TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TÊ VÀ
KINH
DOANH
QUỐC
TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TẾ
Đối
NGOẠI
. „.***
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Đề tài:
LỢI THÊ CẠNH TRANH QUỐC GIA
CỦA NGÀNH DU
LỊCH
VIỆT NAM
L ^3
Sinh viên thực hiện
:
Hà Minh Ngọc
Nations
Hiệp
hội
các quôc
gia
Đông
Nam
Á
FDI
Foreign
Direct
Investment
Đầu
tư
trực
tiếp
nước ngoài
GDP
Gross Domestic
Product
Tổng
sản
phẩm
quốc
nội
roi
Iníormation and
Communication
Technology
Development
họp,
khen
thưởng,
hội
nghị,
hội
thảo
và
triặn
lãm
ODA
Official
Development
Assistance
Hô
trợ
phát
triên
chính
thức
SARS
Severe
Acute
Respiratory
Syndrome
Hội
chứng
hô hấp
cấp
tính
Nations
World Tourism
Organization
Tổ
chức
Du
lịch
Thặ
giới
VASCO
Viet
Nam
Air
Service
Company
Công
ty
Bay
dịch
vụ hàng không
VÁT
Value
added
tax
Thuê giá
trị
gia
tăng
VNPT
Viet
MỤC
KÍ
HIỆU
VIẾT
TẮT
DANH
MỤC BẢNG
BIỂU, HÌNH
VẼ
LỜI
MỞ
ĐÀU
Ì
CHƯƠNG ì
MỘT SÒ VẤN ĐÈ LÝ
LUẬN
VỀ
LỢI
THÊ CẠNH TRANH QUỐC GIA
CỦA NGÀNH
DU
LỊCH
VIỆT
NAM 4
ì. Một
sợ
khái niệm cơ bản
4
Ì. Cạnh
tranh
Porter
14
Ì.
Tư
tưởng
chung
14
2.
Mô
hình kim cương
và
các nhân
tố
quyết
định
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
của
ngành du
lịch
18
III.
Tính
tất
yếu
phải
Nam
theo
mô
hình kim cương của
M.
Porter
33
Ì.
Điều
kiện
các
yếu
tố
sản
xuất
của
ngành du
lịch
33
ỉ.1. Nguồn
tài nguyên thiên nhiên
33
1.2. Nguồn
tài nguyên nhân
văn
36
1.3. Nguồn
vốn và cơ sở hạ
tầng
38
của
các
doanh
nghiệp
du
lịch
Việt
Nam 51
5.
Vai
trò
của
cơ
hội
55
6.
Vai
trò
của
Chính
phủ
58
li.
Đánh giá
việc
phát
huy
lọi
thế
cạnh
lịch
67
2.2.
về
công tác kích cầu
du
lịch
69
2.3.
về
mối
liên kết giữa
du
lịch với các ngành
hỗ
trợ và Hên quan
69
2.4.
về
cơ
chế quản lý hoạt động du lịch
71
2.5.
về
hoạt động xúc tiến
du
lịch
72
CHƯƠNG ni
MỘT SÒ
ỉ. 1. Thị trưểng quốc tế
74
1.2.
Thị trưểng Việt
Nam 75
2.
Định
hướng
và
mục
tiêu phát
triển
ngành du
lịch
đến
năm
2010,
tầm
nhìn
2020
76
2.1. Định hướng
tổng quát
7(5
2.2.
Mục
tiêu phát triển
du
lịch Việt
Nam 77
đối với
điều
kiện
về cầu
84
3. Nhóm
giải
pháp
đối với
các
ngành
hỗ
trợ
và
liên
quan
86
4. Nhóm
giải
pháp
đối với
chiến
lược,
cơ
cấu
và
cạnh
tranh
ngành
89
2008
tr.
39
Bảng
2.1: Thống
kê cơ sở lưu
trú
ở
Việt
Nam năm
2008
tr.
40
Biểu
đồ 2.2:
Chất lượng
đào
tạo
của nguồn
nhân
lực
du
lịch Việt
Nam
tr.
42
Bảng
2.2: Đánh giá năng
lực
cạnh
ti lợi
thế
cạnh
tranh
của
ngành du
lịch Việt
Nam
tr.
60
Biểu
đồ
3.1: Lượng
khách du
lịch
quốc
tế
đến
Việt
Nam
giai
đoạn
1995-2008
ừ. 61
Bảng
3.1:
FDI vào
lĩnh
vực du
lịch
Quảng
Nam
tr.
88
LỜI
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp
thiết
của đề tài
Ngày
nay,
du
lịch
đã
trở
thành
hiện
tượng
kinh tế
-
xã
hội
phổ
biến
trên
phạm
vi
toàn cầu và có xu
hướng
phát
tế
- xã
hội.
Ngành du
lịch Việt
Nam
tuy
được đánh giá là còn non
trẻ
so
với
ngành du
lịch
của các nước
trong
khu vậc nhưng đã có
những
tiến
bộ
nhất
định
và đóng góp đáng kể vào công
cuộc
phát
triến
kinh tế
và
tiến
bộ xã
hội
và Nhà nước chú
trọng
phát
triển,
nâng cao
chất
lượng
sản
phẩm du
lịch,
mở
rộng
quy mô
hoạt
động
theo
chủ trương đã nêu
ra từ đại hội
IX là "phát
triển
du
lịch
thực sự
trở
thành ngành kinh
tế
mũi nhọn".
Tuy đạt
được
những
cũng đặt
ra
không
ít
khó khăn, thách
thức với
ngành du
lịch Việt
Nam. Để
tồn
tại
trong
môi trường
quốc
tế
khắc
nghiệt,
cạnh
tranh với
những
ngành du
lịch
phát
triển
trong
khu vậc và trên
thế
giới,
vấn đề
đặt ra
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
mới và tìm cách
khắc phục
những bất
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
của
ngành.
Chỉ
bằng
cách
đó,
ngành du
lịch Việt
Nam mới có
thể
phát
triển
trong
dài hạn và
bắt
nhiên,
nhận
thức
về
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
của ngành du
lịch
còn khá hạn chế
với
số đông
người
dân và tư
tưởng
"rừng
vàng
biẫn
bạc"
cùng tư duy phát
triẫn
ngành du
lịch
chỉ
dựa trên
khai
thác một
tranh
quốc
gia
của
ngành du
lịch
Việt
Nam là gì và làm
thế
nào đẫ tác động nâng cao
những
lợi
thế
cạnh
tranh
đó.
Những câu
hỏi
cấp
thiết
này chính
là
nguyên nhân đẫ em
chọn
đề
tài
"Lợi
thế cạnh tranh quốc gia của ngành du
lịch Việt
Nam" làm đề tài khóa
tới
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
của ngành du
lịch Việt
Nam,
từ
đó đánh giá
thực
trạng
của
việc
phát huy
những
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
của
ngành.
Đề
xuất
một số
giải
nghiên cứu của khóa
luận
là
lợi
thế cạnh
tranh
quốc
gia
của
ngành du
lịch Việt
Nam và các
yếu
tố
cấu
thành.
Thời
gian:
Nghiên cứu sự phát
triẫn
của ngành du
lịch Việt
Nam
trong
giai
đoạn
từ
năm 1990 đến
nay.
-2-
hợp so
sánh để đưa
ra
các
đánh
giá,
nhận
định.
5. Kết cấu khóa
luận
Ngoài các
phần
mở đầu và
kết luận,
khóa
luận
được bố cục thành 3
chương:
Chương 1: Một số vẩn đề
lý
luận về
lợi
thế cạnh tranh quốc gia của
ngành du
lịch Việt
Nam
Chương 2: Phân
tích
lợi
thế cạnh tranh quốc gia của ngành du
Em
mong
nhận
được
những
góp
ý,
phê bình của
thầy
cô và bạn bè để khóa
luận
được hoàn
thiện
hon và
cũng
là để có thêm
luận cứ,
cơ sở để
tiếp
tục
nghiên cứu sâu
hơn,
toàn
diện
hơn nữa về vấn đề
này
trong
thời
gian
tới.
gian
qua.
Em
xin
chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2009
Sinh
viên
Hà
Minh
Ngọc
-3-
CHƯƠNGì
MỘT
SỐ VÁN ĐÈ LÝ
LUẬN
VÈ LỢI THẾ
CẠNH TRANH
QUỐC
GIA
CỦA
NGÀNH
DU
LỊCH
VIỆT
NAM
ì. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Cơ BẢN
1.
Cạnh
tranh
khái
niệm
mang
tính
ganh
đua,
hơn
thua.
K.
Marx
đã
định
nghĩa cạnh
tranh
như
là "sự
ganh
đua, đấu
tranh
gay
gắt giữa
các nhà tư bản nhằm dành
giật
những điều
kiện
thuận
lợi
trong
sản
xuất
tranh
là
tăng năng
suất
lao
động,
trong
xí
nghiệp
và
trong
toàn xã
hội [19].
Ở phạm
vi
cạnh
tranh
quốc
gia,
M.
Porter
nhấn
mạnh
tính
cạnh
tranh
phụ
thuộc
vào
năng
cạnh
tranh,
trong
đó
nhân
tố
công
nghệ,
nhân
lực
và
phương
thức
sản
xuất
đóng
vai
trò
thiết
yếu.
Trong
bối
cảnh
nền
kinh tế hiện đại
ngày
này,
khái
niệm
cạnh
hoặc
mới
lạ
hơn
đối
thủ
đế họ có
thể
lựa chọn
mình
mà
không đến
với
đối thủ
cạnh
tranh.
Nói
theo
cách của
M.
Porter
thì cạnh
tranh
không
đơn
-4-
thuần
là vươn lên vị trí
tốt nhất theo
cách
kinh
tế thị
trường,
các
doanh
nghiệp
nói riêng và các
quốc
gia
nói
chung
phải
chấp nhận cạnh
tranh
như là
lựa
chọn
duy
nhất.
Do
đó, cạnh
tranh
chính là một
trong
những
quy
luật
cơ bản và động
lực
phát
tương
quan
về sức
cạnh
tranh
của một sản phẩm hay nhóm sản phẩm so
với
các sản phẩm hay nhóm sản phẩm cùng
loại
trên
thị
trường.
Một sản phàm
hay
nhóm
sản
phẩm có
thể
được tiêu
thụ
mạnh
hơn do
những
ưu
thế
về giá
cả,
chất
lượng
sản
nghiệp
được
coi
là có sức
cạnh
tranh khi
nó có
thể
đứng
vững
trên
thị
trường
bằng
cách
sản
xuất ra
những
sản
phẩm tương
tự với
mức giá
thấp
hơn hay
cung
cấp các
sản
phẩm tương
tự với
các đặc tính về
cải
thiện
được
hoạt
động của nó. Lợi ích mà một
doanh
nghiệp
đạt
được
trong
cạnh
tranh
sẽ không tránh
khỏi việc
gây
ra tổn
thất
cho
doanh
nghiệp
khác là
đối thủ
cạnh
tranh
của
nó.
Cạnh
tranh
của một
-5-
bối
cảnh
hội
nhập
toàn
cầu
hóa
hiện nay,
cạnh
tranh
được
biết
đến phô
biến
hơn ở phạm
vi
toàn
cầu,
tức
là
cạnh
tranh giữa
các
quốc
gia.
Nêu ở cáp
độ
cạnh
tranh giữa
các
Krugman,
1994)
cho
rằng
không
tồn
tại
khái
niệm
cạnh
tranh
quốc
gia.
Một số các nhà
kinh
tế
khác (M.
Porter,
1990)
tìm cách phân
biệt
giữa
cạnh
tranh
doanh
nghiệp
và
cạnh
tranh
quốc
thằ hiện
qua
việc
nâng cao
mức
sống
dân cư
bằng
cách
tạo
ra môi trường
kinh
doanh
hiệu
quả nhằm
khuyến
khích các
doanh
nghiệp
nâng cao năng
suất
trong
môi trường
đó. [29]
Tóm
lại,
dù ở cấp độ
sản
phẩm,
doanh
phương
pháp;
gồm
sản
phẩm
mới,
phương
thức
sản
xuất
mới, chiến
lược
tiếp
thị mới,
nhận
diện
khách hàng mới và
những
hoạt
động tương
tự.
Schumpeter
(1942),
từ cách đây
nhiều
thập
kỷ,
trong
cuốn
Capitalism,
tiến
và
đổi
mới
trong
một ngành
nghề
nào đó là một quá trình không bao
giờ kết
thúc,
chứ
không
phải
là
một sự
kiện
riêng
lẻ
chỉ xảy
ra
một
lần
duy
nhất.
-6-
2.
Lợi thế
cạnh
tranh
quốc
phữi
phân
biệt
và
thấy
được sự
tương
quan
giữa
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia với
một khái
niệm
liên
quan
mật
thiết
tới
nó nhưng thường xuyên
bị
nhầm
lẫn,
đó
là
khái
niệm
là sự
thể hiện
tính ưu
việt
hay tính
vượt
trội
về cữ định tính và định
lượng.
Nói
theo
cách
khác,
cạnh
tranh giữa
các
sữn
phẩm
trên
một
thị
trường
là quá trình
thể hiện
khữ năng hấp dẫn tiêu dùng của các
sữn
phẩm
đối với
khách hàng trên một
thị
gia,
các
doanh
nghiệp.
Ở cấp độ
doanh
nghiệp,
năng
lực
cạnh
tranh
có
thể
được
hiểu
là khữ
năng nắm
giữ thị
phần
nhất
định
với
mức độ
hiệu
quữ chấp nhận
được
[12].
Xét ở góc độ
ngành,
một ngành
đủ
quyết
định năng
lực
cạnh
tranh
của
một ngành
kinh tế phữi
kể
tới
bao
gồm
lợi
thế
so sánh
của
ngành và môi trường
kinh
doanh của
ngành đó.
Các
yếu
tố
này
sẽ
tác động nâng
cao
lợi
thế
lợi thế
cạnh tranh
của ngành
chính
là kết
quả của
việc
nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh
nội
tại
của
ngành,
cũng
là
thước
đo cụ
thế
cho
khả năng cạnh
tranh
của ngành đó thông qua
sự
vượt
trội
về
lịch
và ngành du
lịch
Trước
khi
tiếp
cận
với
lý
thuyết lợi
thế cạnh
tranh
quốc gia
của M.
Porter
dưới
góc nhìn của ngành du
lịch,
chúng
ta
cần nắm được
những
hiếu
biết
cơ bản
nhất
về
dịch
vụ du
lịch
từ nhiều
góc độ
tiếp
cận
khác
nhau.
Theo
cách định
nghĩa của
Giáo trình
Kinh
tế
du
lịch,
dịch
vụ du
lịch
là
"kết
quả
mang
lại
nhờ các
hoạt
động tương tác
giữa
những
tổ
chức cung
ứng
là
hoạt
động có
liên
quan
đến
chuyến
đi của con
người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm đáp ứng nhu cầu
tham quan,
tìm
hiểu,
giải
trí,
nghỉ
dưỡng
trong
một khoảng
thời
gian
nhất
định".
Còn
dịch
vụ du
lịch
là
"việc
• Xét
theo
hình thái
vật chất
Dịch
vụ du
lịch
được phân thành 2
loại:
dịch
vụ du
lịch
hàng hóa
(thức
ăn,
quà lưu
niờm,
vận
chuyển )
và
dịch
vụ du
lịch phi
hàng hóa (hướng dẫn,
thăm
quan, tổ chức
trò
chơi,
tư
vấn
sản
phẩm
dịch
vụ du
lịch.
• Xét
theo
cơ
cấu
tiêu dùng
Dịch
vụ du
lịch
được
chia
làm 2
loại:
Dịch vụ cơ bản và
dịch
vụ bổ
sung.
-
Dịch
vụ du
lịch
cơ
bản:
Bao gồm các
dịch
vụ ăn
giải
trí,
mua sắm hàng
hóa.
Đó
là
những
nhu
cầu
phải
có nhưng không
thật
cần
thiết
lắm
so
vỷi
loại
hình du
lịch
trên,
và nó không
định
lượng
được.
Quan
hệ
tỷ
lệ giữa
2
này càng nhỏ thì
hiệu
quả
tổng
hợp
của
kinh
doanh
du
lịch
ngày càng
cao.
Tức
là tỷ
lệ
nhu yếu
phẩm ngày càng
nhỏ,
khách du
lịch
ngày càng
giàu,
du
lịch
càng phát
triển
và
kinh
doanh
càng
do đơn
vị
kinh
doanh
du
lịch
trực
tiếp
làm, ví
dụ như
dịch vụ
tại
các
nhà
hàng,
khu nghỉ
biển,
bể
tắm
hơi
-
Dịch
vụ
gián tiếp:
Là
dịch
vụ du
lịch
không do đom
vị kinh
vụ khách
hàng nhưng
đại
lý du
lịch
đóng
vai
trò
rất
quan
trọng
như: nghiên cứu
thị
trường
du
lịch,
chức
hình thành các
sản
phẩm du
lịch,
tuyên
truyền,
quảng
cáo
các
loại
hình du
lịch
đã hình
nội
dung
Dịch
vụ du
lịch phải thỏa
mãn bốn yêu cầu của khách là đi
lại,
nghỉ
ngơi,
vui
chơi,
ăn
uống
và làm
việc.
Tương ứng bốn yêu cầu này là bốn
loại
dịch
vụ
phục
vụ khách
hàng.
Đây
là
cách phân
loại
quan
trọng nhửt, xuửt
phát
từ
vụ du
lịch
• Khách
sạn
và nhà hàng
Kinh
doanh
khách sạn là công
đoạn
phục
vụ khách du
lịch
để họ hoàn
tửt
chương trình du
lịch
đã
lựa
chọn.
Thuật
ngữ
"kinh
doanh
khách
sạn"
được
hiểu
là "làm
nhiệm
vụ đón
hoạt
động
kinh
doanh
khác như ăn
uống,
vui
chơi
giải
trí,
bán hàng cho khách du
lịch
Hiện
nay trên
thế
giới
tửt
cả các
quốc gia
đều có khách sạn và
kinh
doanh
khách
sạn,
đặc
biệt
là ở
những quốc gia
có nền
kinh
lịch
muốn
đề cập đến các
hoạt
động chính như "làm
nhiệm
vụ
giao
dịch,
ký
kết với
các
tổ
chức
kinh
doanh
du
lịch trong
nước,
nước ngoài để xây
dựng
và
thực hiện
các chương trình du
lịch
đã bán cho khách du
lịch"
[7].
Tuy
nhiên,
hoạt
động nghiên
cứu
thị
trường,
thiết
lập
các chương trình du
lịch
trọn
gói hay
từng
phần,
quảng
cáo
và bán các chương trình này
trực
tiếp
hay gián
tiếp
qua các
trung gian
hoặc
văn phòng
đại
diện,
tổ
chức
thực hiện
chương
lữ
hành,
cung cấp
thông
tin
du
lịch
và
tư vấn
du
lịch
nhằm
hưởng
hoa hồng.
- Kinh doanh vận
chuyển
khách du
lịch:
Đặc trưng
nối bật
của
hoạt
động
du
lịch
là sự
dịch chuyển của con người
từ
nơi này
tới
riêng không
thể
không đề
cập đến
hoạt
động
kinh
doanh vận
chuyển.
Kinh
doanh vận chuyển là
hoạt
động
kinh
doanh
nhằm giúp
cho
khách du
lịch
dịch
chuyển
được
từ
nơi
cư
trú
của
mình
đến
điểm
thủy,
máy
bay.
Thực
tế
cho
thấy, ít
có
các
doanh
nghiệp
du
lịch
(trừ
một
số
tập
đoàn du
lịch lớn
trên
thế
giới)
có
thể
đảm
nhận
được toàn bộ
việc
vận
chuyển
chúng
hoặc của
các công
ty
chuyên
kinh
doanh dịch vữ vận
chuyển.
Trong
khuôn
khổ
nghiên
cứu của
khóa
luận
này,
ngành du
lịch
được đề
cập
tới
bao gồm
cả
hai
mảng
kinh
doanh
lữ
hành
là
đi
du
lịch nội
địa
trên
-
li
-
lãnh
thổ
Việt
Nam),
trong
đó tác
giả
đặc
biệt
nhấn
mạnh
vào
kinh
doanh
du
lịch
lữ
hành
nội
địa.
Khái
niệm
ra
quốc
tế)
và du
lịch nội
địa
(người
Việt
Nam
đi
du
lịch trong
lãnh
thổ
nước
mình).
•
Kinh
doanh
phát
triển
khu du
lịch,
điểm
đến du
lịch
Theo điều
67
Luật
Du
thác,
phát
triến
khu du
lịch,
điểm
du
lịch mới, kinh
doanh
xây
dựng
kết cấu,
hạ
tỹng
du
lịch,
cơ sở
vật chất
-
kỹ
thuật
du
lịch
•
Kinh
doanh
các
dịch
vụ du
lịch
khách
trong
chuyến
đi.
Tuy nhiên
hiện nay,
loại
hình
kinh
doanh dịch
vụ bố
sung
đã được
coi
như
phỹn
không
thế
thiếu
trong
hoạt
động
du
lịch
và góp
phỹn
đáng kể
trong
doanh
thu
hoạt
động
kinh
doanh
đã nêu ở
trên,
trong lĩnh
vực
hoạt
động
kỉnh doanh
du
lịch
còn có một
số
hoạt
động
kinh
doanh
bổ
trợ;
như
kinh
doanh
các
loại
hình
dịch
vụ
vui
và
sự
gia
tăng
mạnh
của
các
doanh
nghiệp
du
lịch,
dẫn đến sự cạnh
tranh
ngày càng tăng
trên
thị
trường
du
-12-
lịch
thì
các
hoạt
động
kinh
doanh
bổ
trợ
ngày càng có xu
hướng
Do
đó,
ngành
kinh
doanh
này được
định
nghĩa gắn
liền
với thị
trường
riêng
biệt
của
nó và
bao
gồm
tất
cả các
hoạt
động
cung cấp dịch
vụ du
lịch
và
nhẩng
nguồn
thu từ
khách
du
tồn
tại
dưới
dạng
vật
thể.
Sản phẩm du
lịch
là
loại
sản
phẩm vô
hình,
không
thể
nhận
biết
bằng
thị
giác,
khứu
giác,
vị
giác,
xúc
giác.
Do
đó,
việc
đánh
phẩm du
lịch
được xác
định
dựa
vào chênh
lệch giẩa
mức độ kỳ
vọng
và mức độ cảm
nhận về
chất
lượng
của
khách du
lịch.
• Tính không đồng
nhất
Sản
phẩm du
lịch
chịu
ảnh
hường
của
nhiều
yếu
tố
tác động bao gồm
nguồn cung
cao
nên
muốn
có
dịch
vụ
tốt
cần
phải
có
sự
thực hiện
tốt
của cả
hai
phía
người
cung cấp
và khách hàng
cũng
như
các nguồn cung
khác.
• Tính không
thể
tách
rời
Quá
trình
sản
nhau
về không
gian
và
thời
gian.
-13-
Chúng không
thể tồn
kho hay
cất
đi
như các hàng hóa thông thường
khác.
Do
đó,
một vấn
đề
đặt ra
là
phải
tạo ra
được
sự ăn
khớp
giữa
sản
xuất
và
tiêu
- bao
gồm
cả
tài
nguyên thiên nhiên và
tài
nguyên văn
hóa.
Sản phẩm du
lịch
là
dạng
sản phẩm không
dịch
chuyển
được.
Khách
du
lịch
muện
thỏa
mãn
nhu cầu của
mình
phải
thông qua
việc
tiêu dùng
sản
phẩm du
địa bàn
du
lịch
của
mình.
Hoạt
động
kinh
doanh
du
lịch
thường mang tính thời vụ:
Việc
tiêu
dùng sản phẩm
du
lịch
tập
trung
vào
những
thời
gian
nhất
định
trong
ngày
(đệi với
nhóm
sản
gây
ra
không ít
khó khăn cho
việc
tổ chức
hoạt
động
kinh
doanh
và
từ
đó
ảnh
hưởng
tới
kết
quả
kinh
doanh của
các nhà
kinh
doanh
du
lịch.
li.
LÝ THUYẾT
VÈ LỢI THÊ
CẠNH TRANH QUỐC
GIA
lợi
ích của
thương mại
quệc
tế
đã
xuất hiện từ thế
kỷ 15
với
những
học
thuyết ra đời
sau
đó
có
thể
kể
tới
như
Lý
thuyết
lợi
thế
tuyệt
đối
(Adam
Smith,
thế
kỷ
18),
quốc gia
có
thể bắt
đầu
bằng
lý
thuyết
về
lợi
thế
so sánh của một
quốc gia
cũng
như sự khác
biệt
về công
nghệ
giữa
các ngành. Lý
thuyết
này cho
rằng,
một quốc
gia
sẽ có
lợi
thế
so sánh
trong
những
gia
đó tháp
trên
tất
cả các ngành. Tuy nhiên
những
giả
thiết
làm cơ sở cho lý
thuyết
này
không
thực
tiễn
trong
hầu
hết
các ngành như
giả
thiết
về công
nghệ
đồng nhát
giữa
các
quốc
gia,
không có
lợi
thế kinh tế
quốc
gia trong
thương mại
quốc tế
ngày
nay,
Lý
thuyết
về
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc gia được đề
xuất bởi
M.
Porter
đã đề cập đến
lợi
thế cạnh
tranh với
một cách
tiếp
cận
mới,
"động" hơn. Lý
thuyết
này đã
giải
thích
của nền
kinh tế,
tạo
nên
lợi
thế cạnh
tranh
cho một
quốc gia
trong
những
ngành
nhất
định
không phải chỉ đơn thuần
là
lao động, vốn,
tài
nguyên
thiên
nhiên mà còn
là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc Chính phủ
tạo
ra.
Lý
thuyết
cổ
điển
giải
thích sự thành công
đủ.
Lợi
thế
cạnh tranh của một quốc
gia chỉ
có
thể đạt
được khi
mỗi doanh nghiệp
trong
quốc
gia
đó phải chuyển từ
lợi
thế so
sảnh sang
lợi
thế cạnh tranh của một quốc
gia.
Lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia
bao hàm một
khái
niệm
phong
phú về sức
phí,
và
phải
dựa vào
chất
lượng,
tính năng và sự cách tân
sản
phàm
mới.
Khái
niệm
về
lợi
thế
cạnh
tranh
quốc
gia theo
M.
Porter
chú
trọng
khả năng duy trì
lợi
thế cạnh
tranh
của các
doanh
nghiệp
danh
tiếng
thương
hiệu
và
những
mối
quan
hệ khách hàng lâu dài có tính lâu bền
và đem
lại
mức năng
suất
cao
hơn.
Điều
kiện
này đòi
hỏi
một quá trình đầu tư
tích
lũy
bền
vững cũng
như
đổi mới,
sáng
tạo
không
ngừng.
nghiệp
trong
xu
hướng
cạnh
tranh
gay
gắt
của
thị
trường
hiện
nay
cần đi
theo
xu
hướng
tạo ra nhiều
lợi
thế
trong
suốt chuỗi
giá
trị.
Điều
kiện cuối
cùng để duy
trì
lợi
thế
cũng
như cấp độ
quốc
gia,
khẳng
định một
lần
nữa sự
gia
tăng mức
sống
và
sự thịnh
vượng
của
quốc
gia
phụ
thuộc
chủ yếu vào khả năng
đổi mới,
khả
năng
tiếp
cổn
nguồn
vốn và
hiệu
ứng
lan
(Porter 's
Diamond) và được trình bày
trong
hình
Ì.
Ì
-16-
Hình
1.1.
Mô
hình
kim
cương
CHIẾN
LƯỢC,
CO CÂU
VÀ
CẠNH TRANH
NGÀNH
ĐIÊU KIỆN CÁC
YÊU
TỐ
SẤN XUẤT
à
•
ĐIỀU KIỆN
VÊ CÂU
CÁC NGÀNH
HÔ TRỌ
VÀ LIÊN
quốc
gia
về
các
yếu
tố
sản xuất
đầu vào như
lao
động được đào
tạo hay
cơ sở
hạ
tầng,
cần
thiết
cho
cạnh
tranh trong
một ngành công
nghiệp nhất
định.
(2)Điều
kiện
về
cầu:
Nhân
tố
này còn được
hiểu
những
ngành công
nghiệp
liên
quan
và hỗ
trợ
có
tính
cạnh
tranh
quốc
tế
ở
quốc
gia
đó.
(4)Chiến
lược,
cơ
cấu
và
cạnh
tranh
ngành: Đây
là những điều
kiện
trong
một
quốc
thống
quốc
gia
theo
những
cách
rất
quan
trọng
và chúng
cần
thiết
để hoàn thành
lý
thuyết
này,
đó
là
cơ
hội
và
Chính
phủ.
Có
thể nói,
cơ
hội
là
những
sự phát
thiện
hoặc
làm
giảm
lợi
thế
quốc
gia.
Có
thể
nhìn
thấy
rõ
nhất khi
xem xét ảnh
hưởng
của
những
chính sách
lên mỗi
nhân
tố.
2.
Mô hình kim cương và các nhân
tố quyết
định
lợi
thế
cạnh
tranh
này,
với vai
trò
là
những yếu
tố
riêng
lẻ
hoặc hệ
thống
tạo ra
môi
trường
kinh
doanh
trong
đó các
doanh
nghiệp
của
quốc
gia
đó thành
lập
và
cạnh
tranh.
Thêm vào
đó,
mô hình
tố
cũng
có
thể tạo ra
hoặc
phát
triển lợi
thế
ở các
yếu
tố
khác.
Tuy
nhiên,
lợi
thế trong
mỗi yếu
tố
không
phải
là
điều
kiện
tiên
quyết
để có
lợi
thế
cạnh
tranh trong
-18-