Mối quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể và tranh chấp lao động tập thể - Pdf 30

Bài tập học kì Môn Luật lao động Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa người
lao động và người sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao
động. Trong mối quan hệ này, người lao động đem sức lao động của mình làm
việc cho người sử dụng lao động và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của
người sử dụng lao động thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu
được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận. Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối
đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được
các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Những lợi ích
đối lập này giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ trở thành mâu
thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau. Do vậy,
tranh chấp lao động xảy ra là điều dễ nhận thấy.Vì vậy việc tìm hiểu, giải quyết
tình huống cụ thể có liên quan đến tranh chấp lao độngsẽ giúp chúng ta hiểu sâu
sắc hơn các quy định của pháp luật về tranh chấp lao động và giải quyết tranh
chấp lao động.
NỘI DUNG
1, Mối quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể và tranh chấp lao động
tập thể.
“Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và
người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi
và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động” (Khoản 1 Điều 44 BLLĐ sửa
đổi bổ sung năm 2007)
Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp xảy ra giữa “tập thể lao động và
người sử dụng lao động”
Tranh chấp lao động tập thể thường là những tranh chấp về thỏa ước lao
động tập thể.
Tập thể lao động là một tập hợp người lao động trong một phạm vi sử dụng
lao động nhất định được hình thành thông qua sự liên kết giữa những người lao
động với nhau nhằm thực hiện những mục tiêu xã hội vì quyền lợi của họ (tập thể
lao động) trong lĩnh vực lao động.

chặn tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp lao động tập thể. Hơn thế nữa,
thỏa ước lao động tâp thể còn là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp lao động
tập thể.
Mối quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể và tranh chấp lao động tập thể
được thể hiện ở các khía cạnh sau:
1.1. Thỏa ước lao động tập thể góp phần điều hòa lợi ích, ngăn ngừa mâu
thuẫn xung đột giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động ( tức là ngăn
ngừa, hạn chế, tranh chấp lao động trong đó có tranh chấp lao động tập thể )
2
Họ và tên: Nguyễn Thị Thoa MSSV: 341203
Bài tập học kì Môn Luật lao động Việt Nam
Không chỉ góp phần tạo nên cộng đồng về quyền lợi và nâng cao ý thức
trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động, thỏa ước lao động tập thể còn là
một trong những biện pháp pháp lý quan trọng để hạn chế xảy ra các tranh chấp
trong quan hệ lao động, đặc biệt đối với tranh chấp lao động tập thể.
Đối với người lao động trong doanh nghiệp, với ý nghĩa lớn lao động là sự
liên kết các cá nhân mỗi người lao động thành một khối thống nhất về quyền, về
lợi ích và về ý chí thỏa ước lao động tập thể tạo điều kiện để họ bình đẳng hơn với
người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, giúp họ có được vị thế tương
xứng, có tiếng nói mạnh hơn trong việc thương lượng với người sử dụng lao động
về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động. Thỏa ước lao động khi đã
được kí kết và có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng, được nhà nước thừa
nhận và bảo vệ, giúp hạn chế được những yêu sách không chính đáng có thể phát
sinh trong quá trình tiến hành quan hệ lao động từ phía người sử dụng lao động –
phía thường có ưu thế hơn trong quan hệ lao động với người lao động, qua đó sẽ
ngăn ngừa được những mâu thuẫn xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động.
Đồng thời nó cũng giúp hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh giữa những
người lao động trong các bộ phận doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong
cùng ngành, nghề, bảo đảm ổn định việc làm cho người lao động.
Đối với người sử dụng lao động, thỏa ước lao động tập thể sẽ giúp họ tăng

vậy hợp đồng lao động là căn cứ quan trọng nhất để cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp. Tuy nhiên, bên cạnh hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập
thể cũng là căn cứ quan trọng đẻ giải quyết tranh chấp. Khi giải quyết tranh chấp,
cơ quan có thẩm quyền bao giờ cũng xem xét những thỏa thuận trong hợp đồng
có phù hợp với thỏa ước tập thể hay không. Nếu thỏa thuận đó trong hợp đồng mà
trái với thỏa ước (theo hướng bất lợi cho người lao động) thì những thỏa thuận
trong thỏa ước sẽ được coi là căn cứ để giải quyết quyền lợi cho người lao động.
Tranh chấp lao động tập thể thường là những tranh chấp về thỏa ước lao
động tập thể như: tranh chấp về việc các bên không thực hiện đúng các nội dung
đã thỏa thuận trong thỏa ước (tranh chấp lao động tập thể về quyền), tranh chấp
về việc phải sửa đổi, bổ sung những nội dung đã không còn phù hợp với điều kiện
thực tế tại thời điểm phát sinh tranh chấp (tranh chấp lao động tập thể về lợi ích)
…Đương nhiên, thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để giải
quyết tranh chấp này. Từ tranh chấp tập thể về lợi ích có thể dẫn đến sửa đổi, bổ
sung Thỏa ước lao động tập thể đã kí kết, hoặc kí kết một thỏa ước lao động tập
thể mới phù hợp với thời điểm hiện tại tại doanh nghiệp.
Tóm lại, từ những phân tích ở trên ta thấy rằng thỏa ước lao động tập thể và
tranh chấp lao động tập thể có mối quan hệ gắn bó với nhau. Có thể nói rằng, thỏa
4
Họ và tên: Nguyễn Thị Thoa MSSV: 341203
Bài tập học kì Môn Luật lao động Việt Nam
ước lao động tập thể vừa là cơ sở của tranh chấp lao động tập thể, vừa là căn cứ
để giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Vì vậy, nếu chế định về thỏa ước lao
động tập thể của pháp luật lao động được quan tâm xây dựng và hoàn thiện phù
hợp với thực tế, nếu các doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức hữu quan quan tâm
đầy đủ đến việc kí kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể thì có thể hạn chế
được đến mức tối đa các tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp lao động tập
thể có thể xảy ra trong thực tế.
2. Giải quyết tình huống.
a, Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu T có yêu cầu.

Tranh chấp trong tình huống trên là tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động
theo hình thức sa thải, khi xảy ra tranh chấp nếu hai bên có yêu cầu hòa giải thì có
thể hòa giải ngay tại cơ sở. Nhưng ở đây khi xảy ra tranh chấp này, T nên khởi
kiện đến Tòa án cấp quận (huyện) luôn mà không nhất thiết phải qua hòa giải tại
cơ sở, bởi tranh chấp này có liên quan đến quyền lợi thiết thực giữa hai bên. Kéo
dài thì T không có việc làm, không có thu nhập sẽ ảnh hưởng tới đời sống cũng
như tâm lý. Còn Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng đến tiến độ cũng như sự ổn định
của sản xuất, kinh doanh. Nếu qua hội đồng hòa giải cơ sở hay hòa giải viên của
cơ quan lao động cấp quận (huyện) thì thời gian giải quyết vụ việc kéo dài. Vì vậy
đảm bảo nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng, kịp thời, bảo vệ
quyền và lợi ích của các bên, T có quyền yêu cầu tòa án cấp quận (huyện) giải
quyết mà không cần phải qua hòa giải và trong trường hợp này được miễn án phí.
Ở đây, T làm việc cho Ngân hàng ACB tại chi nhánh Trung yên quận
Thanh Xuân, Hà Nội. Theo quy định tại Điều 35 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm
2004:
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định
như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có
trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
6
Họ và tên: Nguyễn Thị Thoa MSSV: 341203


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status