Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của độ cao tới hàm lượng tanin trong chè........Error: Reference
source not found
Bảng 1.2: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chèError: Reference
source not found
Bảng 1.3 : Ảnh hưởng của độ nhiệt đến thời gian thu hoạch búp........Error: Reference
source not found
Bảng 2.1: Diện tích trồng chè phân theo huyện / thành phố / thị xã....Error: Reference
source not found
Bảng 2.2: Sản lượng chè búp tươi phân theo huyện/thành phố/ thị xã:Error: Reference
source not found
Bảng 2.3 : Tổng hợp diện tích chè nhập nội đến năm 2009Error: Reference source not
found
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu kết quả và hiệu quả đạt được do phát triển sản xuất chè ở
Thái Nguyên giai đoạn 2007 – 2009........Error: Reference source not found
Bảng 3.1: Dự kiến diện tích, sản lượng chè toàn tỉnh đến năm 2020...Error: Reference
source not found
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Chè là một loại đồ uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao, nó được nhân
dân ta và nhân dân nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Sản phẩm chè rất đa dạng
như chè xanh, chè vàng, chè đỏ, chè đen, và nhiều loại chè hòa tan, chè thảo dược
khác.
Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả
năng phát triển nông lâm nghiệp. Chè Thái Nguyên, đặc biệt là chè Tân Cương là sản
phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu. Toàn tỉnh hiện có trên 16.000 ha chè, đứng thứ 2
mạng Internet, sách báo, tạp chí, các báo cáo tổng kết sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên,
thông qua phỏng vấn những người làm chè có kinh nghiệm, sử dụng phần mềm xử lý số
liệu… làm cơ sở rút ra những nhận xét xác đáng, tìm ra giải pháp khắc phục khó khăn.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ hiểu biết của em còn có hạn nên không
thể tránh khỏi những thiếu sót trong đề tài. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô để em có thể hoàn thiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy giáo GVC. Hoàng Văn Định là
giáo viên trực tiếp tận tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề thực tập này. Em xin cảm
ơn tập thể các thầy cô giáo trong khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên cùng các anh
chị và các cô chú ở Phòng trồng trọt - Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái
Nguyên đã cho em những lời khuyên, cung cấp các tài liệu cần thiết để em hoàn thành đề
tài.
Hà Nội, ngày 09 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Mai Linh
CHƯƠNG I
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CHÈ
I . Tổng quan về cây chè
1. Vị trí cây chè trong nền kinh tế quốc dân
1.1 Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu, phòng và
chữa được nhiều loại bệnh:
Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những đặc tính
tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới. Ngày nay chè được phổ
biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao. Tác dụng chữa bệnh và các chất
dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau:
Cafein và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả
kiện thuận lợi của ta cây sinh trưởng tốt thì cuối năm thứ nhất đã thu bói trên dưới
một tấn búp/ha. Các năm thứ hai thứ ba (trong thời kỳ kiến thiết cơ bản) cũng cho
một sản lượng đáng kể khoảng 2-3 tấn búp/ha. Từ năm thứ tư chè đã đưa vào kinh
doanh sản xuất.
Nếu như ở miền xuôi, cây lúa là cây chủ đạo thì ở miền núi cây chè là cây chủ
lực mang tính chất quyết định để phát triển kinh tế - xã hội, là cây xoá đói giảm
nghèo cho đồng bào ta ở miền ngược. Sống trong điều kiện khắc nghiệt của thiên
nhiên nhưng cây chè Việt lại có một sức sống mãnh liệt, thích nghi với môi trường,
địa hình miền núi. Ở nước ta, nhiều địa phương thuộc khu vực miền núi và trung du
Bắc bộ, cao nguyên được đánh giá là rất có thế mạnh cho phát triển cây chè. Đây
cũng là cây trồng đã được phát triển ở 34 tỉnh, với khoảng 6 triệu lao động tham gia.
Năm 2008, số liệu thống kê diện tích trồng chè của cả nước là 131 nghìn ha. Theo kế
hoạch đến năm 2015 sẽ nâng diện tích này lên 150.000 ha. Nếu phát triển được
những giống chè mới đạt năng suất khoảng 12 tấn búp tươi/ha tương đương với 2,5
tấn khô/ha và giá xuất khẩu đạt mức 3.000 USD/tấn thì cây chè hoàn toàn có thể trở
thành cây xoá đói giảm nghèo.
1.3 Ở nước ta, chè là một trong những cây có giá trị xuất khẩu cao.
Căn cứ vào năng suất bình quân đã đạt được năm 1969 của khu vực nông
trường quốc doanh (42,39 tạ búp/ha), nếu chỉ đứng về mặt xuất khẩu mà xét thì một
ha chè của khu vực nông trường quốc doanh so với một số cây công nghiệp dài ngày
của cùng khu vực này bằng hơn 5 lần một ha cà phê, gần 10 lần một ha sả. Nếu năng
suất chè đạt 100 tạ búp/ha thì xuất khẩu có thể thu được đủ để nhập 46 tạ phân hóa
học, hoặc 3,1 tạ bông, hoặc 25 - 30 tạ bột mì. Như vậy một ha chè có năng suất 100
tạ búp có giá trị xuất khẩu ngang với 200 tấn than. Chè là sản phẩm có thị trường
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày càng được mở rộng. Năm 2009, sản lượng chè xuất
khẩu của nước ta là 134.000 tấn, với mức giá bình quân 1336 USD/tấn.
1.4 Phát triển sản xuất chè giúp sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên và tạo
như khả năng thích ứng của cây chè với điều kiện tự nhiên, là một trong những cơ sở
khoa học để xác định những biện pháp kỹ thuật trồng trọt thích hợp.
Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt,
chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm. Dưới đây, ta xét một số điều kiện sinh thái chủ
yếu:
2.1 Điều kiện đất đai và địa hình
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm.
Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt
những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước. Độ pH thích hợp cho chè
phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải
dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được
phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica. ở vùng núi phần lớn là đất
feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét. Về cơ bản những loại đất
này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu
hơn 1 mét và thoát nước. Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các
vùng trồng chè cũ.. Vì thế vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và
cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết. Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ
và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè. Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho
biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây
chè bị hại. Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ
trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4.
Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp. Phẩm chất do nhiều yếu tố
quyết định và tác dụng một cách tổng hợp. Song trong những điều kiện nhất định thì
điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất. Kinh nghiệm của
Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho
việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng trên đất
nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu hương
không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít.
Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè.
khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng. Bình quân lượng mưa của
các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm, nếu nhỏ
hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt. Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt
thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85%.
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời
gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến
sản lượng cao hay thấp. Vùng chè Doomđome ở Bắc Ấn Độ lượng mưa phân bố
nhiều vào tháng 5 tới tháng 8 cho nên sản lượng chè thu hoạch được trong năm cũng
tập trung vào thời kỳ đó. Ở ta phân bố sản lượng chè trong năm cũng có quan hệ rõ
rệt với tình hình phân bố lượng mưa trong các tháng.
Bảng 1.2: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè
Tháng 1-2 3-4 5 6 7 8 9 10 11-12
Sản lượng chè
trong năm (%)
0,39 7,2 - 5,34 10,35 14,74 16,66 13,22 16,50 10,60 4,06
Lượng mưa
tháng (mm)
50 50 - 100
> 100
vụ thu hoạch chè chủ yếu
50
(Nguồn: Tài liệu của trại Thí nghiệm chè Phú Hộ)
Tổng lượng mưa bình quân hàng năm ở các vùng trồng chè của nước ta tương
đối thỏa mãn cho nhu cầu về nước của cây chè. (Phú Thọ: 1.747 mm, Hà Giang:
2.156 mm, Plâyku: 2.072 mm, Buôn Mê Thuột: 1.954 mm, Bảo Lộc: 2.084 mm).
Nhưng ở các vùng chè lượng mưa trong năm lại thường tập trung từ tháng 5
đến tháng 10, cây chè gặp hạn từ tháng 11 đến tháng 3. Thời gian này hạn kết hợp với
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhất định.
Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương (1956) thì cây chè
bắt đầu sinh trưởng khi độ nhiệt trên 10oC. Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè
sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 -
23oC. Giới hạn độ nhiệt thấp đối với sinh trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ
ngừng sinh trưởng trong mùa đông và sinh trưởng trở lại khi có độ nhiệt ấm áp của
mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới. Đối với sinh trưởng của cây trong
thời kỳ này thì độ nhiệt không khí trở thành nhân tố sinh thái chủ yếu. Cây chè yêu
cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000oC. Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có
thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5oC đến -25oC hoặc thấp hơn.
Nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp Chiết Giang cho thấy độ nhiệt
thích hợp đối với cây chè là 20 - 30oC, nếu độ nhiệt tăng dần, thì tác dụng xúc tiến
việc hình thành và tích lũy tanin trong lá chè biểu hiện rất rõ rệt. Độ nhiệt quá thấp
hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin. Độ nhiệt cao quá 35oC thì quá trình
tích lũy tanin bị ức chế và nếu độ nhiệt trên 35oC kéo dài liên tục, chè sẽ bị cháy lá.
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngược lại khi độ nhiệt giảm thấp sẽ dẫn đến một loạt biến đổi về cơ năng sinh lý
thành phần hóa học của búp chè, ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của cây và
phẩm chất búp. Độ nhiệt thấp và khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù.
Độ nhiệt là một trong những nhân tố chủ yếu chi phối sự sinh trưởng của búp
và quyết định thời gian thu hoạch búp trong chu kỳ một năm. Từ 16 độ vĩ nam đến 19
độ vĩ bắc, không có hai mùa nóng lạnh rõ rệt, cây chè sinh trưởng quanh năm do đó
búp cũng được thu hoạch quanh năm. Từ 20 độ vĩ bắc đến 45 độ vĩ bắc, độ nhiệt mùa
đông xuống thấp, sinh trưởng và thu hoạch chè đã có mùa rõ rệt. Trong những vùng
này nơi nào độ nhiệt bình quân mùa đông càng thấp càng kéo dài thì thời gian sinh
trưởng và thu hoạch búp chè ở đó càng ngắn.
Bảng 1.3 : Ảnh hưởng của độ nhiệt đến thời gian thu hoạch búp
Vùng
8 - 9
10
12
2.4 Điều kiện ánh sáng
Cây chè ở vùng nguyên sản sinh sống dưới tán rừng rậm, do vậy có tính chịu
bóng rất lớn, nó tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ. ánh
sáng trực xạ trong điều kiện độ nhiệt không khí cao, không có lợi cho quang hợp và
sinh trưởng của chè. Trong thực tế sản xuất, ở một số nước như Ấn Độ, Xrilanca
thường áp dụng biện pháp trồng cây bóng mát cho chè để hạn chế độ nhiệt cao và ánh
sáng quá mạnh.
Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây và
giống. Chè ở thời kỳ cây con yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn ươm, người ta
thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh. Giống chè lá to yêu
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cầu ánh sáng ít hơn giống chè nhỏ. Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng
đến cấu tạo của lá và thành phần hóa học của chúng.
Bảng 1.4: Sự biến đổi thành phần hóa học của búp chè trong điều kiện có che râm
Đơn vị (% chất khô)
Thời gian
Ngày 30 - 4 Ngày 26 - 5
Công thức thí nghiệm Công thức thí nghiệm
Thành phần sinh hóa Che râm Không che râm Che râm Không che râm
Tanin
Cafein
N tổng số
10,03
4,62
7,05
lá nhỏ đã thích ứng với điều kiện ngày dài, cho nên trồng ở Gruzia vẫn ra hoa kết
quả.
2.5 Không khí
Không khí rất cần cho sự sống của thực vật. Hàm lượng CO2 trong không khí
khoảng 0,03%, song chỉ cần có một biến động nhỏ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quang
hợp. Chè là một cây ưa bóng râm, cường độ quang hợp cũng thay đổi theo hàn lượng
CO2 có trong không khí. Nói chung hàm lượng CO2 trong không khí tăng lên đến 0,1
- 0,2% thì cường độ quang hợp tăng lên rất rõ rệt.
Không khí lưu thông tạo thành gió. Gió nhẹ và có mưa có lợi cho sự sinh
trưởng của chè vì nó có tác dụng điều hòa cân bằng nước của cây. Những nơi độ ẩm
không khí quá cao, phát tán khó; gió nhẹ sẽ làm cho nước dễ thoát hơi, nước và chất
dinh dưỡng trong đất tiếp tục vận chuyển lên trên. Mặt khác gió nhẹ có tác dụng làm
cho lượng CO2 phân bố đều, có lợi cho quang hợp.
Gió to không những làm cho cây bị tổn thương cơ giới, mà còn phá vỡ cân
bằng nước của cây. Cường độ thoát hơi nước lớn, nước trong đất cung cấp không đủ,
cây bị héo. Mặt khác gió to khí khổng sẽ đóng lại, không thể tiến hành quá trình
quang hợp. Mùa đông độ nhiệt thấp nếu có gió to thì chè bị hại nhiều vì rét. Gió to
khi chè ra hoa còn ảnh hưởng đến hoạt động thụ phấn của côn trùng.
Để giảm tác hại của gió, người ta áp dụng các biện pháp như chọn đất nơi kín
gió, trồng rừng hoặc vành đai phòng hộ. Chọn giống chè thấp cây và trồng dày hợp
lý... Ở Việt Nam tác hại của gió không lớn, song nói chung ở các vùng có gió Lào cần
tùy điều kiện cụ thể mà xét đến việc áp dụng các biện pháp trồng rừng hoặc trồng
vành đai phòng chắn gió.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè
3.1 Nhóm nhân tố tự nhiên
Trong nhóm nhân tố này thì đất đai là nhân tố quan trọng nhất, nó quyết định
chủ yếu tới năng suất cây trồng, các thông số cần quan tâm tới như diện tích đất, chất
lượng đất do độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo quyết định. Khi người sản xuất tiến
hành canh tác như bón phân, phun thuốc trừ sâu bệnh thì các chất này sẽ ngấm vào
đất, tuỳ thuộc đặc tính của mỗi loại mà thời gian lưu đọng lâu hay ngắn, chúng ta
cái gì, sản xuất cho ai với số lượng bao nhiêu là do thị trường quyết định. Thị trường
vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập và mức sống của người dân
ngày càng được nâng cao, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng, phong
phú. Không chỉ dừng lại ở việc ăn no mặc ấm mà mọi người ngày càng hướng tới
việc ăn ngon mặc đẹp và các giá trị tinh thần của sản phẩm. Vì vậy, để phát triển sản
xuất chè, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra những sản phẩm thô mà cần
phải hướng tới việc chế biến thành những sản phẩm đa dạng và có giá trị cao, đạt tính
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thẩm mỹ…nâng cao giá trị cho sản phẩm chè, từ đó góp phần đảm bảo lợi ích cho
người sản xuất.
3.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật bao gồm: hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện,
thông tin liên lạc, phương tiện vận tải, cơ sở chế biến, trung tâm thương mại… tác
động rất lớn đến sản xuất, chế biến, giao lưu hàng hoá nói chung và chè nói riêng. Hệ
thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật có phát triển sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện
thâm canh sản xuất chè, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong bảo quản, chế
biến sản phẩm, tăng cường thông thương buôn bán hàng hoá, khuyến khích đầu tư
nước ngoài. Đồng thời cho phép tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao
giá trị của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế.
3.4 Tiến bộ khoa học công nghệ
Trong thời đại của khoa học công nghệ, việc áp dụng những tiến bộ khoa học
công nghệ vào trong sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm ngày càng trở nên quan
trọng, không những góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng về số lượng
và chất lượng mà còn góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường trong nước và quốc tế.
- Công nghệ nhân giống chè:
Công nghệ nhân giống chè ảnh hưởng rất lớn đến số lượng, chất lượng chè.
xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ cho ngành hàng này.
Các phương pháp chế biến chè phổ biến hiện nay như chế biến sấy khô, chế
biến đóng hộp, chế biến nghiền (trà túi lọc)…
3.5 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân tố có ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế nói chung và sự phát triển của ngành hàng chè nói riêng. Ở nước
ta, các chính sách lớn có tác động trực tiếp và gián tiếp đến quá trình sản xuất, chế
biến, lưu thông, tiêu thụ chè bao gồm:
Chính sách kinh tế nhiều thành phần: thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế tự chủ,
từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối với các HTX, nông lâm trường; đổi
mới doanh nghiệp Nhà nước; khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và kinh tế tư
nhân.
Chính sách đất đai: giao ruộng đất cho các hộ gia đình nông dân sử dụng ổn
định lâu dài với các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế chấp, cho thuê
theo các quy định của pháp luật. Giúp các hộ nông dân yên tâm đầu tư thâm canh trên
ruộng đất của mình.
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chính sách vốn và đầu tư vốn cho nông nghiệp nông thôn: nghiên cứu chọn
tạo giống chè, nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh như bảo quản chế biến chè,
nghiên cứu các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh cho chè.
Chính sách về thị trường nông sản: chính sách giá nông sản, chính sách
marketing hàng nông sản.
Chính sách xã hội nông thôn, chính sách khuyến khích nông, khuyến lâm,
chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách tạo việc làm…
Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh chè. Để phát
triển ngành hàng này cần phải xem xét tất cả các nhân tố đó trong quá trình tổ chức,
quản lý sản xuất kinh doanh chè.
4. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả sản xuất chè
yếu tố ngẫu nhiên.
4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất chè
Hiệu quả sản xuất là phạm trù được dùng để chỉ trình độ sử dụng các nguồn
lực để tạo ra những kết quả sản xuất kinh doanh nhất định. Để đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh người ta sử dụng kết quả và chi phí để phân tích. Cụ thể là những chỉ
tiêu sau:
Giá trị sản xuất tính trên một ha chè, tính trên một đồng chi phí sản xuất bằng
giá trị sản xuất trên một ha chè chia cho tổng chi phí sản xuất. Chỉ tiêu này phản ánh
mức tạo ra giá trị sản lượng của một đồng chi phí bỏ vào sản xuất, kinh doanh.
Thu nhập hỗn hợp tính trên một ha chè, trên một đồng chi phí sản xuất, trên
một ngày công lao động. Thu nhập hỗn hợp bao gồm phần thù lao cho lao động gia
đình để sản xuất (công lao động) và phần lợi nhuận ròng hay lãi của hộ, trang trại.
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập được tạo ra từ một đồng chi phí sản xuất của
một ngày công lao động.
Lợi nhuận tính trên một ha chè và trên một đồng chi phí sản xuất phản ánh
mức sinh lợi của mỗi đồng chi phí bỏ vào sản xuất kinh doanh chè. Được tính bằng
lợi nhuận chia cho tổng chi phí. (Lợi nhuận được xác định bằng cách trừ đi từ thu
nhập hỗn hợp chi phí về lao động, được quy đổi dựa vào số công thực tế đã bỏ ra và
đơn giá thuê lao động thường xuyên ở địa phương
II . Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và ở Việt Nam
1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
1.1 Tình hình sản xuất
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay trên thế giới có 58 nước trồng chè trong đó có 30 nước trồng chè chủ
yếu, 115 nước sử dụng chè làm đố uống do đó đẩy mạnh mậu dịch quốc tế, hợp tác
quốc tế, làm cho khoa học chè phồn vinh. Trong sản xuất các cây công nghiệp trên
thế giới, cây chè trở thành một ngành ngề mà được nhiều người công nhận. Theo
thống kê của Uỷ ban chè thế giới (ITC) thì từ năm 1953 đến năm 1990 cứ sau 20 năm
Tổng sản lượng chè thế giới tiếp tục tăng trong năm 2008, với tốc độ trên
3%/năm, đạt khoảng 3.6 triệu tấn, chủ yếu do sản lượng đạt kỷ lục ở Trung Quốc, Ấn
Độ và Việt Nam. Sản lượng chè đen đạt 2,5 triệu tấn và chè xanh đạt 968.000 tấn.
FAO dự báo đến năm 2017 sản lượng chè xanh sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn chè đen,
đạt 4,5%/năm so với 1,9%/năm của chè đen.
2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam
2.1 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nóng ẩm, đất nước trải dài từ bắc vào
nam với 2/3 là diện tích đất đồi núi, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh
trưởng và phát triển. Trong những năm gần đây Chính phủ, các địa phương, các tổ
chức quốc tế có nhiều cơ chế chính sách đầu tư phát triển chè. Cây chè được gọi là
cây xoá đói giảm nghèo và tiến lên làm giàu của nhiều hộ nông dân. Do đó diện tích,
năng suất sản lượng chè đã không ngừng tăng. Song song với việc tăng trưởng về
diện tích, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt , giống, chế biến… được áp
dụng vào sản xuất đã không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và đa dạng nguồn
nguyên liệu để sản xuất ra nhiều mặt hàng chè khác nhau.
Các vùng trồng chè tập trung là vùng Đông Bắc (11 tỉnh) diện tích 81,3 ngàn
ha chiếm 78,8%; Tây Bắc (4 tỉnh) chiếm 9,9%; Bắc Trung Bộ (4 tỉnh) chiếm 8,2%.
Đến hết năm 2007, diện tích chè ở Việt Nam đã đạt mức trên 120.000 ha, tăng
159% so với 10 năm trước, mức tăng 15,9% /năm, năng suất tăng 176%, mức tăng
17,6% /năm. Tính đến hết năm 2008, tổng diện tích chè đạt 131.500 ha, diện tích chè
kinh doanh 115.600 ha, diện tích kiến thiết cơ bản 15.900 ha, năng suất 6,5 tấn/ ha.
Sản lượng 751.000 tấn búp tươi. Một số vùng trong nước có năng suất cao hơn mức
bình quân của cả nước như Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Sơn La, Tuyên Quang,
Nghệ An, Lâm Đồng…Đặc biệt vùng chè Mộc Châu có mức năng suất cao hơn mức
bình quân cả nước tới 3 lần. Vùng Bắc Trung bộ có gió Tây khô nóng nhưng năng
suất vào loại cao nhất cả nước (năm 2005, năng suất bình quân cả nước đạt 5,65 tấn
búp tươi/ha, riêng năng suất ở Nghệ An đạt 7 tấn/ha và ở Hà Tĩnh đạt 7,3 tấn/ha so
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
19
đạt 31.000 tấn với kim ngạch 46 triệu USD, chiếm 23% về lượng và 25,6% về trị giá
so với tổng lượng và trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam năm 2009. Đứng thứ hai là
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nga đạt 21.850 tấn với kim ngạch 27 triệu USD, tăng 76,5% về lượng và tăng 67,4%
về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 16,3% về lượng và 15,2% về trị giá. Đứng
thứ ba là Đài Loan với lượng xuất khẩu chè năm 2009 đạt 20.000 tấn với kim ngạch
24,4 triệu USD, tăng 14,5% về lượng và tăng 13,7% về trị giá, chiếm 15% về lượng
và 13,6% về trị giá.
Thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam năm 2009 có tốc độ tăng trưởng mạnh
là Ấn Độ đạt 8.371 tấn với kim ngạch 9,6 triệu USD, tăng 142% về lượng và tăng
181,8% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái; Hoa Kỳ đạt 5.353 tấn với kim ngạch 5,7
triệu USD, tăng 42,3% về lượng và tăng 89,5% về trị giá; Indonesia đạt 6.000 tấn với
kim ngạch 5,7 triệu USD, tăng 68,7% về lượng và tăng 72,2% về trị giá so với cùng
kỳ năm ngoái…
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHÈ Ở THÁI NGUYÊN
I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng đến phát
triển sản xuất chè
1.Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng,
của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội
giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh
Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với
các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80
km); có diện tích tự nhiên là 3.562,82 km².
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã
Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ,
cao trung bình từ 100 - 300m, độ dốc thường từ 15 đến 25
0
.
Vùng địa hình nhiều ruộng ít đồi: bao gồm vùng đồi thấp và đông bằng phía
Nam tỉnh. Địa hình tương đối bằng, xen giữa các đồi bát úp dốc thoải là các khu đất
bằng. Vùng này tập trung ở các huyện Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công và thành
phố Thái Nguyên và một phần phía Nam huyện Đồng Hỷ, Phú Lương. Độ cao trung
bình từ 30 - 50m, độ dốc thường dưới 10
0
.
Với đặc điểm địa hình, địa mạo như trên làm cho việc canh tác, giao thông đi
lại có những khó khăn, phức tạp. Song chính sự phức tạp đó lại tạo ra đa dạng, phong
SV: Nguyễn Thị Mai Linh Lớp: KTNN&PTNT 48
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phú về chủng loại đất và điều kiện khí hậu khác nhau, cho phép phát triển một tập
đoàn cây trồng - vật nuôi đa dạng và phong phú.
1.3 Đất đai
Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả
năng để phát triển nông, lâm, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác.
Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44.450
ha. Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ
nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy. Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm
23% diện tích tự nhiên, cây hàng năm chủ yếu là cây chè. Ngoài sản xuất lương thực,
tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn
nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa.
Thái Nguyên là vùng đất thích hợp để phát triển cây chè. Chè Thái Nguyên,
đặc biệt là chè Tân Cương là đặc sản từ lâu nổi tiếng trong và ngoài nước. Toàn tỉnh
hiện có hơn 16.000 ha chè (đứng thứ 2 cả nước sau Lâm Đồng), trong đó có trên
12.000 ha chè kinh doanh, hàng năm cho sản lượng khoảng trên 70.000 tấn chè búp