Nghiên cứu cấu trúc và vận hành hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ cho các quyết định ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Thăng Long - Pdf 30

Chương 1
Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, hoạt động kinh doanh thể hiện tính cạnh tranh ngày
càng đa dạng, phức tạp và quyết liệt. Vì vậy, nhu cầu thông tin phục vụ cho việc ra
quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và không
thể thiếu.
Thông tin do kế toán quản trị ( KTQT) cung cấp là những thông tin cần thiết,
trực tiếp và thường xuyên đối với nhà quản trị nhằm đưa ra các quyết định cuối
cùng đối với hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và không
ngừng phát triển. Sự tồn tại của KTQT trong nhiều năm qua đã chứng minh được
tầm quan trọng của nó đối với công tác quản trị kinh doanh. Hiện nay, KTQT đã
trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt chức năng hoạch định,
tổ chức, kiểm soát và đánh giá các hoạt động kinh doanh.
Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới, đòi hỏi các doanh nghiệp
phải ngày càng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng. Để đáp ứng được nhu cầu
trên, công tác kế toán trong các doanh nghiệp cũng cần phải được điều chỉnh để
ngày càng hoàn thiện hơn. Mặt khác, hệ thống thông tin ( HTTT) thủ công trong
các doanh nghiệp cũng cần được đánh giá để từng bước thay thế bằng HTTT được
xử lý tự động trên máy vi tính. Hệ thống thông tin kế toán được chia làm hai bộ
phận: hệ thống thông tin kế toán tài chính và hệ thống thông tin KTQT. Các nhà
quản lý doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mới chỉ quan tâm chủ yếu về thông tin
kế toán tài chính để đưa ra quyết định kinh doanh mà chưa chú trọng nhiều tới
thông tin KTQT. Thực tế cho thấy rằng thông tin KTQT rất cần thiết đối với nhà
quản trị trong việc cung cấp thông tin nhanh chóng, hiệu quả và chính xác, đặc
biệt là đối với các quyết định ngắn hạn.
Công ty Cổ phần Thăng Long là một công ty hoạt động trọng lĩnh vực sản
xuất rượu vang. Công ty đã có được nhiều thành công trên bước đường đầu tiên
1
của quá trình hội nhập. Đóng góp một phần đáng kể trong sự thành công đó của
Công ty chính là bộ máy kế toán. Tuy nhiên ban giám đốc công ty mới chỉ chú

thiện HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn.
- Qua nghiên cứu đề tài giúp cho bản thân tác giả hiểu biết sâu sắc hơn về vấn
đề nghiên cứu, đặc biệt là các kiến thức thực tế, kiến thức chuyên môn về KTQT
nói chung và KTQT phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn nói riêng. Trong quá
trình nghiên cứu, tác giả có cơ hội tiếp cận với các nhà quản lý, các chuyên gia kế
toán trong ngành và có điều kiện học hỏi chuyên môn vững vàng của thầy cô và
đồng nghiệp trong trường. Đồng thời, tác giả có điều kiện tiếp cận với các phương
pháp nghiên cứu mới, tạo nền tảng vững chắc cho các công trình nghiên cứu khoa
học tiếp theo của tác giả.
1.5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, đề tài bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trong chương này, đề tài đã nêu
tính cấp thiết để lựa chọn đề tài nghiên cứu, xác đinh mục tiêu, phạm vi và y nghĩa
của vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận về HTTT KTQT phục vụ cho
việc ra quyết định ngắn hạn. Trong chương này, đề tài đã nêu lên khái niệm và bản
chất của HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn, tình hình nghiên
cứu HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn trên thế gới và Việt
Nam.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng HTTT KTQT tại Công ty
CP Thăng Long. Trong chương này, đề tài đã đưa ra phương pháp hệ nghiên cứu
vấn đề, tổng quan tình hình và nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu, phân
tích các dữ liệu và đánh giá thực trạng HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết
định ngắn hạn tại Công ty CP Thăng Long.
- Chương 4: Giải pháp hoàn thiện HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết
định ngắn hạn tại Công ty CP Thăng Long. Trong chương này, đề tài đã nêu lên sự
3
cần thiết phải hoàn thiện HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn và
đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
4

cơ quan quản lý, các đối thủ cạnh tranh,…
Các chức năng hoạt động chính của một HTTT là thu thập dữ liệu từ trong nội
bộ và từ môi trường bên ngoài để xử lý thành thông tin có ý nghĩa hơn rồi truyền
tải thông tin đó đến những nơi cần sử dụng. Các HTTT có thể hoàn toàn là thủ
công hoặc dựa trên máy vi tính.
Các HTTT hiện nay rất đa dạng và phong phú. Đối với các doanh nghiệp khác
nhau có thể các HTTT sẽ khác nhau nhưng nhìn chung HTTT ở các doanh nghiệp
đều hướng tới mục tiêu là hỗ trợ cho hoạt động tác nghiệp và ra quyết đinh, hỗ trợ
cho việc xây dựng các chiến lược nhằm đạt lợi thế cạnh tranh. Hiện nay, một mô
hình HTTT gồm các phân hệ thông tin và các ứng dụng chính sau:
- Phân hệ thông tin phục vụ quản lý và điều hành
- Phân hệ tiếp thị, phân phối sản phẩm và dịch vụ khách hàng.
- Phân hệ quản lý nội bộ
- Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
2.1.2. Hệ thống thông tin kế toán quản trị
2.1.2.1. Khái niệm và bản chất của KTQT
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về KTQT:
- Quan điểm của GS.TS Ronal W. Hilton thuộc trường ĐH Cornell – Mỹ
cho rằng: “ KTQT là một bộ phận của HTTT quản trị trong các tổ chức mà nhà
quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức.
- Quan điểm của hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ “ KTQT là qui trình định
dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải thích và thông đạt các số
liệu tài chính, phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi
việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp để đảm bảo cho
việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”.
- Theo luật Kế toán Việt Nam: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và
cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế
tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.”
6
- Theo TS Đặng Thị Hòa, trường ĐH Thương Mại cho rằng: “ KTQT là khoa

Phân hệ KTQT là một phân hệ của hệ thông tin quản lý kế toán nằm trong
phân hệ quản lý nội bộ của HTTT. Phân hệ thông tin quản lý kế toán bao gồm
phân hệ kế toán tài chính và phân hệ KTQT.
- Phân hệ kế toán tài chính: gồm các phân hệ điển hình như kế toán bán
hàng, kế toán tài sản cố định, kế toán lao động tiền lương, kế toán chi phí giá
thành…
- Phân hệ KTQT: gồm các phân hệ điển hình như KTQT chi phí và tính giá
thành sản phẩm, KTQT bán hàng và kết quả kinh doanh, phân tích mối quan hệ
giữa chi phí, khối lượng, lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết
định, lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh…
Như vậy, hệ thống thông tin KTQT là tập hợp các yếu tố về con người, cơ
sở vật chất, các thông tin tài chính, phi tài chính kết hợp lại với nhau cùng làm
nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho nhà quản trị.
2.1.2.2.2. Vị trí và vai trò của hệ thống thông tin KTQT
* Vị trí của hệ thống thông tin KTQT
Trong DN thì vị trí của thông tin KTQT được thể hiện qua hình vẽ sau:
- Qua hình vẽ trên ta thấy các thông tin từ các hoạt động kinh tế được kế
toán thu thập và xử lý (quá trình xử lý gồm các bước: phân loại, sắp xếp, tính toán
và lưu trữ) để cung cấp các thông tin kế toán hữu ích và cần thiết cho nhà quản lý.
- Kết quả của việc sử dụng các thông tin kế toán này là các Quyết định được
ban hành và các hoạt động kế toán mới diễn ra.
- Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, các nhà quản trị phải trao đổi cập
nhật thông tin kế toán. Họ không thể ra các quyết định mà không có thông tin kế
8
Chu trình kế toán
Quyết định
Hoạt động kinh tế
Thông tin kế toán
Quá trình xử lý
Quyết định

hồi giúp nhà quản trị có thể nhận diện những vấn đề cần phải điều chỉnh cho hợp
lý.
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định.
Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt mà là sự kết hợp cả ba
chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá, tất cả đều đòi hỏi
phải có quyết định. Phần lớn những thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ
chức năng ra quyết định.
+ Để có thông tin thích hợp, đáp ứng cho nhu cầu thích hợp của quản lý,
KTQT sẽ thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn vì những thông tin này
thường không có sẵn. KTQT sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp rồi
tổng hợp, trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất, và giải thích quá trình
phân tích đó cho các nhà quản trị.
+ KTQT không chỉ giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định bằng
cách cung cấp thông tin thích hợp mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân
tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết định
thích hợp nhất.
- Góp phần đổi mới cải tiến công tác quản lý của DN.
+ Nguồn lực của doanh nghiệp được kế toán đo lường, định lượng thành các
chỉ tiêu kinh tế, biểu hiện dưới hình thức giá trị nhằm cung cấp thông tin có giá trị
cho chức năng kiểm tra và đánh giá.
+ Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh là nhằm nhận
biết tiến độ thực hiện và phát hiện những nguyên nhân sai lệch giữa kết quả đạt
được so với mục tiêu đặt ra. Ngoài ra quá trình này còn giúp doanh nghiệp phát
hiện những thay đổi sẽ xảy ra. Nếu kết quả kiểm tra đánh giá đúng sẽ có tác dụng
tốt cho doanh nghiệp trong việc điều chỉnh kế hoạch, là cơ sở để đề ra các giải
pháp thực hiện trong tương lai.
+ Cũng thông qua quá trình kiểm tra đánh giá còn giúp cho doanh nghiệp
phát hiện những tiềm năng, thế mạnh cần được khai thác và khai thác bằng cách
nào sẽ có hiệu quả
10

2.2.1.3. Phân loại quyết định quản trị.
Do tính chất phức tạp của quá trình quản trị, các quyết định đưa ra cũng rất
đa dạng có thể phân loại theo các tiêu thức sau:
a. Căn cứ vào tính chất quyết định.
Quyết định quản trị gồm: - Quyết định chiến lược.
- Quyết định chiến thuật.
- Quyết định tác nghiệp.
+ Quyết định chiến lược: Là các quyết định định hướng phát triển của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định liên quan đến tất cả các bộ phận, các cấp trong
doanh nghiệp.
+ Quyết định chiến thuật: Là các quyết định mang tính chất thường xuyên
hơn, đó là những quyết định nhằm đạt được những mục tiêu ngắn hạn, mang tính
chất cục bộ có tác dụng làm thay đổi hướng phát triển của hệ thống quản trị trong
tổ chức.
+ Quyết định tác nghiệp: Là những quyết định ra hàng ngày, có tính chất
điều chỉnh chỉ đạo trong quá tình thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của doanh
nghiệp.
b. Căn cứ vào thời gian thực hiện quyết định.
Quyết định quản trị bao gồm: - Quyết định dài hạn
- Quyết định ngắn hạn.
c. Căn cứ vào phương pháp ra quyết định
Quyết định quản trị bao gồm: - Quyết định trực giác.
- Quyết định có lý giải.
+ Quyết định trực giác: Thường xuất phát tư trực giác của nhà quản trị mà
không cần tới sự phân tích thông tin hay lý trí để ra quyết định. Các quyết định
này thường dựa trên cơ sở kinh nghiệm và cảm giác trực tiếp của người ra quyết
định.
12
+ Quyết định có lý giải: là các quyết định dựa trên cơ sở nghiên cứu và phân
tích thông tin một cách có hệ thống. Các quyết định này thường được cân nhắc, so

phẩm rồi mới bán.
- Quyết định sản xuất trong điều kiện năng lực giới hạn
2.2.2.4. Yêu cầu đối với quyết định ngắn hạn.
Để quyết định ngắn hạn mang lại hiệu quả tốt phục vụ mục tiêu kế hoạch
đặt ra của doanh nghiệp thì quyết định ngắn hạn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
a. Đảm bảo tính khoa học.
Tức là quyết định phải dựa tên căn cư, cơ sở thông tin cụ thể đặc biệt là
thông tin về chi phí - giá cả - khối lượng do KTQT cung cấp đồng thời dựa trên
nhận thức và kinh nghiệm của nhà quản trị trong việc ra quyết định.
b. Đảm bảo tính pháp lý.
Đòi hỏi các quyết định đưa ra phải phù hợp với pháp luật, luật kế toán và
chuẩn mực kế toán hiện hành, đồng thời nó phải được đưa ra đúng thẩm quyền của
nhà quản trị cũng như thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định.
c. Đảm bảo tính tối ưu.
Muốn nói đến mối quan hệ giữa nguồn lực hiện có, chi phí và lợi nhuận,
nghĩa là các quyết định ngắn hạn cần phải dựa tên sự cân nhắc so sánh giữa các
phương án khác nhau. Phương án được lựa chọn đối với quyết định ngắn hạn là
phương án có sự kết hợp giữa ba yếu tố nguồn lực - chi phí - lợi nhuận một cách
hợp lý và hiệu quả nhất.
d. Tính cụ thể của quyết định
Để quá tình thực hiện quyết định thuận lợi thì các quyết định đưa ra phải
được cụ thể hoá thành những kế hoạch, dự án và quy định thời gian thực hiện.
e. Tính linh hoạt.
Trong điều kiện cạnh tranh thị trường luôn chưa đứng những yếu tố bất ngờ
và rủi ro nên quyết định quản trị càng dễ điều chỉnh thì khi cón biến động, thay đồi
thì nó vẫn dễ dàng thực hiện được. Những quyết định quá cứng nhắc sẽ khó thực
hiện khi xảy ra thay đổi điều chỉnh.
14
2.2.3. Thông tin KTQT đáp ứng nhu cầu quyết định ngắn hạn.
2.2.3.1. Điều kiện của thông tin KTQT.

(như lao động, tư liệu lao động) thành các sản phẩm đầu ra. Trong sản xuất kinh
doanh có nhiều phương án kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau. Mỗi phương án
kết hợp mang lại hiệu quả kinh doanh nhất định vì vậy để có quyết định phù hợp
không thể xem nhẹ những loại thông tin này.
- Để thông tin kế toán mang lại hiệu quả cho quyết định thì nó phải được
thu thập trên cơ sở hiểu biết, nhận thức vấn đề một cách tổng hợp. Khi thông tin
đưa ra mang tính chất tổng hợp giúp nhà quản trị khai thác có hiệu quả nhất mọi
khả năng hiện có cũng như khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp.
- Thông tin kế toán cũng phải kịp thời; dù thông tin kế toán có đầy đủ, tổng
hợp đến đâu đi chăng nữa mà không đúng lúc thì việc ra quyết định cũng không có
giá trị.
c.Tính hợp pháp và ít tốn kém trong thu thập thông tin kế toán.
Có nhiều nguồn thông tin khác nhau cả ở ngoài doanh nghiệp và trong nội
bộ doanh nghiệp KTQT phải cân nhắc khi lựa chọn thông tin để tổ chức xử lý
thành thông tin hữu ích cho quản lý với chi phí bỏ ra là thấp nhất hoặc có thể chấp
nhận được. Nếu không có thể dẫn đến tình trạng thu thập được thông tin cần thiết
nhưng chi phí bỏ ra quá lớn.
2.3. Tình hình nghiên cứu HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết định
ngắn hạn ở VIệt Nam và thế giới.
2.3.1. Nghiên cứu HTTT KTQT ở Việt Nam
Ở Việt Nam, KTQT đã phát triển gắn liền với chính sách, chế độ kế toán áp
dụng ở các doanh nghiệp. Tuy nhiên KTQT chỉ mới được đề cập một cách hệ
thống vào khoảng giữa thập niên 90 của thế kỷ trước và trở thành vấn đề cấp thiết
trong việc xây dựng HTTT kế toán vào đầu những năm 2000 khi các doanh nghiệp
Việt Nam chú trọng tới việc nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh
16
tranh trong môi trường kinh doanh không những ở trong nước mà còn mở rộng ra
thị trường khu vực và thế giới.
Việc nghiên cứu về HTTT KTQT phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư
ngắn hạn còn rất ít. Trong điều kiện có hạn, tác giả đã tìm hiểu được tài liệu

giá việc thực hiện kế hoạch SXKD, phân tích kết quả kinh doanh và ra quyết định.
Về mô hình tổ chức kế toán của Mỹ: theo mô hình hỗn hợp.
Về phương pháp phân tích và cung cấp thông tin : KTQT của Mỹ chú trọng
tới các tài khoản và sử dụng cách phân loại chi phí thành biến phí, định phí để lập
báo cáo quản trị, xây dựng hệ thống chi phí tiêu chuẩn, phân tích mối quan hệ chi
phí – khối lượng – lợi nhuận.
- Hệ thống kế toán Pháp:
Hệ thống kế toán doanh nghiệp của Mỹ được chia thành 2 bộ phận: kế toán
đại cương và kế toán phân tích.
+ Kế toán đại cương: có nhiệm vụ làm cho người quản lý biết được tình
hình tài chính của doanh nghiệp, phản ánh được tình hình chi phí, doanh thu, mua
bán hàng hóa, xác định kết quả kinh doanh chung của doanh nghiệp.
+ Kế toán phân tích: có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho người quản lý về
chi phí, doanh thu, kết quả của từng loại mặt hàng, từng ngành hoạt động, từng
loại chi phí, giá thành của từng loại sản phẩm, cung cấp các thông tin cơ bản để
làm căn cứ phân tích và đưa ra các quyết định.
Về mô hình tổ chức kế toán của Pháp: tách biệt giữa kế toán đại cương và
kế toán phân tích.
Về phương pháp phân tích và cung cấp thông tin: Kế toán phân tích của
Pháp thường phân chia tổ chức ra thành các trung tâm trách nhiệm, tập hợp và
phân tích tình hình thực hiện chi phí, doanh thu, kết quả theo từng trung tâm, để
kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra
quyết định.
Qua nghiên cứu nét cơ bản về hệ thống kế toán ở hai quốc gia trên, với
những thông tin nghiên cứu đã trình bày ở trên, tác giả nhận thấy rằng thông tin
giúp cho nhà quản trị trong việc ra quyết định đầu tư ngắn hạn của Kế toán quản
trị Mỹ có tính thuyết phục và đáp ững nhu cầu quản trị cao hơn so với kế toán
phân tích của Pháp. Việc áp dụng KTQT vào các doanh nghiệp Việt Nam, tác giả
nhận thấy tên gọi các hệ thống kế toán, mô hình tổ chức kế toán, phương pháp
18

hạch toán, ghi sổ
Báo cáo theo
yêu cầu quản

- Để thu thập thông tin này KTQT có thể sử dụng các phương pháp kế toán:
phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tổng
hợp cân đối thông qua việc tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức vận dụng tài
khoản, thiết kế hệ thống sổ kế toán, hệ thống báo cáo kế toán theo yêu cầu quản lý
và mục đích ra quyết định.
a. Tổ chức hạch toán ban đầu.
- Đây là khâu đầu tiên khi thu thập thông tin quá khứ. Hạch toán ban đầu
được thực hiện thông qua việc lập các chứng từ kế toán. Lập và ghi chép đầy đủ,
chính xác các sự kiện kinh tế phát sinh sẽ giúp cho các khâu tiếp theo tiến hành
thuận lợi, đảm bảo cung cấp thông tin được nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu phù
hợp, hữu ích và kịp thời.
- Phục vụ cho các tình huống ra quyết định KTQT không chỉ sử dụng hệ
thống chứng từ bắt buộc mà cần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướng dẫn để thu
nhận thông tin quá khứ chi tiết theo từng mục tiêu quản lý và ra quyết định. Doanh
nghiệp cần cụ thể hoá hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc bổ sung, sửa dổi các
chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với nội dung của KTQT, thiết kế thêm các
chứng từ kế toán cần sử dụng để phản ánh nội dung thông tin thích hợp theo yêu
càu và mục đích của các quyết định quản trị doanh nghiệp .
b. Tổ chức tài khoản kế toán.
- Việc tổ chức tài khoản kế toán để thu thập thông tin quá khứ phục vụ cho
việc ra quyết định cần được tiến hành một cách có hệ thống và khoa học vừa đảm
bảo cung cấp thông tin chi tiết theo yêu cầu quản trị, vừa đảm bảo khả năng đối
chiếu giữa thông tin chi tiết với thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế
toán cụ thể.
- Để đáp ứng mục tiêu trên KTQT cần căn cứ vào hệ thống tài khoản của
Nhà nước ban hành, trên cơ sở mục đích và yêu cầu của quản lý chi tiết đối với

Quá trình xử lý thông tin
Lập và
phân
Ra
quyết
21
Phân
loại
chi
phí
Xây
dựng
định
mức và
các tiêu
thức
phân bổ
chi phí
Phân
tích: chi
phí-
khối
lượng-
lợi
nhuận
Lập dự
toán và
xác định
tổng chi
chi phí

thông tin
- Lựa chọn nguồn thông tin: đây là giai đoạn thứ hai KTQT thực hiện để thu
thập thông tin tương lai. Trong giai đoạn này KTQT phải xác định loại thông tin
mà quản trị quan tâm và phương pháp thu thập thông tin có hiệu quả nhất. Tuỳ
theo đó là thông tin sơ cấp hay thứ cấp hoặc cả hai mà kế toán thu thập, ghi chép
và trình bày phù hợp.
+ Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp: thông tin số liệu thứ cấp là thông tin
đã có ở đâu đó và trước đây đã thu thập cho mục tiêu khác, thông tin này kế toán
có thể thu thập từ các báo cáo quản trị nội bộ, báo cáo tài chính, cũng có thể thu
thập từ bên ngoài (như ấn phẩm của cơ quan Nhà nước, tạp chí, sách, dịch vụ tư
vấn ).
Thu thập thông tin thứ cấp có ưu điểm là chi phí thấp và dễ tìm kiếm song
không phải lúc nào cũng có được các thông tin mà nhà quản trị cần và cũng có khi
thông tin, số liệu không đầy đủ và lạc hậu không đáng tin cậy cho việc ra QĐ.
Trong trường hợp đó KTQT sẽ phải phân bổ thêm chi phí và tốn thời gian để thu
thập thông tin từ đầu, các số liệu gốc và điều đó sẽ cập nhật và chính xác hơn.
+ Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: Rất nhiều thông tin tương lai được thu
thập từ đầu mà chưa có ở bất cứ đâu. Để thu thập thông tin sơ cấp phải có kế
hoạch thu thập, nghiên cứu. Kế hoạch này phải thể hiện những nội dung cụ thể
như: phương pháp thu thập, công cụ thu thập, mẫu thu thập, cách thức liên hệ
Tuỳ theo nội dung cần thu thập, KTQT sử dụng các phương pháp thu thập
và trình bày khác nhau. Các phương pháp thu thập thông tin ban đầu là: quan sát,
thực nghiệm, thăm dò dư luận Các kỹ thuật được sử dụng khi thu thập là: phân
tích, chọn mẫu, tổng hợp và ước tính.
- Xử lý phân tích thông tin: Sau khi thu thập thông tin KTQT tiến hành xử
lý thông tin đó thành những thông tin kế toán hữu ích cho mục tiêu và quyết định
của nhà quản trị. Để xử lý các thông tin này KTQT áp dụng các phương pháp kế
toán chung như: phương pháp chứng từ, tính giá, tài khoản, tổng hợp và cân đối kế
toán đồng thời kết hợp với các phương pháp riêng của KTQT như: So sánh, đối
chiếu thành các biểu đồ, đồ thị hay phương trình

24
đồng thuê với tiền thuê trả theo doanh số, chi phí bán hàng……thì đều được kế
toán lượng hoá, tách riêng thành yếu tố chi phí cố định và yếu tố chi phí biến đổi,
chi phí cố định sẽ được để nguyên ở dạng tổng số, chi phí biến đổi luôn được tính
cho từng đơn vị sản phẩm. Sỡ dĩ phân loại chi phí thành biến phí và định phí là do
quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của kế toán quản trị dưới góc
độ kiểm soát và dự toán chi phí nhằm tìm ra các biện pháp quản lý chi phí có hiệu
quả nhất.
+ Xây dựng định mức và các tiêu thức phân bổ chi phí
Xây dựng định mức chi phí: là vấn đề sử dụng các phương pháp kỹ thuật tính
toán định lượng các chỉ tiêu nguyên liệu, vật liệu, lao động trực tiếp cho một đơn
vị sản phẩm. Căn cứ vào định mức đã xác định với giá của từng đơn vị ta xác định
được chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp (đây là hai
khoản mục biến động theo khối lượng sản phẩm hoàn thành). Định mức chi phí là
tiêu chuẩn quan trọng để lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá các khoản chi phí
giúp nhà quản trị nhận được thông tin phản ánh hiệu quả quá trình hoạt động và
hiệu năng của bộ máy quản lý.
Xây dựng các tiêu thức phân bổ chi phí: các biến phí cũng như chi phí trực
tiếp là loại chi phí có thể kiểm soát được vì chúng trực tiếp phát sinh cùng với
mức độ hoạt động của từng bộ phận. Tuy nhiên các chi phí gián tiếp phát sinh là
nhằm phục vụ cho nhiều bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp. Do đó, doanh
nghiệp phải lựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp này sao cho hợp lý
nhất. Căn cứ phân bổ chi phí gián tiếp rất đa dạng phụ thuộc vào loại hình doanh
nghiệp, tính chất và đặc điểm doanh nghiệp, thông thường căn cứ được sử dụng để
phân bổ là mức độ hoặc mức sử dụng dịch vụ được cung cấp. Căn cứ phân bổ tốt
nhất là hoạt động gây ra chi phí, hoạt động phản náh mối quan hệ nguyên nhân
của việc sử dụng với chi phí.
+ Phân tích chi phí- khối lượng- lợi nhuận
Sau khi phân loại chi phí thành biến phí và định phí thì kế toán quản trị sử
dụng khái niệm số dư đảm phí (SDĐP) để phân tích chi phí- khối lượng- lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status