Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
A - LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu
thế chung. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra cơ hội cho các nền kinh tế,
vừa tăng sức ép cạnh tranh. Trong điều kiện đó, nỗ lực của một nền kinh tế về cải
cách, phát triển, tăng trưởng phải được so sánh với các nền kinh tế cạnh tranh khác
chứ không chỉ so với nền kinh tế của chính mình trong quá khứ. Những tiến bộ đạt
được trước đây rất đáng trân trọng, song mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, mỗi
ngành nghề phải tiến nhanh hơn các đối thủ cạnh tranh của mình để không bị tụt
hậu và thua thiệt trong kinh doanh.
Nước ta đang đứng trước những bước phát triển mới về hội nhập đòi hỏi phải
nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngành dệt may là một ngành quan
trọng trong cơ cấu nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là ngành dệt may Việt Nam cần
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thế giới. Để làm được
điều đó thì trước hết cần phải đánh giá được lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt
Nam ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam so với các
nước khác trong khu vực Asian như thế nào?
Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề này trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện
nay, tôi lựa chọn vấn đề “Phân tích và so sánh lợi thế cạnh tranh quốc gia của
Việt Nam đối với ngành dệt may trong khu vực ASIAN”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian hạn hẹp và hiểu biết còn
nhiều hạn chế, nên đề tài thảo luận không tránh khỏi các khuyết điểm. Rất mong
các ý kiến đóng góp của Quý thầy Cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn!
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trần Thị Hằng
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
1
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
B – NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
xuất những sản phẩm tinh vi đòi hỏi khả năng, kỹ năng nhân công cao mà không có
sự kiểm soát trên phạm vi rộng.
* Nguồn lực vật chất
Tính khả dụng, số lượng, chất lượng và giá trị đất đai, nước, khoáng sản và
các tài nguyên thiên nhiên khác thể hiện nguồn lực vật chất của một quốc gia. Quy
mô và vị trí của một quốc gia cũng được bao gồm trong phạm trù này bởi vì
khoảng cách gần thị trường và nguồn cung cấp cũng như chi phí vận chuyển được
xem là mối quan tâm chiến lược. Những nhân tố này rõ ràng là những lợi thế hoặc
bất lợi quan trọng đối với ngành công nghiệp phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên
nhiên.
* Nhân tố tri thức
Thể hiện sự hiểu biết của một lượng dân cư đáng kể liên quan đến thị
trường, khoa học, công nghệ của một quốc gia. Sự hiện diện của những nhân tố này
thường xuyên qua chức năng nghiên cứu của một số trường Đại học và viện nghiên
cứu của Chính phủ, tư nhân tại quốc gia đó. Những nhân tố này hết sức quan trọng
để đạt được thành công trong sản xuất sản phẩm và dịch vụ tinh vi, và được tiến
hành trong thị trường phức tạp.
* Nhân tố nguồn vốn
Các quốc gia thường thay đổi khả năng sử dụng, số lượng, chi phí và các
hình thức sử dụng vốn của các ngành công nghiệp quốc gia. Tỷ lệ tiết kiệm, lãi
suất, luật Thuế và thâm hụt ngân sách Chính Phủ của một quốc gia, tất cả đều tác
động đến khả năng sử dụng các nhân tố này. Lợi thế, đối với những ngành chi phí
vốn thấp thường tốt hơn những ngành khác ở những quốc gia với chi phí vốn tương
đối cao, đôi khi mang tính quyết định. Những hãng có chi phí vốn thấp có thể giữ
mức giá của họ thấp và buộc những hãng có chi phí vốn cao hoặc phải chấp nhận
lợi tức đầu tư thấp hoặc dời bỏ ngành kinh doanh.
* Nguồn lực về cơ sở hạ tầng
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
3
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
khi cầu nội địa mang lại cho các doanh nghiệp trong nước một bức tranh tốt hơn về
những nhu cầu của người mua vào thời gian đầu so với các đối thủ cạnh tranh nước
ngoài. Lợi thế này càng được thúc đẩy khi chính những người mua nội địa buộc các
doanh nghiệp quốc gia phải đổi mới một cách nhanh chóng và thường xuyên. Nền
tảng của lợi thế này bắt nguồn từ chỗ, khi các doanh nghiệp trở nên nhạy cảm hơn
và đáp ứng nhanh hơn nhu cầu nội địa và nếu nhu cầu ở thị trường nội địa phản ánh
hoặc mô phỏng trước nhu cầu thế giới thì các doanh nghiệp quốc gia có thể giữ vị
trí dẫn đầu trên thị trường.
Ba đặc tính cơ bản của nhu cầu nội địa ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh:
Phân khúc thị trường; Đặc tính khách hàng nội địa; Dự đoán nhu cầu.
- Phân khúc thị trường: Nếu có thị trường lớn thì có lợi thế về quy mô dẫn
đến có lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nếu có sản phẩm đáp ứng thị phần lớn
trong nước tạo cho doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm để xâm nhập vào
thị trường thế giới… và ngược lại.
- Đặc tính khách hàng nội địa: Nếu khách hàng nội địa có đòi hỏi cao, có
những yêu cầu bất thường về sản phẩm…điều đó tạo ra những áp lực lớn
cho doanh nghiệp buộc họ phải luôn luôn cải tiến và đổi mới sản phẩm,
do đó tạo ra lợi thế cạnh tranh.
- Dự đoán nhu cầu: Dự đoán nhu cầu đem lại lợi ích về cạnh tranh cho
doanh nghiệp trong trường hợp: Thị trường trong nước, nhu cầu nội địa
dự báo nhu cầu thế giới.
Quy mô và mô hình tăng trưởng cầu nội địa càng trở nên quan trọng khi kết
cấu cầu nội địa là phức tạp và phản ánh trước được nhu cầu bên ngoài.
Sự phát triển của nhu cầu nội địa phụ thuộc vào: số lượng khách hàng độc
lập, mức tăng trưởng của nhu cầu nội địa, nhu cầu nội địa ban đầu và mức độ dự
báo của nhu cầu nội địa ban đầu với nhu cầu thế giới, bão hòa sớm thị trường nội
địa và tăng trưởng thị trường nước ngoài.
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
5
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
những công nghệ để sản xuất ra chúng, với những co cấu quản lý và cơ cấu tổ chức
nhằm làm cho những ngành này trở nên mạnh hơn.
Thành công của một quốc gia trong một ngành nghề sẽ đạt được nếu nước đó
có lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành nghề có liên quan. Điểm nổi bật nhất là
những ngành quan trọng giúp đổi mới ngành nghề hoặc những ngành tạo nhiều cơ
hội để chia sẽ các hoạt động.
1.2.4 Cạnh tranh, cơ cấu và chiến lược của hãng
Đây là bối cảnh mà doanh nghiệp được tạo dựng, tổ chức và quản lý cũng
như tính chất của đối thủ cạnh tranh trong nước. Hệ thống quản trị của một quốc
gia thường có những nét đặc trưng riêng, phù hợp với một số ngành nghề nhất định.
Các khác biệt tập trung vào : Nền tảng và định hướng của các nhà lãnh đạo,
Phong cách lãnh đạo, sức mạnh cá nhân, công cụ để ra quyết định, bản chất mối
quan hệ với khách hàng, khả năng phối hợp và mối quan hệ giữa lao động với nhà
quản trị, quan điểm đối với các hoạt động quản trị. Các khía cạnh quốc gia có thể
ảnh hưởng đến bộ mặt quốc tế của doanh nghiệp.
Có lẽ tác động mạnh nhất đến lợi thế cạnh tranh là từ những cuộc cạnh tranh
khốc liệt trong nước. Cạnh tranh trong nước thúc đẩy tính năng động của ngành và
tạo ra áp lực tiếp theo cho việc cải tiến và đổi mới. Cạnh tranh khốc liệt khu vực
buộc các doanh nghiệp phải phát triển các sản phẩm mới, cải tiến các sản phẩm
hiện có, giảm chi phí và giá cả, phát triển công nghệ mới và cải tiến chất lượng và
dịch vụ. Cạnh tranh trong nước sẽ phải đấu tranh với nhau không chỉ vì thị phần mà
còn vì tài năng của nhân viên, vì những tiến bộ kỹ thuật mới của chương trình R&D
và uy tín trên thị trường nội địa. Cuối cùng, cạnh tranh nội địa mạnh mẽ sẽ đẩy các
hãng tới việc tìm kiếm thị trường quốc tế để hỗ trợ cho việc mở rộng quy mô và
đầu tư R&D. Việc thiếu vắng các cuộc cạnh tranh đáng kể sẽ tạo ra sự tự bằng lòng
với bản thân của các doanh nghiệp nội địa và cuối cùng gây hậu quả làm cho các
doanh nghiệp trở nên phi cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
7
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
vai trò của Chính phủ trong cạnh tranh quốc tế. Vai trò thực sự của Chính phủ trong
lợi thế cạnh tranh quốc gia nằm ở tác động của nó lên bốn nhân tố quyết định trên.
Chính phủ có thể tác động lên bốn nhân tố kia theo hướng tích cực hoặc tiêu
cực. Chính phủ tác động đến các điều kiện về cầu, vừa gián tiếp thông qua chính
sách tài chính và chính sách tiền tệ, lại trực tiếp thông qua vai trò vốn có của nó
như là người mua các sản phẩm và dịch vụ. Chính phủ tác động lên các nguồn lực
như là người ban hành các chính sách về lao động, giáo dục, phát triển vốn, các
nguồn tài nguyên thiên nhiên và tiêu chuẩn sản phẩm. Chính phủ tác động tới cạnh
tranh và môi trường cạnh tranh bởi vai trò của nó như là người ban hành các quy
định về thương mại. Bằng cách tăng cường những yếu tố quyết định trong những
ngành mà tại đó một quốc gia có lợi thế cạnh tranh, chính phủ cải tiến khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp quốc gia. Mặt khác, chính phủ có thể cải tiến hoặc
làm yếu đi lợi thế cạnh tranh nhưng chính phủ không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Chính phủ có tác động quan trọng lên lợi thế cạnh tranh quốc gia song hiển
nhiên vai trò này chỉ là một phần nào đó. Nếu chỉ có chính sách của chính phủ làm
nguồn lực duy nhất trong lợi thế cạnh tranh quốc gia thì chính sách sẽ thất bại.
Chính sách của chính phủ chỉ thành công trong những ngành nghề đã có sẵn những
nhân tố quyết định tiềm ẩn và lúc đó các chính sách chỉ làm nhiệm vụ cũng cố các
nhân tố đó. Có vẽ như Chính phủ chỉ có thể thúc đẩy lợi ích của việc giành được lợi
thế cạnh tranh nhưng thiếu khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh đó.
Những nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh quốc gia cho phép mỗi một công ty,
trong những ngành nhất định sẽ tìm kiếm và xây dựng được lợi thế riêng biệt để
đảm bảo sự thành công trên thị trường quốc tế. Đó cũng là cơ sở để lựa chọn chiến
lược cạnh tranh mà công ty sẽ áp dụng trên thị trường quốc tế.
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
9
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
II. LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH DỆT
MAY VIỆT NAM
tranh quốc gia. Nhưng trong bài thảo luận này, trên giác độ đánh giá lợi thế cạnh
tranh quốc gia ảnh hưởng đến ngành dệt may tôi chỉ đánh giá các nhóm nhân tố
sau:
+ Những lợi thế cạnh tranh quốc gia đã có:
- Nhân tố nguồn lực
- Tác động của Chính phủ
+ Những nhân tố đang yếu cần phát triển hơn nữa để trở thành lợi thế cạnh
tranh quốc gia:
- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có mối tương quan
- Ảnh hưởng của các cơ hội
2.2.1 Những lọi thế cạnh tranh quốc gia đã có
2.2.1.1 Nhân tố nguồn lực
* Về nguồn nhân lực:
Tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người, tăng
9,47 triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%). Tỷ lệ tăng dân số bình
quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm
trước và là tỷ lệ tăng thấp nhất trong vòng 50 năm qua. Như vậy, Việt Nam là nước
đông dân thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trong tổng số các nước
đông dân nhất thế giới. Với quy mô lớn và tốc độ tăng tương đối cao về dân số Việt
Nam có lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực.
Theo dự báo của ILO, đến năm 2015 ASEAN sẽ có thêm 55 triệu lao động
mới (tăng 19,8% so với mức năm 2007), nhưng mức tăng mạnh nhất vẫn ở các
quốc gia kém phát triển hơn như Lào, Campuchia và Philippines… Trong khi đó,
lực lượng lao động của Thái Lan, Singgapore dự đoán chỉ tăng 1%/năm. Singapore
và Thái Lan tiếp tục phải đối diện với tình trạng thiếu lao động trầm trọng. Do đó,
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
11
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Việt Nam có lợi thế cạnh tranh quốc gia về nguồn nhân lực dồi dào hơn so với
Singgapore và Thái Lan.
dân số - kế hoạch hóa gia đình nhận định. Do đó, Việt Nam đang mất dần lợi thế
cạnh tranh do hiện đang có cơ cấu dân số vàng. Mặt khác, đối mặt với hiện tượng
già hóa dân số là kèm theo rất nhiều vấn đề về an sinh cho những người già trong
khi Việt Nam chưa giàu, đang tập trung phát triển kinh tế. Điều này không chỉ tác
động làm mất dần lợi thế cạnh tranh mà còn kìm hảm lợi thế khác.
Giá nhân công Việt Nam đang nhích dần lên đồng thời năng suất lao động và
sức cạnh tranh của Việt Nam cũng đang giảm dần: không thể cạnh tranh bằng nhân
công rẻ khi mức lương tối thiểu tăng nhanh hơn 20% trong hai năm gần đây -
không một nước nào trong vùng có mức tăng lương nhanh như thế. Năng suất lao
động của công nhân Việt Nam chỉ bằng 70 – 80% so với Trung Quốc. Thêm vào
đó, lực lượng lao động Việt Nam không tuân theo quy trình pháp lý khi muốn đàm
phán về phúc lợi và lương bổng với ban điều hành doanh nghiệp Điều này ảnh
hưởng không ít đến sản xuất của ngành dệt may nói riêng và Việt Nam nói chung.
Hiện Indonesia đang là đối thủ cạnh tranh rất lớn về nhân lực đối với Việt
Nam. Mặc dù giá nhân công cả hai nước gần như bằng nhau, nhưng điểm mạnh của
Indonesia là lực lượng lao động ổn định, năng suất cao và giá đất thấp hơn Việt
Nam. Ngoài ra, Indonesia còn có lực lượng doanh nghiệp địa phương hùng hậu sản
xuất các mặt hàng vải nguyên liệu, dệt kim rất dồi dào, bên cạnh thế mạnh là tay
nghề thành thạo của công nhân
* Về nguồn lực vật chất:
Nguồn lực vật chất ảnh hưởng nhiều mặt tới nguồn lực đầu vào của doanh
nghiệp và ảnh hưởng đến hoạt động Marketing trên thị trường. Đây là yếu tố vừa
tạo nên thuận lợi vừa đưa đến những khó khăn đối với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Việt Nam có sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên.Ở trình độ phát triển kinh
tế như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng. Việt Nam có khoảng 8,0 triệu
ha đất nông nghiệp, bao gồm đất ở đồng bằng, ở các bồn địa giữa núi, ở đồi núi
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
13
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Mục tiêu chiến lược của ngành Dệt may đặt ra đến năm 2010 là phải đạt sản
lượng 20.000 tấn bông xơ, năm 2015 đạt 40.000 tấn. Tuy nhiên hiện nay, diện tích
trồng bông tại Việt Nam lại trông không đồng đều, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên
(42%), vùng duyên hải miền Trung (33%), miền Bắc (20%) và Đông Nam bộ (5%).
Theo thống kê cho thấy trong niên vụ niên vụ 2007-2008 diện tích trồng bông trên
cả nước là 7.446ha cho sản lượng 2.709 tấn, đến niên vụ 2008-2009 diện tích trồng
bông giảm mạnh còn dưới 3.000 ha. Ngành dệt may đã khuyến khích và quy hoạch
tăng thêm diện tích trồng bông. Theo kết hoạch niên vụ 2009-2010 ước đạt khoảng
10.000 nghìn tấn. Tuy vậy con số này vẫn còn xa với mục tiêu 20.000 tấn ngành đã
đặt ra.
Mặc dù ngành Dệt may đã có kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu và có
chính sách hỗ trợ giá cho nông dân, nhưng vấn đề giá còn rất nan giải. Nếu giá thấp
hơn so với các cây trồng khác sẽ khó khuyến khích được nông dân tham gia trồng
bông, và mục tiêu 1 tỷ mét vải vào năm 2010 sẽ còn gặp nhiều khó khăn và thách
thức. Và như vậy, thách thức tiếp theo của ngành Dệt may là phải làm thế nào tạo
được vùng nguyên liệu ổn định, không bị phụ thuộc vào nước ngoài như hiện nay.
* Về nhân tố nguồn vốn và tri thức:
Với đặc thù kinh doang của mình ngành dệt may Việt Nam có vốn đầu tư
không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh. Mặt khác yêu cầu về trình độ tri thức của
lao động không cao nên điều này là một lợi thế cạnh tranh quốc gia rất lớn của
ngành may mặc Việt Nam.
*Về cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong những năm gần đây đang dần được cải
thiện và nâng cao. Hệ thống Ngân hàng đã rộng khắp, phục vụ có chất lượng và uy
tín; hệ thống giao thông vận tải ngày một mở rộng, phục vụ tốt nhu cầu; hệ thống y
tế đâ mở rộng, các chi nhánh về tận tuyến huyện, xã, thôn; hệ thống thông tin liên
lạc hiện đại, rộng khắp đến tận vùng sâu vùng xa, hải đảo của Tổ quốc…
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
15
16
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Cămpuchia đã từng tăng trưởng 10% năm 2007, đến nay, theo dự báo của WB chỉ
còn 1%. Cămpuchia tăng trưởng mạnh nhờ 80% kim ngạch thu được từ xuất khẩu
quần áo giá rẻ sang Mỹ. Nhưng khi kinh tế Mỹ suy thoái, chỉ trong mấy tháng (từ
tháng 9/2008 đến đầu năm 2009), 50.000 công nhân may (tức 17% lao động) mất
việc làm. Tôi nêu ví dụ này để thấy, riêng trong ngành dệt may, tác động của cuộc
khủng hoảng là rất lớn. Tuy nhiên, đối với Việt Nam (Năm 2009, theo báo cáo của
Tập đoàn dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đứng
đầu cả nước với 9,1 tỷ USD. Đây được đánh giá là một hiện tượng đặc biệt trong
khi xuất khẩu hàng dệt may của các nước trên thế giới giảm trung bình 10%. Dệt
may Việt Nam dẫn đầu khu vực về tăng trưởng) thì đây lại là một cơ hội lớn và nếu
biết tận dụng đúng cách thì sẽ giúp ngành Dệt may nói chung và Việt Nam nói
riêng phát triển lên một tầm cao mới. Thời điểm nền kinh tế thế giới đang lâm vào
tình trạng suy giảm lại chính là cơ hội để chúng ta xác định rõ vị thế của mình
trong mạng lưới kinh tế toàn cầu, thực hiện chính sách tái cấu trúc nền kinh tế, bao
gồm tái cấu trúc nội bộ các ngành kinh tế, cơ sở hạ tầng, khu vực kinh tế, cơ cấu
đầu tư nhằm chuẩn bị điều kiện phát triển bền vững trong dài hạn. Chuyển mục
tiêu tăng trưởng kinh tế từ số lượng sang chất lượng.
Việt Nam có một nền chính trị ổn định, an ninh – quốc phòng vững mạnh,
không có các cuộc chiến tranh hay đảo chính. Đây chính là môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các ngành nói chung và ngành dệt may nói riêng phát triển bền vững.
So với Thái Lan hiện đang có sự mất ổn định chính trị trong nước và thiếu các
chính sách để cải thiện lâu dài của kinh tế cơ bản thì việc giữ vững ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội là một thế mạnh, là một trong những lợi thế cạnh
tranh quốc gia của Việt Nam.
2.2.1.3 Tác động của Chính phủ
Phải nói rằng, ngành dệt may Việt Nam là ngành được Chính phủ rất quan
tâm. Điều này không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao, tỷ trọng lớn trong kim ngạch
xuất khẩu mà quan trong hơn cả là đã tạo ra trên 2 triệu chỗ làm với 6 triệu người
riêng.
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
18
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
2.2.2 Những nhân tố đang yếu cần phát triển hơn nữa để trở thành lợi thế cạnh
tranh quốc gia
2.2.2.1 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có mối tương quan
Ở Việt Nam, các xí nghiệp sản xuất phụ liệu cho ngành dệt may cũng phát
triển khá nhanh. Hàng loạt nhà máy sản xuất: chỉ, khóa kéo, khuy áo, tấm bông lót,
bao bì đáp ứng 60% nhu cầu cho ngành dệt may.
Một điều đáng nói với ngành Dệt may Việt Nam là đã có thể xuất khẩu được
nguyên phụ liệu. Kim ngạch xuất khẩu sợi các loại có tốc độ tăng trưởng rất lớn, tới
70% so với năm trước. Các loại phụ liệu như dây khóa kéo, cúc…, trước đây Việt
Nam phải nhập khẩu, giờ đã XK được ra thế giới.
Ngành Dệt may Việt Nam đã liên doanh với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt
Nam đầu tư 320 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất xơ pô-li-ét-xte ở Ðình Vũ
(Hải Phòng), công suất 160 nghìn tấn/năm. Dự kiến, tháng 5-2011, nhà máy này sẽ
đi vào hoạt động, giải quyết được 40% nhu cầu của ngành dệt, giảm khoảng 300
triệu USD tiền nhập xơ từ nước ngoài, đồng thời tăng tỷ lệ nội địa hóa từ 3% đến
5%. Cùng với xây dựng Nhà máy sản xuất xơ Fomosa (Ðài Loan) tại KCN Nhơn
Trạch, công suất 60 nghìn tấn/năm, việc cung cấp xơ cho ngành dệt về cơ bản sẽ
đáp ứng đủ.
Ngành Dệt may cũng đã quan tâm chú trọng vào việc phát triển, “hồi sinh”
cây bông – một nguyên liệu chính cho quá trình sản xuất của ngành. Hiện nay, với
hỗ trợ của Chính phủ và nỗ lực to lớn của ngành, số diện tích trồng bông có chất
lượng đã ngày một tăng lên, dự kiến nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 50% (năm 2012) và
70% (năm 2017).
Nhu cầu sử dụng nguyên phụ liệu trong nước của ngành dệt may là khá lớn.
Chính vì vậy, nhằm đẩy mạnh việc cung cấp nguyên liệu bông, xơ sản xuất trong
nước, từng bước đáp ứng nhu cầu bông, giảm nhập siêu, tạo điều kiện để ngành dệt
cầu về chất lượng, mẫu mã, sản lượng, diện tích trồng bông trong nước còn ít; một
số nguyên, phụ liệu trong nước khác đã sản xuất được thì giá thành lại không thấp
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
20
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
hơn sản phẩm nhập khẩu mà chất lượng lại không ổn định. Bên cạnh đó, còn do giá
thành của hàng trong nước cao hơn 5% so với hàng nhập khẩu cùng chủng loại, mà
nguồn hàng lại không ổn định
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
21
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC
GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY TRÊN THỊ TRƯỜNG
QUỐC TẾ
Tuy xét về lợi thế cạnh tranh quốc gia Việt Nam có nhiều lợi thế so với các
nước trong khu vực ASIAN về ngành may mặc, nhưng những lợi thế đó cần phải
được khai thác một cách triệt để, cần phải có những kế hoạch và giải pháp cụ thể để
nâng cao, gia tăng hơn nữa lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam trong khu vực
ASIAN và trên toàn thế giới.
3.1 Định hướng phát triển ngành Dệt may Việt Nam
Với mục tiêu phát triển ngành Dệt - May trở thành một trong những ngành
công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu
tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh,
hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.
3.2 Một số giải pháp cụ thể
3.2.1 Thu hút vốn đầu tư
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển
ngành Dệt - May để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Xây dựng các dự án đầu tư trong lĩnh vực dệt, nhuộm, sản xuất nguyên liệu
bông xơ và sợi nhân tạo, sản xuất nguyên phụ liệu, để kêu gọi các nhà đầu tư trong
chuẩn nguyên liệu, sản phẩm tiêu chuẩn môi trường và lao động).
- Liên kết với các tổ chức quốc tế để cử cán bộ, học sinh tham gia các khoá
đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật, cán bộ bán hàng, đào tạo
công nhân kỹ thuật có tay nghề cao tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài.
- Kết hợp việc đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo
chính quy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra
nước ngoài để đào tạo.
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
23
Thảo luận Marketing quốc tế Khoa Quản Trị Kinh Doanh
- Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt - May, xây dựng
Trường Đại học Dệt - May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai
các lớp đào tạo.
- Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, công nhân
thông qua hệ thống các trường chuyên nghiệp của ngành Dệt - May nhằm cung cấp
đủ nguồn nhân lực cho ngành. Hiệp hội Dệt - May Việt Nam và Tập đoàn Dệt -
May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và
ngoài nước triển khai Chương trình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành.
- Chính phủ cần sửa đổi Bộ luật Lao động sao cho phù hợp với việc ưu tiên
triển khai mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
3.2.3 Giải pháp thị trường
Tập trung mọi khả năng và cơ hội đàm phán mở rộng thị trường dệt - may
trên thị trường quốc tế. Cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải
quan, xuất nhập khẩu theo hướng thực hiện cơ chế một dấu, một cửa, đơn giản hoá
các thủ tục.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, trốn
thuế, gian lận thương mại.
Tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế. Chuẩn bị kỹ việc
chống các rào cản kỹ thuật mới của các nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp xuất
khẩu.
cứu, các Trường đào tạo trong ngành Dệt - May Việt Nam để tăng cường cơ sở vật
Sinh viên : Trần Thị Hằng Lớp QTMA – K10
25