chung những thuộc tính nhất
định. Bản thân các quốc gia Đông á cũng đã nhận thức đợc rằng, vào
những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia Đông á còn có thể theo đuổi
các chính sách thơng mại và chính sách kinh tế vĩ mô tơng đối độc lập
với các quốc gia trong khu vực; nhng cùng với quá trình hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới, sự phụ thuộc lẫn nhau, và sự phối hợp trong
hành động chung của các quốc gia Đông á đã trở thành một tất yếu không
thể cỡng lại. ý tởng thành lập một Cộng đồng Đông á lại đợc hồi sinh
và ngày càng trở nên mãnh liệt hơn.
Thực tiễn cho thấy, ban đầu chỉ là ý tởng của một số ngời, về việc
thành lập cộng đồng kinh tế Đông á, dần dần phát triển trở thành ý tởng và
nhu cầu, mong muốn của các quốc gia trong khu vực, ngày càng thể hiện ró
Bắc á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc gây nên sự hoài nghi về tính
22
hiện thực của những cam kết trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao Đông á, là
một khó khăn cho sự thống nhất Cộng đồng. Bởi vì, quan hệ giữa Trung
Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là những mối quan hệ song phơng quan trọng
nhất trong Cộng đồng Đông á, chi phối ảnh hởng lớn đến sự thống nhất
cộng đồng khu vực. Nếu không có sự hoà hợp sâu sắc giữa tam giác kinh tế -
chính trị lớn này, thì khó có thể nói đến sự liên kết và hợp nhất sức mạnh của
cả Cộng đồng Đông á.
Khoảng cách phát triển và sự khác biệt về lịch sử văn hoá giữa các nớc
trong khu vực cũng là một thách thức rất lớn trong sự phát triển của Cộng
đồng Đông á. Đặc biệt sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế và GDP
giữa những nớc giàu nhất và những nớc nghèo nhất là rất lớn, nh thu nhập
của Nhật Bản, Singapo gấp cả trăm lần so với Campuchia hay Lào, thực sự là
một thách thức lớn không chỉ đối với việc hội nhập, thống nhất khu vực, mà
còn khó khăn trong việc tìm tiếng nói chung trong quá trình đa ý tởng trở
thành hiện thực. Tuy nhiên, hiện nay Đông á đã thực sự trở thành khu vực có
sự hội nhập thơng mại quốc tế nhanh và mạnh mẽ. Điều đáng lo ngại lớn
nhất không phải là sự chênh lệch về trình độ phát triển, vì có chênh lệch mới
tạo ra sự phát triển, mà cái lo ngại chính là ở thể chế và sự khác biệt về giá trị,
văn hoá và hệ thống chính trị, làm sao có thể dung hoà và có thể hỗ trợ cho sự
phát triển kinh tế; có thể đa ra những quan điểm, tiếng nói chung về các vấn
đề khu vực và toàn cầu.
Cộng đồng Đông á hiện nay cha thể nói trớc đợc bao giờ nó có thể
gạt qua tất cả các rào cản về khác biệt, xung đột lợi ích và cả những vấn đề về
lịch sử để lại, để có thể cùng nhau sống trong một cộng đồng chung thống
nhất. Câu trả lời nằm ở 16 quốc gia, mà các nhà lãnh đạo của họ gặp nhau
hàng năm ở các Hội nghị cấp cao tổ chức ở một quốc gia thành viên ASEAN.
Nếu nh các quốc gia có thể gác lại những bất đồng để gặp nhau trong một
nớc, thậm chí sẽ rơi vào nguy cơ tụt hậu về nhiều phơng diện với những
hậu quả khó lờng.
Toàn cầu hoá, khu vực hoá, hoà bình, hợp tác cùng phát triển là cơ hội
cho sự phát triển của các quốc gia trong khu vực và cho sự liên kết cồng đồng
chung. Tuy nhiên, toàn cầu hoá, khu vực hoá cũng đặt ra những thách thức
24
không nhỏ đối với sự hình thành và phát triển một cộng đồng thống nhất của
khu vực.
Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá, các nớc buộc phải tập trung
vào hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế, điều đó dẫn đến sự điều chỉnh
chính sách đối ngoại của các nớc sau Chiến tranh lạnh cho phù hợp với tình
hình. Sự điều chỉnh này của các nớc có nội dung chủ yếu là u tiên hàng đầu
việc phát triển kinh tế đất nớc. Đồng thời, các quốc gia cũng thực hiện chiến
lợc gắn an ninh với phát triển kinh tế, từng bớc xây dựng một quan điểm
toàn diện về an ninh quốc gia; gắn an ninh với phát triển bền vững trong bối
cảnh toàn cầu hoá; hớng tới phát triển xã hội thông tin và nền kinh tế tri
thức. Mọi sự khác biệt về hệ t tởng, về tôn giáo v.v. đều đợc khắc phục,
gạt sang một bên, phục vụ cho mục tiêu quan trọng nhất là phát triển kinh tế.
Có cùng chung mục tiêu nh vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng
một khối cộng đồng về kinh tế của các quốc gia trong từng khu vực, trong dó
có khu vực Đông á.
Trong xu thế toàn cầu hoá, sự điều chỉnh mối quan hệ giữa các nớc lớn
trong khuôn khổ vừa hợp tác, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau nhng tinh
thần chủ đạo là cố gắng tránh đối đầu, tránh xung đột quân sự trực tiếp là một
nhân tố khách quan quan trọng cho sự hình thành cộng đồng khu vực. Trong
thời gian qua, mặc dù còn tồn tại những bất đồng không thể giải quyết một
cách nhanh chóng, nhng quan hệ giữa các nớc lớn: Mỹ - Trung, Trung -
Nga, Trung - Nhật, Nhật - Nga, Mỹ - Nga đều giữ đợc tính ổn định tơng
đối, không một nớc lớn nào lại có động thái đơn phơng gây căng thẳng
những đe dọa cho nền hòa bình trong toàn vùng, nới rộng sự cộng tác chính trị để
quản lý toàn vùng, nói lên đợc tiếng nói hùng mạnh phải đợc kính nể của Đông
á trong cộng đồng quốc tế, thiết lập những chơng trình y tế và giáo dục rộng rãi
để tất cả mọi ngời dân trong toàn vùng có cơ hội thừa h
ởng; khơi dậy ý thức
vùng, để cho ngời dân trong vùng thấy mình không phải chỉ là một công dân của
quốc gia mình, mà cũng là một công dân của toàn vùng Đông á và cộng tác trong
những dự án bảo vệ và phát triển các truyền thống văn hóa và nghệ thuật đa dạng
của toàn vùng.
Bản phúc trình khẳng định: Trong quá khứ, những cạnh tranh chính trị,
những tỵ hiềm lịch sử, những dị biệt văn hóa và những bất đồng ý thức hệ đã