BỘ YTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
gofflÌG8
NGUYỄN THỊ THU THƯỶ
NGHIÊN CỨU BÀO CHÊ
THUỐC NHỎ MẮT POVIDON lOD 2,5%
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHOÁ 2001 - 2006 )
Người hướng dẫn : PGS.TS. NGUYỄN v ă n long
Noí thực hiện : BỘ MÔN BÀO CHẾ
Thời gian thực hiện : 01/2006 - 05/2006
HÀ NỘI, 05/2006
»ị, : ĩ
S l «■'/ . íĩ
J ß d i e A m ö 'n
( ỉ)ở i Làẽtạ. íxiễí Ổ4^L chàễL thỉưtl^^ em æij^t g j ỉt l ề i eảwL Ổ4L tjâ i
Q lạ itụ ỉn . <ĩ)ăjÊíL JSjm q.
Q lụ Ắ tòi th ầ ụ . đ ã tqj^L íư i h kư ố^ iụ . dỗsL í^m ằ xiốt t h è i ạ ic ư t hjỌ4í iậfL
tm th ự a ítiỀễL k ìm Á Luãềt. Çïkaj^. đ ă lu m t ehí^ tư^L Ị^ihữểtạ. kiỉ^L th ứ e khôề^tg. e h ỉ
ú ỉ e h u ụ ^ J ễ í m jầ ẽ L m à e ồ 4 t^ L í ể ih ữ t t ự . k ữ ih ễ ^ tạ h iỀ Ị^ n q Ậ ií ! m u i t ^ i ạ . e u ầ € L & jấ n jq
ố m æÙ L eỏM L Ổ^L ^ẨLÍ% (JJàwL Ç îk u ^ Œ )S^. ^ h i h
a à e á a thầụ^ e ở g io j^ f e ú n hề Uụ t h u ậ t m Ề ti bỉ% ễPiồ4i (B à a e h e '0't^ưỒ^Lạ. ^ ạ i h ạ a
'JÔCL Qlậi^
t ó
ni&WL (D i AÌểih
-
S h ih úÁ t đ ă tíLO^ đ iề u kiỀểt ạ i t í f t đs^ em iiế ễt
h íu ih th ự ii ngliiỀt^i .
^ u ố i eÌLỆLạ. e m æ h t q jử i đ ế í ^ t lìA m ẹ Làề^tạ. b i ỉ í dwL a A íl AẮe^ Ị^igxlài đ ă Luềế^t ầ
PHẦN II: THựC NGHIỆM VÀ KẾT q u ả
2.1. Nguyên liệu và phương pháp thực nghiệm
17
2.1.1. Nguyên liệu 17
2.1.2. Thiết b ị 17
2.1.3. Phương pháp thực nghiệm 18
2.2. Kết quả thực nghiệm 22
2.2.1. kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu đến độ ổn định
của thuốc nhỏ mắt 22
2.2.1. Khảo sát tác dụng in vitro của một số mẫu chế phẩm 35
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận 40
2. Đề xuất 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
CHÚ GIẢI CHỮVIẾT TẮT
AS
BP
CT
ĐK
ĐN
LH
MIC
PI
PVP
SKD
TT
Ánh sáng
Bristish Pharmacopoeia
bào chế thuốc nhỏ mắt povỉdon ỉod 2,5%” với mục tiêu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố tới độ ổn định hoá học của
povidon iod trong dung dịch thuốc nhỏ mắt 2,5%.
- Nghiên cứu phương pháp bào chế và độ ổn định của chế phẩm.
- Sơ bộ đánh giá tác dụng in vitro của chế phẩm.
- Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho chế phẩm.
PHẦNI
TỔNG QUAN
1.1 ĐẠI CƯ3NG VỀ THUỐC NHỞ MẮT
1.1.1 Định nghĩa
Thuốc nhỏ mắt là những chế phẩm lỏng vô khuẩn, có thể ở dạng dung
dung dịch hay hỗn dịch, có chứa một hoặc nhiều dược chất, được nhỏ vào túi
kết mạc, với mục đích chẩn đoán hay điều trị các bệnh về mắt. Thuốc nhỏ mắt
cũng có thể bào chế dưới dạng bột vô khuẩn và được pha với một chất lỏng vô
khuẩn thích hợp ngay trước khi dùng [1].
1.1.2 Thành phần của thuốc nhỏ mắt
Một chế phẩm thuốc nhỏ mắt có 4 thành phần: dược chất, dung môi,
các thành phần khác và bao bì đựng thuốc [1].
- Dược chất:
Dược chất dùng pha thuốc nhỏ mắt bao gồm các nhóm: kháng sinh,
chống viêm, gây tê bề mặt, giãn đồng tử, [1].
- Dung môi:
Dung môi pha thuốc nhỏ mắt thường là nước cất. Nước cất dùng để pha
thuốc nhỏ mắt phải đạt các chỉ tiêu ghi trong chuyên luận “Nước cất” của
Dược điển và phải vô khuẩn. Khi cần làm tăng độ tan đối với dược chất ít tan,
làm tăng độ ổn định với dược chất dễ bị phân huỷ, thưòtig dùng hỗn hợp dung
môi đồng tan với nước và một số biện pháp thích hợp.
Trong một số trường hợp dầu thực vật cũng được dùng làm dung môi
pha thuốc nhỏ mắt. Dầu được dùng làm dung môi phải có thể chất lỏng ở nhiệt
độ phòng và không gây kích ứng với mắt [1],
1.13.2. Một số biện pháp làm tăng SKD của thuốc nhỏ mắt
Sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt được cải thiện khi kéo dài thời gian lưu
của thuốc trước giác mạc và làm tăng tính thấm của dược chất qua giác mạc
> Kéo dài thời gian lưu thuốc trước giác mạc: có 2 cách là làm giảm kích
ứng mắt và tăng thời gian lưu thuốc.
- Kéo dài thời gian lưu thuốc trước giác mạc:
+ Thêm vào công thức các polyme tan trong nước để làm tăng độ nhót
của thuốc nhỏ mắt. Vì khi dung dịch có độ nhớt cao, thuốc được duỵ trì lâu
hơn trước giác mạc, nước mắt khó rửa trôi hơn, đồng thời hạn chế sự thải
thuốc vào ống mũi lệ, tạo điều kiện cho dược chất hấp thu qua giác mạc tốt
hơn. Độ nhớt tối ưu của thuốc nhỏ mắt là khoảng 12-15 cps. Nếu độ nhớt
cao quá sẽ gây phản xạ tiết nước mắt và chớp mắt làm giảm hấp thu thuốc.
Ngoài ra một số chất làm tăng độ nhớt còn làm tăng độ tan hay giúp ổn định
chế phẩm [1].
Một số chất làm tăng độ nhớt hay dùng cho mắt:
Methyl cellulose (MC): Có thể dùng vói nồng độ 0,25% (loại có độ nhớt
4000 cps) và l%(loại có độ nhớt 25 cps). Khi tăng nhiệt độ, độ tan của MC
trong nước giảm và tủa lại, nhưng khi để nguội nó không hoà tan hoàn toàn trở
lại như trước. Vì thế dùng MC làm tăng độ nhớt thì không tiệt khuẩn bằng
nhiệt được [1],[8].
Alcol polyvinỉc (PVA): Dùng với nồng độ 1,4% cho dung dịch có độ
nhớt 4 - 6 cps. Alcol polỵvinic có nhiều ưu điểm hơn MC. Alcol polỵvinic có
thể tiệt khuẩn bằng phương pháp hấp [1].
Acid polyacrylic (PAA): cũng có tác dụng tốt làm tăng độ nhớt dung
dịch thuốc nhỏ mắt. Có thể dùng nồng độ 0,5% hoặc 1% [17].
Acid hyaluronic (HA); Dùng với nồng độ 0,2 - 0,3% làm tăng sinh khả
dụng, đã được nghiên cứu đối với 1 số công thức thuốc nhỏ mắt chứa
gentamycin, pilocarpin hydroclorid [17]
Ngoài ra còn dùng HPMC (0,5%), dextran 70 (0,1%), PVP (2-10%),
PEG 300, PEG 400 làm tăng độ nhớt của dung dịch thuốc nhỏ mắt.
khoa, hệ vi tiểu phân, hệ phân bố hoá học, hệ chuyển đổi cấu trúc pha cũng
làm tăng SKD của thuốc nhỏ mắt. [18]
ở hệ trị liệu dùng cho nhãn khoa, có một số công trình nghiên cứu mới
nhằm kéo dài thời gian tác dụng của thuốc. Người ta đã tạo ra các vòng xoắn
trên 1 trục nhỏ gọi là OphthaCoil. Các vòng dây có cấu tạo như sau: gồm 1 sợi
dây thép mảnh được phủ ra ngoài bằng các polyme có khả năng trương nở như
N-vinylpyưolidon và n-butylmethacrylat. Dược chất được phân bố trong lớp
vỏ trên. Sau đó người ta đặt vào trong túi cùng kết mạc của mắt. Lớp vỏ tmcfng
nở và giải phóng dược chất từ từ làm tăng thời gian tiếp xúc với kết mạc, do đó
làm tăng SKD và tác dụng kéo dài hơn [25].
- Hạn chế kích ứng mắt:
Khi dung dịch thuốc nhỏ mắt có pH, độ đẳng trương càng giống với
nước mắt thì càng ít gây kích ứng mắt. Vì vậy một số biện pháp sau đã được
áp dụng:
+ Thêm các chất điều chỉnh và duy trì pH của dung dịch [1].
Nước mắt có pH khoảng 7,4, khi nhỏ dung dịch có pH khác xa pH sinh
lý sẽ gây phản xạ chớp mắt hoặc tăng tiết nước mắt, làm cho liều thuốc bị rửa
trôi và pha loãng nhanh chóng. Vì vậy nên điều chỉnh pH của thuốc nhỏ mắt
gần với pH của mắt. Các hệ đệm với các dung lượng đệm nhất định thường
được sử dụng để điều chỉnh và duy trì pH của dung dịch thuốc nhỏ mắt, đảm
bảo độ ổn định của chế phẩm và ít gây kích ứng mắt. Nếu dung lượng đệm
quá cao, mắt sẽ khó đưa được về pH sinh lý cũng là một yếu tố làm tăng tiết
nước mắt, hạn chế SKD của thuốc nhỏ mắt.
+ Thêm các chất đẳng trương hoá dung dịch thuốc nhỏ mắt:
Nước mắt là dung dịch đẳng trương. Khi nhỏ dung dịch không đẳng
trưoỉng vào mắt có thể gây kích ứng mắt. Nếu dung dịch quá nhược trương có
thể gây phù nề giác mạc, còn nếu quá ưu tnicfng có thể mất nước ở biểu mô
giác mạc [1]. Việc đẳng trương hoá các dung dịch thuốc nhỏ mắt là khá phổ
biến nhằm hạn chế kích ứng mắt. Có thể dùng natri clorid (0,6 đến 2%), kali
clorid, manitol để đẳng trương hóa. Ngoài ra, còn dùng dung dịch acid boric
Tên khoa học: l-Vinyl-2-pỵưolidinone, kết hợp với iod [14]
1.2.2. Tính chất
- Lý tính:
Bột vô định hình có màu vàng nâu hay nâu đỏ, có mùi hắc nhẹ.
Povidon iod có chứa từ 9 đến 12% iod tự do. Tan trong nước, ethanol. Không
tan trong cloroform, cacbon tetraclorua, ether, hexan và aceton [29],[36].
- Hoá tính: có phản ứng đặc trưng của iod
+ Làm hồ tinh bột chuyển sang màu xanh
+ Tính khử
- Bảo quản trong bao bì tránh ánh sáng
- Độ ổn định: Dung dịch tan trong nước có pH khoảng 3 đến 6,5. Khi đưa pH
dung dịch lên môi trường kiềm PI sẽ kém ổn định hơn [29],[36].
1.2.3. Tác dụng dược lý, cơ chê
- Tác dụng dược lý:
lod khó tan trong nước. Povidon đuợc dùng làm chất mang iod giúp iod
dễ tan trong nước và iod được giải phóng ra từ từ tạo hoạt tính sát khuẩn. lod
tự do có hoạt tính sát khuẩn rộng, diệt khuẩn trên hầu hết các loài, kể cả trực
khuẩn lao, diệt được cả bào tử, nấm, virus. Gắn vào da, dược chất thấm sâu
vào trong biểu bì, vào được máu, thải qua nước tiểu. Hấp thu toàn thân phụ
thuộc vào vùng và tình trạng sử dụng thuốc (diện rộng, da, niêm mạc, vết
thương, các khoang trong cơ thể). Khi dùng làm dung dịch rửa các vết thương
trong cơ thể, toàn bộ phức hợp cao phân tử povidon iod cũng có thể được cơ
thể hấp thu. Phức hợp này không chuyển hoá hoặc đào thải qua thận [3].
-C ơ chế:
lod tự do được nhả ra từ từ sẽ oxy hoá các nhóm -SH, amino, nitơ ở
các dị vòng, tạo liên kết với glucose, glycol, lipid, acid amin, protein của vi
khuẩn, bão hoà các đường nối đôi v.v. kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn và
tiêu diệt vi khuẩn [3]
1.2.4. Chỉ định, chống chỉ định, tác dụng phụ
- Chỉ định:
Tiêm mẫu vào dòng chảy để xác định hàm lượng iod dạng muối và iod
tự do trong một số chế phẩm có chứa PI. Tiến hành như sau: tiêm 1 lượng chế
phẩm có chứa PI vào dòng chảy chứa muối natri Sulfat và acid ascobic sẽ định
lượng được tỷ lệ iod dạng muối và iod tự do. Tiếp theo tiêm 1 lượng mẫu thứ 2
vào dòng chứa resorcin kiềm và tính toán được tỷ lệ giữa 2 dạng muối iod và
iod tự do. Nồng độ iod dạng muối và dạng tự do được tính toán dựa vào những
tín hiệu kế tiếp nhau. Phương pháp này cho kết quả đáng tin cậy và đã được
Dược điển Mỹ chấp nhận [28].
1.2.6. Một số dạng bào chê povidon iod
- Betadine (Zuellig Pharma): Dung dịch dùng ngoài 10%, dung dịch sát
trùng phụ khoa 10%, dung dịch tạo bọt dùng ngoài 7,5%, thuốc mỡ 10%,
dung dịch súc miệng 1%
- Povidone iodine 10% (XNDP TW5): Dung dịch dùng ngoài
- Povitad (Stada VN): Nước súc miệng có PI, menthol, methyl salisỵlat
Povitad gel (Stada VN): ống lOg, 20g, 30g dạng gel [7],[9].
1.3. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN c ú u VỀ POVIDON lOD
a. Nghiên cứu về tác dụng của povidon iod trên một sô vi sinh vật
A.L. Barry [10] và cộng sự đã nghiên cứu về hiệu quả kháng khuẩn của
PI đối với một số chủng vi khuẩn gây bệnh. Sự kháng kháng sinh hiện đang là
vấn đề mà ngành y tế quan tâm. Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu
xem liệu sự thay đổi cơ chế chuyển hoá, hay sự thay đổi của màng bao ngoài
tế bào vi khuẩn do sự kháng kháng sinh có ảnh hưẻmg nào đó đến chất diệt
khuẩn hay không.
Kết quả cho thấy dù có sự khác nhau nhỏ nhưng cả 1165 mẫu được
phân lập và thí nghiệm đều cho thấy PI ức chế hiệu quả vi sinh vật ngay ở
nồng độ thưcỉng được sử dụng. Staphylococcus ssp. khá nhạy cảm với PI dù đã
kháng methicillin. Streptococcus pneumoniae đã kháng Penicillin không ảnh
hưởng đến MIC của PI. Sau khi đã thử nghiệm, giá trị MIC đối với 1 số chủng
như sau :
Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Enterobactor, Haemophilus
khi kháng sinh ra đời người ta đã dần thay thế bạc nitrat bằng erythromycin
hay tetracyclin.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng PI 2,5% hiệu quả tốt hơn
erythromycin và bạc nitrat trong điều trị bệnh viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh. Kết
quả cho thấy: Trẻ điều trị bằng bạc nitrat có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn 34% so
với PL Còn trẻ điều trị bằng erythromycin có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn 16% so
với PI [13],[30].
Tác giả đề xuất việc sử dụng dung dịch PI 2,5% thav thế cho các biện
pháp đã được sử dụng trước đây trong điều trị bệnh viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh.
> J Katz và cộng sự [19] tiến hành nghiên cứu về khả năng làm phục
hồi thị lực do bệnh loét giác mạc của dung dịch povidon iod 2,5%. Chế phẩm
PI được sử dụng kèm theo phác đồ kháng sinh chuẩn để điều trị kháng khuẩn
trong bệnh loét giác mạc và giảm kích thước của sẹo ở giác mạc, nâng cao
năng lực phục hồi thị giác cho người bệnh.
Nghiên cứu được tiến hành như sau: Toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán
là loét giác mạc chia làm 2 nhóm. Nhóm 1 điều trị bằng phác đồ kháng sinh
chuẩn (cloramphenicol hoặc gentamycin), nhóm 2 điều trị bằng phác đồ
kháng sinh chuẩn, dùng thêm povidon iod 2,5%, 2hAần X 2 tuần. Đánh giá kết
quả dựa vào vị trí kích thước sự hiện diện của các vết loét và vùng giác mạc đã
lên sẹo sau khi điều trị 2- 4 tháng bằng phác đồ trên.
Kết quả cho th ấY ở 2 nhóm thí nghiệm, hiệu quả điều trị gần tương
đương nhau, nhóm 2 có tác dụng cao hơn nhóm 1. Mặc dù trong thử nghiệm
lâm sàng này, tuy chưa thấy rõ được lợi ích của việc thêm povidon iod vào
phác đồ kháng sinh chuẩn. Nhưng có thể dự đoán việc sử dụng một mình
Povidon iod hoàn toàn có thể cho kết quả tốt. ở nồng độ 2,5%, dung dịch
povidon iod có khả năng dung nạp tốt và ít tác dụng phụ hơn phác đồ kháng
sinh chuẩn.
> Thomas A. Ciulla và cộng sự [37] tiến hành nghiên cứu đánh giá việc
sử dụng các biện pháp phòng ngừa vi khuẩn tấn công trong phẫu thuật bệnh
đục thuỷ tinh thể. Thí nghiệm được chia ra thành nhiều nhóm, sử dụng các
của sụn, bên cạnh đó nó còn kích thích sự phát triển của tế bào sụn trong ống
nghiệm sau một thời gian nhất định. Kích thích tế bào phát triển 15 đến 30%
sau 72h.
> ưri Wormser [33] đã chỉ ra những lợi ích của việc dùng thuốc mỡ PI
điều trị các trường hợp bỏng. Khi bị rộp da do nhiễm hơi độc lò, bôi PI trong
vòng 20 phút sẽ có tác dụng bảo vệ da. Thuốc mỡ PI có hiệu quả tốt với các
chất độc như carboxybuthylcloroethyl sulfid và meclorethamin, bảo vệ da
khỏi quá trình oxi hoá của các chất acid iodoacetic, divinylsulfon và
cantharidin. Povidon iod có tác dụng giải độc bởi vì giúp da tránh khỏi sự tiếp
xúc trực tiếp với các tác nhân oxi hoá như gốc nitro hay gốc lưu huỳnh. Kinh
nghiệm điều trị với bệnh nhân bỏng nhiệt cho thấy sử dụng PI ngay sau khi
bỏng sẽ làm giảm kích ứng, từ đó giúp da tránh khỏi các thương tổn. Vì vậy
thuốc mỡ PI được giới thiệu như một tác nhân chống độc cho da có hiệu quả
bởi các hoá chất nguy hiểm và sự kích thích của nhiệt độ cao.
Trong một nghiên cứu khác, tác giả chỉ ra rằng thuốc mỡ Povidon iod
còn có tác dụng làm giảm hoạt động của các enzym phá huỷ collagen sinh ra
do nhiễm độc khí nitrogen. Khi da bị phồng rộp, sưng tấy do nhiễm độc, xuất
hiện các enzym tiêu protein, haỵ các enzym tiêu collagen có tên
metalloproteinase (MMP). Trong công trình nghiên cứu này vùng da tiếp xúc
với khí độc nitrogen được điều trị bằng thuốc mỡ PI và đánh giá tác dụng
chống lại các collagenase của thuốc mỡ PL Thí nghiệm tiến hành trên chuột.
Kết quả cho thấy MPP bị giảm nhanh chóng sau khi sử dụng PI trong vòng 15
phút. Tỷ lệ giảm từ 60 đến 88%. Như vậy thuốc mỡ PI sẽ giúp ngăn cản quá
trình phân huỷ protein, giúp vết thương không bị ăn sâu, hạn chế tổn thưcmg
của quá trình nhiễm độc [34]
Kết hçfp thuốc chống viêm với PI cho tác dụng tốt với vùng da bị tổn
thương do nhiễm độc lưu huỳnh. Kết quả thực nghiệm cho thấỵ sau khi sử
dụng chế phẩm có chứa PI 10%, piroxicam, clobetasol vào vùng da bị tổn
thương, làm giảm tình trạng loét biểu bì, giảm tỷ lệ hoại tử và có tác dụng làm
liền sẹo, đồng thời nó cũng làm giảm vùng da kế cận bị tổn thương do tiến
Trung Quốc
BP98
Acid boric
Trung Quốc
BP98
Natri dihydrophosphat
Trung Quốc
Tinh khiết hoá học.
Dinatri hydrophosphat
Trung Quốc
Tinh khiết hoá học
Glycerin
Trung Quốc
BP98
Benzalkonium clorid
Merck
USP24
Natri thiosulfat
Merck
USP24
Tween 80
Trung Quốc
BP98
Acid acetic
Trung Quốc
BP98
Natri hydroxy d
Trung Quốc
BP98
Natri clorid
0,4705 g
Dinatri hydrophosphat
1,976 g
Glycerin
1 g
Natri clorid 0,9 g
Nước cất pha tiêm vđ
100 ml
Điều chỉnh pH bằng dung dịch acid hydrocloric 0,1M nếu cần và pha chế theo
sơ đồ (Hl)
Hình 1: Sơ đồ các giai đoạn bào chế thuốc nhỏ mắt povidon iod 2,5%
Trình tự: đun nóng khoảng 70 ml nước nước cất lên 60 - 70°c, hoà tan
tá dược có trong công thức, cuối cùng cho dược chất, vừa cho vừa khuấy đều
đến khi tan hết. Bổ sung nước, điều chỉnh pH, thêm nước cho vừa đủ thể tích.
Lọc qua màng 0,2ju,m. Kiểm nghiệm bán thành phẩm rồi đóng lọ. Theo dõi và
đánh giá độ ổn định.
2.1.3.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ ổn định
của thuốc nhỏ mắt
- Ảnh hưcmg của pH đến độ ổn định của povidon iod
Pha các dung dịch thuốc nhỏ mắt PI 2,5% có các thành phần như CTq.
Lấy giá trị pH thay đổi từ 4 đến 6 để xét sự ảnh hưởng của pH đến độ ổn định
hoạt chất.
- Ảnh hưcmg của chất tăng độ nhớt
Sử dụng PVP để làm tăng độ nhớt của dung dịch. Các giá trị độ nhớt
tăng dần từ 3 (cps) đến 8 (cps).
- Ảnh hưởng của hệ đệm và nồng độ đệm: Sau khi đã lựa chọn được giá
trị pH và độ nhớt của dung dịch PI thích hợp, tiến hành nghiên cứu ảnh hưỏĩig
của một số hệ đệm với những nồng độ khác nhau tới độ ổn định của hoạt chất.
- Ảnh hưởng của chất diện hoạt: So sánh độ ổn định của một số dung
dịch PI 2,5% có thêm chất diện hoạt ion hóa (benzalkonium clorid) và không
2.1.3.3. Đánh giá tác dụng in vitro của chế phẩm nghiên cứu trên một số
chủng vi sinh vật
- Giống vi sinh vật kiểm định: do bộ môn Vi sinh - Sinh học trường Đại
học Dược cung cấp:
+ Vi khuẩn Gram (-):
Escheria Coli ATCC 25922 (EC)
Pseudomonas aeruginosa VM 201 (Pseu)
+ Vi khuẩn Gram (+)
Staphylococus aureus ATCC 1128 (Sta)