Luận án tiến sĩ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG mại và TRUYỀN GIÁO của bồ đào NHA tại ấn độ, TRUNG QUỐC (THẾ kỷ XVI – THẾ kỷ XIX) (full) - Pdf 30



ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ VĨNH LINH
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ TRUYỀN GIÁO
CỦA BỒ ĐÀO NHA TẠI ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC
(THẾ KỶ XVI – THẾ KỶ XIX)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Mã số: 62.22.50.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. LÊ VĂN ANH
2. PGS.TS. ĐẶNG VĂN CHƯƠNG

HUẾ - NĂM 2015


6. Đóng góp của đề tài 12
7. Bố cục đề tài 13
B. NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1. HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA BỒ ĐÀO NHA TẠI ẤN ĐỘ
VÀ TRUNG QUỐC (THẾ KỶ XVI - ĐẦU THẾ KỶ XIX) 14
1.1. Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX) 14
1.1.1. Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (thế kỷ XVI - giữa thế kỷ XVII) 14
1.1.2. Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (giữa thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX) 33
1.2. Thương mại Bồ Đào Nha tại Trung Quốc (nửa sau thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XIX) . 44
1.2.1. Hoạt động bước đầu của thương nhân Bồ Đào Nha tại Trung Quốc (đầu thế kỷ
XVI - nửa đầu thế kỷ XVII) 44
1.2.2. Hoạt động thương mại của thương nhân Bồ Đào Nha Macao với Trung Quốc
lục địa 50
1.2.3. Quá trình mở rộng thương mại của Bồ Đào Nha ở Macao với các khu vực khác
(thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX) 57
1.2.4. Sự suy tàn của thương mại Bồ Đào Nha tại Macao (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế
kỷ XIX) 63
CHƯƠNG 2. HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA CÁC GIÁO ĐOÀN BỒ
ĐÀO NHA Ở ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC (THẾ KỶ XVI - THẾ KỶ XIX) 67
2.1. Hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ 67
2.1.1. Bước đầu xác lập ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo tại Ấn Độ (thế kỷ XVI) 67
2.1.2. Hoạt động của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ vào thế kỷ XVII. 81
2.1.3. Sự suy yếu của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ vào thế kỷ XVIII 87 2.2. Hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc 90
2.2.1. Quá trình truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Macao 90
2.2.2. Hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc lục địa 94
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ
TRUYỀN GIÁO CỦA BỒ ĐÀO NHA TẠI ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC (THẾ KỶ
Rs
Rupee
Tiền Ấn Độ
EIC
East India Company
Công ty Đông Ấn Anh
£
Pound
Đồng bảng Anh
VOC
Vereenigde Oost-Indische
Compagnie
Công ty Đông Ấn Hà Lan.

Sự phát triển dân số của Lisbon từ 1147 đến 1500
117
Bảng 3.2
Ví dụ về ảnh hưởng của ngôn ngữ Bồ Đào Nha đến tiếng
Quảng Châu
153

hàng hóa bằng đường biển. Những kho hàng chứa
hàng của nó luôn có đại bác và số lượng lính canh gác
thường xuyên, hàng hóa hải quân, gỗ, cung ứng cho
các chuyến hải hành đến Ấn Độ. Tại Ribeira Armazem
sản xuất rất nhiều thuyền carrack lớn và các thuyền
nhỏ phục vụ cho thương mại hàng hải đến châu Á.
Văn phòng Armazem còn thiết lập quan hệ với những
thương nhân, những người cung ứng vũ khí, đồ sứ,
rượu và những hàng hóa khác cho các chuyến hải hành
của carrack đến Ấn Độ và đồng bạc để thu mua hạt
tiêu và gia vị đến châu Á. Trụ sở của Armazem tại Ấn
Độ là Goa.
5
Arroba
14.4 kg
6
Bengalis
Là nhóm dân tộc thiểu số bản địa sinh sống tại Bengal
(hiện nay về phương diện chính trị, khu vực này được
phân chia nằm ở hai quốc gia Bangladesh và Ấn Độ).
Về chủng tộc, họ là sự hỗn huyết giữa người Aryan và
người Mongoloid.
7
Cafila
Các đoàn thương nhân lữ hành vận chuyển hàng hóa
bằng đường bộ thông qua Con đường tơ lụa.
8
Capitao- genal
Chức vụ nắm quyền quản lý tối cao tại Macao với tư
cách là Tổng trấn hoàng gia và chỉ huy quân sự của

Lisbon đến Goa.
15
Cartaz
Đây là hình thức cấp phép trong thương mại đường
biển được thực hiện bởi người Bồ Đào Nha từ đầu thế
kỷ XVI đến nửa cuối thế kỷ XVIII. Theo đó, các tàu
muốn đến buôn bán với các vùng đất dưới sự kiểm
soát của người Bồ Đào Nha phải được sự cho phép
của Estado và phải đóng thuế theo quy định nếu không
sẽ bị tấn công, đánh đắm bởi lực lượng hải quân Bồ
Đào Nha tại Ấn Độ dương.
16
Cristãos novos
Là những người gốc Do Thái sinh sống trên lãnh thổ
Bồ Đào Nha từ rất sớm. Năm 1496, để ngăn chặn khả
năng liên minh giữa người Do Thái, vua Dom Manel
đã ra sắc lệnh cải đạo cưỡng bức đối với tất cả người
Do Thái giáo sống trên lãnh thổ Bồ Đào Nha. Và từ
đây, nhánh Thiên Chúa giáo mới của người Bồ Đào
Nha ra đời.
17
Chattin
Những tư thương buôn bán tại Ấn Độ dương không
được sự cho phép của Hoàng gia Bồ Đào Nha.
18
Chalupa
Thuyền buồm
19
Chetty
Đẳng cấp thương nhân khác nhau ở Nam Ấn Độ, đặc
giữa Hoàng gia Bồ Đào Nha với các thuộc địa (đặc
biệt là Ấn Độ)
25
Council of Trent
Hội đồng thế giới lần thứ 19 của Giáo hội Rome (1545
– 1563), đề ra nội dung của việc tự cải cách và làm
sáng tỏ những học thuyết gây tranh cãi với Tin Lành
(Protestism). Hội đồng đóng vai trò quan trọng đem
đến sự hồi sinh cho Nhà thờ Công giáo Rome ở nhiều
khu vực khác nhau tại châu Âu.
26
Cruzado
Là một loại tiền xu bằng vàng của người Bồ Đào Nha
có khắc hình chữ thập chính giữa. Đồng xu vàng này
được sử dụng bởi Afonso V (1438-1481) khi tổ chức
một cuộc viễn chinh chữ thập chống lại việc xâm chiếm
Constantinople của người Thổ vào năm 1453. Nó có giá
trị khoảng 400 reis. Ý nghĩa của chữ cruzado trong tiếng
Bồ Đào Nha có nghĩa là chữ thập - thập tự giá của vị
thánh bảo trợ cho Bồ Đào Nha, St George.
27
Ducat
Là một loại tiền đồng được đúc bằng vàng hoặc bạc
được sử dụng trong thương mại của châu Âu từ hậu kỳ
trung đại đến thế kỷ XX. Trong đó, ducat vàng của
Venice được xem như tiền tệ trong giao thương quốc
tế, tương tự như dollar Mỹ hiện nay.
28

trả cho chính quyền Trung Quốc
34
Gaunkar
Thuật ngữ này có ý nghĩa lịch sử hết sức sâu sắc. Đây
là tên gọi dành cho hậu duệ trực tiếp của những người
chủ sở hữu đất đai trong làng. Thuật ngữ này bắt
nguồn từ một tổ chức được gọi là công xã có nghĩa là
Tổ chức kinh tế xã hội nông thôn Ấn Độ cổ đại được thành lập bởi các cư dân bản địa người Ấn Độ hàng
ngàn năm trước khi Bồ Đào Nha xâm nhập. Một công
xã được xác định rõ ràng thông qua ranh giới đất đai
giữa các làng, sự tương tác trong tôn giáo, xã hội và
cách thức quản lý. Trong mỗi công xã có nhiều
Gaunkar. Như vậy, ý nghĩa chính xác nhất của thuật
ngữ này đó là những người đồng sở hữu đất đai và tài
sản của công xã. Đất đai của công xã không được phép
thế chấp, trả nợ trong bất kỳ một tình huống nào, bởi
bất kỳ một cơ quan hay cá nhân nào.
35
Galleon
Loại thuyền buồm lớn có tải trọng trên 1.000 tấn được
trang bị đại bác, thường được các nước châu Âu sử
dụng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.
36
Galiota
Loại thuyền có tải trọng từ 300 đến 400 tấn
37
Go-shuin-sen

Inter Caetera
Ngày 03 và 04 tháng 5 năm 1493 Giáo hoàng
Alexandre VI đã ký sắc lệnh Inter Caetera phân chia thế
giới truyền giáo cho hai nước mà đường ranh là kinh
tuyến 30
0
từ Bắc xuống Nam cực - đi ngang qua quần
đảo Azores thuộc Bồ Đào Nha - Tây kinh tuyến từ nay
thuộc Tây Ban Nha bảo trợ truyền giáo, phần này gồm
cả tân thế giới (châu Mỹ). Đông kinh tuyến còn lại
thuộc Bồ Đào Nha gồm châu Phi và châu Á. Riêng ở
vùng Viễn Đông thì Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản
đều thuộc lĩnh vực truyền đạo của Bồ Đào Nha.
45
Jansenism
Là phong trào Thần học Ky tô giáo được tiến hành
đầu tiên tại Pháp. Phong trào bắt nguồn từ tác phẩm
của nhà Thần học người Hà Lan Cornelius Jansen.
Trung tâm của phong trào là nhà nguyện Port-Royal
thuộc Paris.
46
Khandi
Còn có tên gọi là Candil - một đơn vị dùng để tính khối lượng thường được sử dụng tại phần Ấn Độ
thuộc Anh, Afghanistan, Ba Tư và Arab cũng như đế
quốc Mogul. 1 candil = 20 maon (1 maon dao động từ
11 kg đến 72
1/2

thuộc vào nhóm này.
52
Metizo
Những người con lai mang trong mình hai dòng máu:
Á - Âu. Họ phần lớn là con cháu mà bố là người Bồ
Đào Nha và mẹ là phụ nữ bản địa.
53
Moor
Là một thuật ngữ trong tiếng Anh để gọi những người
Hồi Giáo hiện nay đang sinh sống tại Bồ Đào Nha và
Tây Ban Nha. Nguồn gốc của cộng đồng này là sự hỗn
huyết giữa Arab, Tây Ban Nha và Amazigh (Berber).
Người Moor đã tạo nên nền văn minh Arab Andalusian
và định cư thường xuyên như là người tị nạn ở Bắc Phi
giữa thế kỷ XI và XVII. Đôi khi thuật ngữ này còn
được mở rộng để chỉ người Hồi giáo nói chung.
54
Nayak
Có nghĩa là người cai trị. Đây là thuật ngữ được sử
dụng khi vương triều Keladi Nayaka lên cầm quyền
trong giai đoạn 1499 - 1763. Vào 1565, các Nayak đã
xác lập quyền lực trên phạm vi lãnh thổ của đế quốc
Vijayanagar trước đây.
55
Nayar
Cộng đồng Hindu giáo sinh sống ở phía Nam Ấn Độ
thuộc bang Kerala.
56
Nau
Thuật ngữ dùng để chỉ các tàu có kích thước lớn được

62
Pagoda
Một loại tiền tệ bằng vàng hoặc một nửa vàng được sử
dụng bởi các vương triều người Ấn (như
Kadambas của Hangal,the Kadambas của Goa, và đế
quốc Vijaynagar), cũng như Anh, Pháp và Hà Lan
63
Palaiyakkarar
Là tước hiệu phong kiến của những người đứng đầu
một phần lãnh thổ hoặc lãnh đạo chiến dịch quân sự
được bổ nhiệm bởi người cai trị Nayaka ở Nam Ấn
(thuộc vương quốc Vijayanagar, Madurai Nayakas và
vương triều Kakatiya) trong suốt thế kỷ XVI - XVIII.
64
Pancada
Là những quy định về giá cả được sử dụng bởi các
daimyo tại Nagasaki (Nhật Bản) nhằm thu mua tơ lụa
Trung Quốc theo tỷ lệ được điều chỉnh mở mức thấp
nhất. Hệ thống này còn được sử dụng tại Manila
65
Pardesi
Nhóm thương nhân người nước ngoài tham gia buôn
bán tại duyên hải Ấn Độ gồm: người Arap, Ba Tư, Thổ
Nhĩ Kỳ, Somali, Maghreb…
66
Pataxo
Loại tàu có tải trọng 300 đến 400 tấn
67
Peso
1 peso = 0.8 tael

1589 với ý nghĩa “Người quản lý những tài sản của
người chết và những người vắng mặt”. Theo đó, khi
một thương nhân Bồ Đào Nha tại Macao qua đời thì
capitao-mor có trách nhiệm thực hiện các thủ tục pháp
lý và chuyển đến Estado da India ở Goa - nơi chúng
được dàn xếp để phân chia cho những người thừa kế ở
Bồ Đào Nha hoặc các vùng đất khác theo di chúc
72
Quintal
100 kg
73
Raja
Một thuật ngữ lịch sử xuất hiện trong kinh Vệ Đà
(Rigveda) của Ấn Độ dùng để gọi người đứng đầu
một gia tộc. Trước kia, các học giả thường gọi là
“vua” nhưng hiện nay được dịch là “trưởng tộc”.
74
Real
Một loại tiền đồng được đúc bằng bạc của người Tây
Ban Nha.
75
Relação
Tòa án tối cao thuộc Estado da India.
76
Renda
Renda là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc bán
nguồn lợi của Estado da India cho người trả giá cao
nhất. Thời hạn của một renda là khoảng 3 năm.
Người có được renda phải có người bảo lãnh và nộp
một số tiền đặt cọc trước khi ký hợp đồng.

83
Syriac Orthodox
Church
Còn được gọi là Syriac Orthodox Patriarchate of
Antioch and All the East quản lý 6 nhà thờ:
Coptic, Ethiopia, Eritrea, Syriac, Malankara Syrian
(Nhà thờ Chính thống giáo Ấn Độ) và Nhà thờ Tông
đồ Armenia. 84
Tael
Đơn vị thuộc hệ thống đo lường được áp dụng chủ yếu
ở vùng Viễn Đông thường được dịch là “lạng” hay
“lượng” trong tiếng Việt. 1 tael ở Quảng Châu = 37.5
grams, 1 tael Thượng Hải = 33.9 g…
1 tael = 1 cruzado
= 1.33 xerafines
85
Taluka
Là thuật ngữ Bồ Đào Nha sử dụng để chỉ 12 đơn vị
hành chính dưới Goa. Trong thời kỳ cai trị của Bồ Đào
Nha, Goa được chia làm 2 khu vực: Bắc Goa và Nam
Goa với 12 taluka: Bardez, Bicholim, Pernem, Ponda,
Sattari, Tiswadi, Dharbandora, Canacona, Mormugao,
Salcette, Sanguem, Quepem.
86
Tangas
= 60 reis
87


90
Zamorin
Là tước hiệu hoàng gia của những tiểu vương Hindu
giáo trong thời trung đại ở Calicut trên duyên hải
Malabar Coast (hiện nay là Kerala). Zamorin cai trị
trong 6 thế kỷ (XII -s XVIII) với kinh đô tại
Calicut, một trung tâm thương mại quan trọng phía
Nam Ấn Độ. 91
Wako
Cướp biển người Nhật Bản, hoạt động tại bờ biển Trung
Quốc và Nhật Bản từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII. Tuy
nhiên, thành phần tham gia mạng lưới này còn có cả
người Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Nam Á
92
Vedoria da fazenda
Ủy ban quản lý ngân khố thuộc Estado da India
93
Vedor da fazenda
Nhân viên quản lý ngân khố thuộc Estado da India 1

A. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

có ý nghĩa khoa học đầy lý thú mà còn để lại nhiều bài học quý giá cho lịch sử.
Sự song hành giữa thương mại và truyền giáo trong quá trình hoạt động của Bồ
Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc được các học giả ví von như “đôi cánh của một con 1
Các hải cảng của Nhật Bản được xem là điểm cuối trong chuỗi hệ thống thương điếm của đế quốc mậu dịch Bồ
Đào Nha
2

chim”. Nếu trong thương mại, lách qua “khe cửa hẹp” của thể chế độc quyền, các tư
thương đã đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các khâu của quá trình thu mua - vận
chuyển - bán hàng hóa thì trong lĩnh vực truyền giáo, tất cả hoạt động của các giáo
đoàn đều chịu sự chi phối của vua Bồ Đào Nha (theo những sắc chỉ được ký kết và
ban hành bởi Giáo hoàng tại Rome). Trong gần một thế kỷ, ba giáo phận Goa,
Malacca và Macao lần lượt ra đời đánh dấu thành tựu trong hoạt động truyền giáo
của các giáo đoàn Bồ Đào Nha. Nếu ở Ấn Độ, quá trình truyền giáo được tiến hành
khá thuận lợi thông qua việc sử dụng vũ lực cưỡng ép người dân bản địa phải cải đạo
thì các linh mục Dòng Tên phải rất vất vả để xâm nhập vào Trung Quốc. Một nhà
nước tập quyền vững mạnh với nền văn hóa chịu ảnh hưởng đậm nét của học thuyết
Nho giáo đã buộc các linh mục Bồ Đào Nha phải thay đổi một phần cách thức truyền
đạo. Đây là vấn đề gây tranh cãi trong thời gian dài giữa các linh mục Dòng Tên
Trung Quốc với Giáo hội Rome. Vì vậy, tìm hiểu về hoạt động truyền giáo của Bồ
Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc còn cho chúng ta thấy sự thích ứng của tôn giáo
đối với các nền văn hóa, các thể chế chính trị khác nhau như thế nào.
Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu về đế quốc mậu dịch Bồ Đào Nha cũng như hoạt
động thương mại và truyền giáo của nó ở Ấn Độ, Trung Quốc vẫn còn là mảng trống.
Trong các chương trình đào tạo cử nhân Lịch sử, thạc sĩ Lịch sử thế giới, nhận thức
của sinh viên về quá trình xác lập quyền lực thương mại biển của Bồ Đào Nha còn
khá chung chung. Những hiểu biết về vai trò của các linh mục Bồ Đào Nha tại Trung

Lịch sử truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc cũng
gần như là một mảng trống. Chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu các sự kiện liên quan thông
qua những cuốn sách sau: “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam” (quyển 1 - Các thừa sai
Dòng Tên (1615-1665)), 1959; “Bồ-Đào-Nha, Tây-Ban-Nha, Hoà-Lan giao tiếp với Đại
Việt thế kỷ XVII, XVIII”, tủ sách nghiên cứu Sử Địa của Nguyễn Khắc Ngữ; “Lịch sử
giáo hội công giáo” I, II của Linh mục Bùi Đức Sinh O.P,…Trong nội dung của các tác
phẩm tuy không đề cập đến một cách trực tiếp hoạt động truyền giáo ở Ấn Độ hay
Trung Quốc nhưng đã phác họa những nguyên nhân thúc đẩy quá trình liên kết giữa
“vương quyền” Bồ Đào Nha với Giáo hội Rome để mở rộng quyền lực sang phương
Đông. Đặc biệt, trong cuốn 'Việt Nam giáo sử” của Phan-Phát-Huồn (1958), Nha tuyên
uý Sài Gòn cung cấp nguồn tư liệu đáng tin cậy về quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo
của người Bồ Đào Nha tại châu Á, nhất là các sắc chỉ của Giáo hội Rome về việc thành
lập 3 giáo phận Malacca, Goa (Ấn Độ) và Macao (Trung Quốc). Thông qua những sự
kiện quan trọng trong lịch sử truyền giáo của Giáo hội Rome tại phương Đông, tác giả
cũng trình bày một số hoạt động của các giáo sĩ dòng Dominicains (Đa Minh) ở Trung
Quốc. Trong Luận văn Thạc sĩ của Phạm Văn Thắng (2001) tại Đại học Sư phạm Huế
về “Quá trình Thiên Chúa giáo du nhập vào Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam thời cận
đại”, tác giả cũng trình bày hoạt động của giáo sĩ Matteo Ricci (Dòng Tên) ở Trung
Quốc nửa sau thế kỉ XVI.
Trên một số tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,
Nghiên cứu Châu Âu, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Tôn giáo, tạp chí Lịch
sử quân sự …cũng chỉ có những bài viết đề cập đến hoạt động truyền giáo của các
giáo sĩ tại châu Á: Bài “Hương liệu và linh hồn” của Trần Tam Tỉnh đăng trên tạp
4

chí Lịch sử Quân sự đi sâu tìm hiểu mục đích của các chuyến viễn chinh do người
Bồ Đào Nha tổ chức đến châu Á, chỉ ra mối quan hệ giữa mục đích thương mại và
tôn giáo trong các chuyến viễn chinh này; các bài viết của Nguyễn Văn Kiệm như:
“Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, thực chất. hậu quả và hệ luỵ”
tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 9/1987; “Sự truyền bá đạo Thiên Chúa ra vùng đất ngoại

5

Newitt (1986), The First Portuguese Colonial Empire, University of Exeter Press;
A.R.Disney (2009), A History of Portugal and the Portuguese Empire: From
Beginnings to 1807, volume 2: The Portuguese empire, Cambridge University
Press, London;…Mặc dù phần lớn các công trình trên đều trình bày một cách có hệ
thống về quá trình xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha từ các cứ điểm ven biển Tây
Phi đến Ấn Độ - Đông Nam Á - Viễn Đông nhưng cách thức chọn lựa sự kiện và
quan điểm đánh giá lại khác nhau. Cụ thể: Trong tác phẩm Foundations of the
Portuguese Empire, 1415-1580, B.W.Diffie và G.D.Winius (1977) tìm hiểu về mối
quan hệ giữa Đông - Tây trong thời cổ đại, điểm vài nét sơ lược về quá trình hình
thành đất nước Bồ Đào Nha. Trên cơ sở đó, tác giả đi sâu phân tích từng giai đoạn
một trong quá trình xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha tại châu Á từ các chuyến viễn
chinh của Cabral đến A.Albuquerque và các tổng trấn sau này. Ở chiều hướng khác,
thông qua tác phẩm “A History of Portugal and the Portuguese Empire: From
Beginnings to 1807”, A.R.Disney đi sâu tìm hiểu quá trình xâm nhập của Bồ Đào
Nha vào Ấn Độ và tập trung phân tích cách thức hình thành, phát triển quyền lực
thương mại của Bồ Đào Nha thông qua việc thiết lập Estado da India.
Tuy nhiên, trình bày một cách toàn diện, ngắn gọn và dễ hiểu nhất về đế quốc Bồ
Đào Nha là tác phẩm “Portuguse Empire in Asia, 1500-1700, A Political and
Economic History” London and New York, được tái bản vào năm 2002. Công trình
này là một trong những tư liệu tham khảo quan trọng của đề tài. Điều khác biệt của
công trình không chỉ dừng lại ở việc phân chia các giai đoạn và trình bày hết sức rõ
nét những vấn đề kinh tế - chính trị của đế chế mà còn phân tích những luận điểm
của cả các học giả châu Á và châu Âu về nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn của đế
quốc Bồ Đào Nha. Trên cơ sở trình bày một cách sơ lược quá trình xâm nhập của Bồ
Đào Nha vào các vùng đất khác nhau ở châu Á, tác giả đã đi sâu làm nổi bật những
nguyên nhân đặc trưng khiến cho Bồ Đào Nha phải thực hiện các chuyến viễn chinh
đến châu Á bằng đường biển, đặc biệt là quá trình đấu tranh và thắng thế của chủ
nghĩa trọng thương trong triều đình Bồ Đào Nha. Không những thế, quá trình xâm

Empire, London: W.H.Allen & co, limited; Pius Malekandathil (2001), Portuguese
Cochin and the Maritime Trade of India, 1500-1663; European Commercial
Enterprise in Pre-Colonial India của Om Prakash (2008); Trade and Finance in
Portuguese India: A Study of the Portuguese Country Trade, 1770-1840 của Celsa
Pinto …Thông qua những tác phẩm này, các tác giả tập trung khắc họa quá trình
bành trướng quyền lực của Bồ Đào Nha tại vùng duyên hải Ấn Độ. Việc thiết lập độc
quyền thương mại đối với một số mặt hàng, sự ra đời và áp dụng thể chế cartaz tại
Ấn Độ dương.
Thế nhưng phần lớn các tác phẩm trên đều tập trung vào giai đoạn phát triển
hưng thịnh của đế quốc Bồ Đào Nha, sự suy tàn quyền lực thương mại chỉ được đề
cập đến ở một số khía cạnh. Điều đó đã được bổ khuyết trong Luận án Tiến sĩ Lịch
sử tại Đại học Goa với đề tài “History of Trade and commerce in Goa: 1878 -
1961” của Murelle Maria Leonildes da Costa. Mặc dù giai đoạn 1878 - 1961 mới là
nội dung chính của luận án, tuy nhiên trong chương 2 và chương 3 của luận án, tác
7

giả cũng trình bày những dữ liệu cần thiết về hoạt động của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ
vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX. Tác giả đã đặt Bồ Đào Nha trong mối
tương quan với Anh cũng như đi sâu phân tích sự thỏa hiệp của Anh và Bồ về việc
chuyển nhượng các quyền lợi, các mặt hàng….Qua đó, cho thấy sự khôn khéo
trong đường lối đối ngoại đã khiến Anh thu được rất nhiều lợi nhuận từ Bồ Đào
Nha mà không cần sử dụng bạo lực. Một Bồ Đào Nha yếu kém về chính trị, già cỗi
và bảo thủ về đường lối đã đánh mất hoàn toàn vai trò của mình trong giao thương
với Ấn Độ vào nửa đầu thế kỷ XIX.
Xu hướng nghiên cứu về một số thương điếm nổi bật của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ
như Goa, Cochin…được thể hiện qua các tác phẩm: Portuguese in the Tamil
coast: historical explorations in commerce and culture, 1507-1749 (1998) của
Jeyaseela Stephen; Goa-Kanara Portuguese Relations, 1498-1763 (2000) của
B.S.Shastry; C.J.Borges, Oscar Guilherme Pereira, Hannes Stubbe (2000), Goa and
Portugal: History and Development, Concept Publishing Company….

cấu tổ chức, điều hành thương mại biển của người Bồ Đào Nha ở Macao cũng được
dành một dung lượng phù hợp. Dựa vào sự nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa
Estado da India với Macao, những đặc điểm khác biệt của thương điếm Macao trong
hệ thống thương điếm của Bồ tại châu Á đã dần bộc lộ. Đây là một trong những điểm
đặc sắc của các tác phẩm này.
Tóm lại, số lượng các tác phẩm nghiên cứu về thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn
Độ và Trung Quốc khá phong phú và đa dạng nhưng lại chia làm ba khuynh hướng
nghiên cứu sau:
Thứ nhất, tìm hiểu về quá trình hình thành, phát triển và suy vong của đế quốc
mậu dịch biển Bồ Đào Nha ở châu Á. Trong đó, hoạt động thương mại diễn ra ở Ấn
Độ Dương, vịnh Bengal, duyên hải Nam Trung Quốc, Macao được trình bày một
cách khái quát với những nét chung nhất.
Thứ hai, các công trình chuyên khảo về thương mại biển của Bồ Đào Nha ở Ấn
Độ. Chúng ta có thể thấy nổi lên hai xu hướng khá rõ nét: một số tác giả chú trọng vào
tuyến giao thương nội Á; những tác giả còn lại đi sâu phân tích tuyến Cape và vai trò
của các thương điếm Ấn Độ trong mạng lưới giao thương xuyên Á này.
Thứ ba, các tác phẩm viết về thương mại biển của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc chủ
yếu tập trung vào quan hệ giữa Macao với cứ điểm thương mại chủ yếu của Bồ Đào
Nha ở Nhật Bản (trong thời kỳ đầu) cũng như quá trình cạnh tranh quyền lực thương
mại giữa Bồ Đào Nha với Tây Ban Nha, Hà Lan…(ở giai đoạn suy tàn của Estado da
India).
2.2.3. Nhóm công trình nghiên cứu về hoạt động truyền giáo của các giáo đoàn Bồ
Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc
Về việc xác lập vị thế của Giáo hội Rome tại Ấn Độ vào đầu thế kỷ XVI cũng
như quá trình hình thành các giáo xứ, giáo phận của Bồ Đào Nha tại quốc gia này
được đề cập trong các công trình: Stephen Neill (2002), A History of Christianity in
India, 1707-1858, Cambridge University Press; Stephen Neill (2004), A History of
Christianity in India: The Beginnings to AD 1707, Cambridge University Press;
9


Toán học,…) cũng được đề cập khá chi tiết.
Macao là vùng đất chịu ảnh hưởng đậm nét nhất của Thiên Chúa giáo Bồ Đào Nha,
nhưng những công trình nghiên cứu riêng lẻ về khía cạnh này chúng tôi vẫn chưa có
điều kiện tiếp cận. Điều này, một phần xuất phát từ đặc điểm khu định cư Macao của Bồ
Đào Nha. Từ khi chính thức nâng lên địa vị Giáo phận (1576), Macao đã được xây dựng
10

với tư cách trung tâm đóng vai trò quản lý hoạt động truyền giáo vùng Viễn Đông, trung
tâm đào tạo linh mục với sự ra đời của trường học Thiên Chúa giáo đầu tiên tại Đông Á.
Vì vậy, hầu hết các cuốn sách nghiên cứu về Thiên Chúa giáo tại Macao cũng đi theo xu
hướng trên. Trong công trình mới xuất bản “Macao History and Society” (2011) của
Hao Zhidong, Hong Kong University Press, tác giả đã dành một mục nhỏ nói về lịch sử
truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Macao. Hay như cuốn sách Christianity in Asia and
America: After A.D. 1500 của John Francis Butler (1979), từ trang 15 tác giả đã đề cập
đến những thành tựu quan trọng của Thiên Chúa giáo tại Macao: việc xây dựng các
trường đại học, các cơ sở từ thiện và vai trò của Macao đối với quá trình truyền giáo đến
Nhật Bản.
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu có hệ thống và
chuyên sâu nào về hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Bồ Đào Nha tại Trung
Quốc, Macao. Dựa trên nguồn tài liệu tiếng Anh, chúng tôi chọn lọc, đối sánh và đưa
ra những sự kiện khái quát nhất về Thiên Chúa giáo tại Trung Quốc trong giai đoạn
ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha.
Tóm lại, có thể nói, trên bình diện quốc tế, hiện nay đề tài luận án của chúng tôi
vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào trùng lặp về nội dung. Những khía cạnh
nhỏ của từng nội dung thì đã có nhiều công trình xuất bản. Đó là thuận lợi nhưng
cũng là bất lợi khi nguồn tư liệu bằng tiếng Anh là cơ sở duy nhất để chúng tôi hoàn
thiện đề tài. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các công trình đi trước, chúng
tôi muốn đi sâu tìm hiểu đề tài: “Hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào
Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)”.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status