Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế
chung. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra cơ hội cho các nền kinh tế, vừa
tăng sức ép cạnh tranh. Trong điều kiện đó, nỗ lực của một nền kinh tế về cải cách, phát
triển, tăng trởng phải đợc so sánh với các nền kinh tế cạnh tranh chứ không chỉ so với
nền kinh tế của chính mình trong quá khứ. Những tiến bộ đạt đợc trớc đây rất đáng trân
trọng, song mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề phải tiến nhanh hơn các
đối thủ cạnh tranh của mình để không bị tụt hậu và thua thiệt trong kinh doanh.
Nớc ta đang đứng trớc những bớc phát triển mới về hội nhập đòi hỏi phải nhanh
chóng nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngành du lịch là một ngành quan trọng trong cơ
cấu nền kinh tế. Chính vì vậy, ngành du lịch cũng không thể tách mình ra khỏi xu thế
chung của cả nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là ngành du lịch Việt Nam cần nâng cao
năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thế giới. Để làm đợc điều đó thì trớc hết
cần phải đánh giá đợc năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam đối với ngành du
lịch của các nớc khác trong khu vực.
Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề này trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay,
chúng tôi quyết định nghiên cứu vấn đề Đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành du
lịch Việt Nam trên bán đảo Đông dơng.
2. Nội dung và những đóng góp của đề tài.
Đề tài này gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận và phơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh
Chơng 2: Lợi thế so sánh của Du lịch Việt Nam trong khu vực Đông dơng.
Chơng 3: Một số giải pháp để nâng cao lợi thế của du lịch Việt Nam.
Tham gia nghiên cứu đề tài có: Bùi Việt Đức
Lu Văn Thi
Nguyễn Trung Nghĩa
dới sự hớng dẫn của TS. Trần Thị Minh Hoà
Trong công trình này, các tác giả sẽ hệ thống những lý luận cơ bản về năng lực
cạnh tranh trên góc độ quốc gia, phân biệt một số khái niệm về năng lực cạnh tranh quốc
gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ,
1.1.1. Năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đây là một khái niệm phức hợp, bao gồm các yếu tố vĩ mô, đồng thời cũng bao
gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nớc. Năng lực cạnh tranh quốc
gia đợc định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt đợc tăng trởng bền vững, thu hút
đợc đầu t, bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của ngời dân. Một số tổ
chức quốc tế (nh diễn đàn kinh tế thế giới WEF, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
OECD, Viện phát triển quản lý IMD ở Lausanne, Thụy Sỹ v.v.) tiến hành điều tra so
sánh và xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của các nền kinh tế trên thế giới. Các xếp
hạng đó áp dụng phơng pháp luận tơng tự nh nhau và đi đến kết quả giống nhau về xu
thế, tuy không hoàn toàn giống nhau trong xếp hạng do đó có những khác biệt trong ph-
ơng pháp luận (thí dụ nh trọng số cho từng yếu tố, về cơ sở dữ liệu v.v.). Các nhà đầu t
quốc tế thờng tham khảo các xếp hạng này nh một căn cứ để lựa chọn địa điểm đầu t. Vì
vậy, các xếp hạng đó có ý nghĩa quan trọng đối với các chính phủ và doanh nghiệp.
1.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đợc đo bằng khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trờng cạnh tranh trong nớc. Một
doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ, vì vậy ngời ta còn
phân biệt năng lực canh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm,
dịch vụ.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ đợc đo bằng thị phần của sản phẩm
hay dịch vụ cụ thể trên thị trờng.
Trong công trình này chỉ tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của quốc gia,
không đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, nhng giữa ba cấp độ:
năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực canh
tranh của sản phẩm, dịch vụ có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, chế định và phụ thuộc
lẫn nhau. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh
nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, ngợc lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh, môi trờng kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh
tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo đợc, nền kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nớc phải
* Lao động;
* Công nghệ;
* Thể chế.
Mỗi nhóm nhân tố trên đợc xem xét trên các tiểu nhóm nhân tố khác nhau.
1.2.2. Các nhóm nhân tố đánh giá năng lực cạnh tranh.
Chùm các yếu tố bao gồm 8 nhóm yếu tố quan trọng nhất đợc đề cập tới trong
mục 1.1.2.1 bao gồm nhiều tiêu chí đợc định lợng hóa và so sánh với nhau. Tuỳ theo tầm
quan trọng của từng giai đoạn phát triển mỗi nhóm yếu tố có một trọng số nhất định. Thí
dụ nh yếu tố về khoa học và công nghệ trớc năm 1999 có trọng số 1/9, đến năm 2000
trọng số đợc nâng lên 1/3. Diễn đàn kinh tế thế giới WEF xem xét 155 250 tiêu chí
tuỳ theo từng năm để phản ánh năng lực cạnh tranh của từng nớc.
1.2.2.1. Mức độ mở cửa.
Mức độ mở cửa, chúng ta có thể phân tích dựa trên mức độ hội nhập vào nền kinh tế
thế giới và mức độ tự do hóa ngoại thơng và đầu t.
Nhóm yếu tố này bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Thuế quan và hàng rào phi thuế quan (thuế nhập khẩu; hạn ngạch và các hàng
rào hạn chế nhập khẩu khác; khả năng mua ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu).
- Khuyến khích xuất khẩu (mức độ u tiên cho xuất khẩu, tín dụng xuất khẩu và
bảo hiểm).
- Chính sách tỷ giá (tỷ giá thực, tác động tới xuất khẩu, mức độ dao động).
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), (Liên doanh, phạm vi bảo hộ đầu t).
Nh vậy mức độ mở cửa hay mức độ hội nhập của nền kinh tế bao gồm các chính
sách về xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu t nớc ngoài, các dịch vụ trợ giúp xuất khẩu, khả
năng chuyển đổi của đồng tiền đối với các giao dịch vãng lai v.v.. Chính sách tỷ giá linh
hoạt, phản ánh giá trị thực của đồng tiền cũng đợc coi là một yếu tố quan trọng của mức
độ mở cửa của nền kinh tế. Một thớc đo khác của mức độ mở cửa nền kinh tế là tỷ lệ của
giá trị xuất và nhập khẩu so với GDP, trong đó giá trị gia tăng của xuất khẩu có ý nghĩa
4
quan trọng để đánh giá mức độ mở cửa đích thực của nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế tỷ lệ thuận với mức độ mở cửa của nền kinh tế đó.
gồm các chỉ số sau:
- Phạm vi chuyển tiết kiệm thành vốn đầu t (tài sản của khu vực ngân hàng, tỷ
lệ tín dụng cho khu vực t nhân)
- Hiệu quả và mức độ cạnh tranh (chênh lệch lãi suất)
- Rủi ro tài chính, phân loại tín dụng quốc gia.
- Đầu t và tiết kiệm (tổng tiết kiệm trong nớc so với GDP thay đổi trong tổng
đầu t trong nớc, tổng tiết kiệm quốc gia so vơi GDP, mức tăng thực của tổng tiết kiệm
quốc gia).
Nh vậy, sự phát triển của thể chế kinh tế thị trờng với hệ thống tài chính, tiền tệ,
ngân hàng làm trung tâm. Qui mô của hệ thống tài chính tiền tệ so với GDP; sự đa dạng
của các loại hình dịch vụ tài chính, tiền tệ; tỷ lệ tiết kiệm và đầu t của nền kinh tế; chất l-
ợng và trình độ phát triển của hệ thống tài chính tiền tệ nh mức độ xếp hạng của các
công ty t vấn tài chinh quốc tế, tỷ lệ nợ khó đòi v.v.. theo các tiêu chuẩn Basel của hệ
thống ngân hàng. Hệ thống tài chính tiền tệ càng phát triển, khả năng tiếp cận tín
5
dụng càng dễ dàng, rủi ro tín dụng càng thấp thì doanh nghiệp kinh doanh càng thuận lợi
hơn, năng động hơn.
1.2.2.4. Công nghệ.
Cở sở phân tích của nhóm yếu tố công nghệ chính là sự nghiên cứu và ứng dụng
(R&D), trình độ công nghệ và kiến thức tích luỹ đợc.
Nhóm yếu tố này bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Năng lực công nghệ nội sinh (trình độ công nghệ, giáo dục khoa học cơ bản,
mức độ chi ngân sách cho R&D phi quân sự, hợp tác nghiên cứu ra các viện và các
ngành kinh tế)
- Công nghệ chuyển giao qua FDI hoặc từ nớc ngoài (năng lực hấp thụ công nghệ
mới, chuyển giao công nghệ qua FDI, giấy phép sử dụng công nghệ nớc ngoài).
Nhóm yếu tố về công nghệ và khoa học xét đến trình độ khoa học và công nghệ so
với thế giới (có bao nhiêu công nghệ đứng đầu thế giới, có bao nhiêu sản phẩm dẫn đầu
thế giới về công nghệ), trình độ phát triển của thị trờng công nghệ, mức độ đầu t của
ngân sách và doanh nghiệp vào khoa học và công nghệ, quan hệ giữa viện, trờng đại học
6
công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lợc về tài chính, khả năng tiếp thị v.v...), phân tích các
đối thủ cạnh tranh, đề xuất một chiến lợc thích hợp cho doanh nghiệp.
1.2.2.7. Lao động.
Cơ sở phân tích của nhóm nhân tố lao động là sự hiệu quả và linh hoạt của thị tr-
ờng lao động. Nó bao gồm các chỉ số cơ bản sau:
- Tay nghề và năng suất (số năm học phổ thông trung bình, hệ thống giáo dục tiểu
học và trung học, đào tạo lại tay nghề, năng suất lao động trung bình).
- Tính linh hoạt trong qui chế điều tiết, hiệu quả của các chơng trình xã hội (thực
hiện và sa thải nhân công, qui chế về lao động, bảo hiểm thất nghiệp, hệ thống phúc lợi
xã hội)
- Quan hệ nghề nghiệp (bãi công, quan hệ chủ thợ, sức mạnh đàm phán tập thể của
ngời lao động).
Lao động đợc đánh giá về số lợng lao động, chất lợng lao động về đào tạo (ngoại
ngữ, đào tạo về ngành chuyên môn, trình độ chuyên môn trên các ngành và các lĩnh vực
khác nhau), sức khoẻ, kỉ luật lao động, tần số đình công trong kinh tế, mức độ thay đổi
chỗ làm việc v.v... Một tiêu chí quan trọng là chi phí tiền lơng trên một đơn vị sản phẩm
để so sánh chi phí tiền công với năng suất lao động. Chi phí tiền lơng bao gồm cả chi phí
đào tạo, thuế thu nhập và bảo hiểm, tức là tổng chi phí về lao động đối với doanh nghiệp.
1.2.2.8. Thể chế.
Nhóm yếu tố thể chế thể hiện ở tính đúng đắn của thể chế pháp lý và xã hội đặt nền
tảng cho nền kinh tế thể hiện cạnh tranh và hiện đại, bao gồm hệ thống luật pháp và bảo
hộ quyền sở hữu.
Các chỉ số cụ thể để phân tích nhóm yếu tố thể chế bao gồm:
- Tình hình cạnh tranh (mức độ tích tụ trên thị trờng, chính sách chống độc quyền)
- Chất lợng của các thể chế pháp lý (mức độ rủi ro bị tớc đoạt, hiệu lực thi hành
các hợp đồng thơng mại, hợp đồng với Chính phủ, các công cụ pháp lý khiếu kiện cơ
quan hành chính, lòng tin vào Chính phủ)
- Cảnh sát và việc phòng chống tội phạm của cảnh sát, tổn phí xã hội do tội phạm
có tổ chức gây ra).
ra các sản phẩm du lịch.
2.1.1. Tài nguyên thiên nhiên.
2.1.1.1. Lợi thế so sánh về vị trí địa lý và địa hình
Ba nớc Đông Dơng, Việt Nam, Lào, Campuchia nằm trong khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng, đợc coi là khu vực có xu hớng vận động có tính chất thời đại của luồng
khách du lịch quốc tế. Đồng thời, lại nằm trong khu vực Đông Nam á là nơi có luồng
khách du lịch quốc tế tăng trung bình hàng năm cao nhất thế giới. Đây là khu vực ổn
định về kinh tế, xã hội, tốc độ tăng trởng về kinh tế nói chung và du lịch nói riêng nhanh
nhất trên thế giới, là khu vực có tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng,
môi trờng sinh thái ít bị ô nhiễm so với nhiều vùng du lịch khác trên thế giới, có nguồn
lao động dồi dào, giá cả hàng hoá tơng đối rẻ. Các lợi thế này giúp cho du lịch phát triển
nhanh, mạnh. Nhng khi chúng ta xét từng nớc riêng, chúng ta sẽ thấy mỗi nớc lại có lợi
thế phát triển riêng về kinh tế nói chung và về du lịch nói riêng, tuỳ thuộc vào vị trí địa
lý và địa hình khác nhau.
* Nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam á, phía Đông bán
đảo Đông Dơng, kéo dài từ 13
0
45 đến 22
0
0 vĩ tuyến Bắc, phía Bắc giáp Trung Quốc,
phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông Nam và Tây Nam trông ra biển Đông và
Thái Bình Dơng. Nhìn trên bản đồ, dải đất Việt Nam lợn cong hình chữ S, kéo dài từ Bắc
đến Nam, toàn bộ phần đất liền Việt Nam nằm trọn trong mũi giờ số 7 GMT. Khoảng
cách từ biên giới phía Đông sang biên giới phía Tây không kể thềm lục địa nơi rộng nhất
600km (Bắc Bộ),400 km (Nam Bộ ),nơi hẹp nhất 50 km (Quảng Bình).
* Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào là một nớc lục địa nằm trên bán đảo Đông D-
ơng ở khu vực Đông Nam châu á và kéo dài từ 13
0
45' đến 22
0
rằng, thị trờng mục tiêu của du lịch ba nớc Đông Dơng đều là Nhật,Trung Quốc, mà Việt
Nam lại là nớc gần với các nớc này, Việt Nam nằm ở vị trí đón đầu, nên Việt Nam là n-
ớc có khả năng đón đợc nhiều nhất lợng khách du lịch đến từ các quốc gia này.
Sự đa dạng của bề mặt địa hình có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động du lịch tạo
nên sự phong phú của các loại hình du lịch. Trong đó mỗi dạng địa hình với đặc điểm
riêng biệt để tạo nên những loại hình du lịch đặc trng.
Ba phần t lãnh thổ Việt Nam là đồi núi, trừ một vài vùng đồng bằng châu thổ rộng
lớn, khắp nơi đều nhìn thấy cảnh núi rừng trùng điệp. Đặc biệt suốt chiều dài miền
Trung, rừng núi và đồng bằng xen kẽ nhau làm thành một tổng thể hài hoà. Việt Nam có
bốn vùng núi chính, mỗi vùng mang một sắc thái riêng.
Vùng núi Đông Bắc, kéo dài từ thung lũng sông Hồng ra đến Vịnh Bắc Bộ, có
nhiều danh thắng nổi tiếng nh: động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), hang Pác Bó,
thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Cạn), núi Yên Tử, vịnh Hạ Long (Quảng
Ninh).
Vùng núi Tây Bắc từ biên giới phía Bắc, đây là vùng núi hùng vĩ, có Sapa (Lao
Cai ) ở độ cao 1.500 m so với mặt nớc biển, quanh năm khí hậu mát mẻ, có di tích Điện
Biên Phủ lừng danh và đỉnh Phan - xi-păng, nóc nhà của Đông Nam á, cao 3143m.
Vùng Trờng Sơn Bắc chạy theo hớng Tây Bắc Đông Nam kéo dài từ miền tây
Thanh Hoá đến đèo Hải Vân, có Phong Nha kỳ thú (Quảng Bình) và những đèo nổi tiếng
nh: đèo Ngang (Hà Tĩnh), đèo Hải Vân (Đà Nẵng ). Đặc biệt có đờng mòn Hồ Chí Minh
đợc thế giới biết đến bởi những kì tích của ngời Việt Nam trong cuộc kháng chiến vĩ đại
lần thứ hai.
Vùng Trờng Sơn Nam, nằm ở phía Tây các tỉnh Nam Trung Bộ, có vùng đất Tây
Nguyên đầy huyền thoại.
Rừng và đất rừng ở Việt Nam chiếm khoảng 50% diện tích. Việt Nam có hai
đồng bằng lớn, đồng bằng châu thổ sông Hồng rộng khoảng 15.000 km
2
, đợc bồi tụ phù
sa của hai con sông lớn: sông Hồng và sông Thái Bình. Đây cũng là địa bàn c trú của ng-
9
+ Nằm giữa hai vùng nói trên là cao nguyên Mờng Phuôn (Xiêng Khoảng) rộng
độ 2.000 km
2
, độ cao trung bình 1.200 m, đỉnh Phù Bía (2.820m), nằm ở phía Nam cao
nguyên này là đỉnh cao nhất của địa hình nớc Lào. Cao nguyên Mờng Phuôn vừa chứa
trong lòng đất nhiều khoáng sản, vừa là nơi đất đai phì nhiêu, khí hậu mát mẻ cùng
nhiều đồng cỏ rộng bao la rất thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi theo qui mô lớn.
+ Đồng bằng Viêng Chăn rộng độ 4.000 km
2
là vùng địa hình thợng Lào, một
trong những đồng bằng phù sa trù phú và vựa lúa lớn của nớc Lào.
Địa hình Trung Lào gồm có các tỉnh: Bo Ly Khăm Xay, Khăm Muộn, Xa Văn
Na Khệt, từ dãy Phu Luồng nghiêng dần về lu vực sông Mê Kông qua nhiều cao nguyên
lớn và thấp, độ cao trung bình từ 300 đến 700 m trong đó có cao nguyên Khăm Kợt và
cao nguyên Na Kay là quan trọng hơn cả. ở khu vực Đông Nam Trung Lào có đồng
bằng Xa Văn Na Khẹt là đất đai phì nhiêu và vựa lúa quan trọng của nớc Lào.
Địa hình Hạ Lào có thể chia thành ba khu vực: Khu vực vùng dựa lng vào dãy
Phu Luồng phía Đông giáp với Tây nguyên của Việt Nam. Khu vực phía Tây do đồng
bằng Chămpasắc cấu tạo nên sát với bờ sông Mê Kông và nối liền với đồng bằng phía
Tây thành một dải liên hoàn. Đây cũng là vùng trú phú dân c đông đúc và là vựa thóc
lớn của Lào.
10
Các cao nguyên Bolavên, độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m trải rộng khoảng
3.600 km
2
giữa vùng Phu Luồng và vùng đồng bằng Chămpasắc ven sông Mê Kông.
Đây là vùng đất đỏ phì nhiêu, có khả năng trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây dợc
liệu nh: cà phê, sa nhân, canh Kina ... khí hậu mát mẻ lại nhiều đồng cỏ mợt rộng thích
hợp cho chăn nuôi và trồng cây công nghiệp theo qui mô lớn.
ở vùng phía Bắc Lào phần lớn là núi non hiểm trở tạo thành các dạng địa hình
điểm du lịch trên phạm vi lãnh thổ.
2.1.1.2. Khí hậu
Hoạt động du lịch nhất là du lịch nghỉ ngơi tham quan và thể thao chịu ảnh hởng
trực tiếp về khí hậu và đặc biệt là diễn biến của thời tiết. Với những điều kiện khí hậu
điều hoà thì hoạt động du lịch diễn ra quanh năm. ánh nắng mặt trời, bầu không khí
trong lành cũng là các yếu tố quan trọng cùng với các dạng địa hình, núi non hiểm trở đã
góp phần tạo nên một sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn cho khách du lịch trong nớc và
quốc tế.
11
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có gió mùa, ánh nắng chan hoà, lợng
ma dồi dào và độ ẩm cao. Một số nơi gần chí tuyến hoặc vùng núi cao khí hậu có tính ôn
đới. Việt Nam có nắng suốt bốn mùa, mùa hè khoảng 200 giờ /tháng, mùa đông khoảng
70 giờ /tháng. Độ ẩm cao thờng dao động từ 80-100 %, mỗi năm trên đất nớc Việt Nam
thờng nhận đợc chừng 600 tỉ tấn nớc ma. Nhiệt độ trung bình cả nớc là 22
0
C 27
0
C, ở
Hà Nội 23
0
C, thành phố Hồ Chí Minh 26
0
C, Huế 25
0
C, khí hậu Việt Nam có hai mùa
rõ rệt, mùa khô rét (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ), mùa ma nóng (từ tháng 5 đến
tháng 10 ), nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt nhất ở các tỉnh phía Bắc, giữa các mùa
chênh nhau tới 12
0
C, miềm Nam sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa chỉ khoảng 3
0
C đến 33
0
C và Trung và Hạ Lào từ 22
0
C đến 34
0
C).
Trong năm nhiệt độ không bao giờ xuống thấp dới 16
0
C và ít khi vợt quá 35
0
C.
Đó cũng là một thuận lợi đối với sức khoẻ con ngời. Vào thời kỳ ma, nhất là những
tháng ma nhiều, không khí ẩm gây ra khó chịu cho con ngời. Từ cuối tháng 3 đến tháng
5 là thời kỳ nóng thực sự. Những trận ma đầu mùa của gió mùa Tây nam làm cho không
khí mát mẻ, nối tiếp đó là thời tiết ẩm ớt và ngột ngạt của mùa ma.
Thời gian tốt cho du lịch ở các tỉnh phía Bắc (từ Thủ đô Viêng Chăn trở nên) là
thời kỳ từ tháng 11 cho tới tháng 3. Thời gian này từ đồng bằng tới núi cao thời tiết rất
mát mẻ. Riêng ở vùng núi cao có sơng mù, đôi khi hai, ba hôm mới thấy mặt trời.
Trên toàn bộ lãnh thổ Lào, nhiệt độ cao nhất xảy ra vào tháng 3, tháng khô bắt
đầu có gió mùa Tây Nam. Mỗi khu vực chịu ảnh hởng gió mùa ít nhiều có khác nhau,
tạo nên sự khác biệt về mùa. Đối với hoạt động du lịch có thể sơ bộ chia thành 3 mức độ
thuận lợi khác nhau.
+ Mùa nóng từ tháng 3 đến đến tháng 5
+ Mùa ma từ tháng 6 đến tháng 2
+ Mùa mát từ tháng 10 đến tháng 2.
12
Nhìn chung mùa du lịch thích hợp nhất ở Lào là những tháng cuối năm trớc và
đầu năm sau, vì đây là thời kỳ khô ráo và mát mẻ nhất trong năm trên khắp lãnh thổ đất
tổng diện tích là 2.092.466 ha bằng gần 6 % diện tích lãnh thổ Việt Nam.
Các khu rừng quốc gia đợc nhà nớc bảo vệ có kế hoạch phát triển du lịch sinh thái
nh rừng quốc gia Cúc Phơng (Ninh Bình), rừng Ba Vì (Hà Tây), rừng Cát Bà (Hải
Phòng ), rừng Cát Tiên (Đồng Nai), rừng Côn Đảo, rừng ngập mặn ở Bạc Liêu, Cà Mau.
Về động, thực vật ở Lào có rất nhiều loại thực vật. Từ dây leo đến cây thân cứng
khắp nơi đều có thảm thực vật, cây cối xanh tơi. Hiện nay ở Lào có rất nhiều những khu
bảo tồn quốc gia đồng thời là nơi c trú của nhiều loài động vật quý nh: Voi, Hổ, Hơu, Tê
giác, Trăn, Rắn Có thể nói nớc Lào đất rộng ngời tha, còn có nhiều loại rừng: Rừng
bảo tồn quốc gia, rừng đặc dụng, rừng trồng và rừng bảo vệ. Trong đó có rừng bảo tồn
quốc gia tới 20 nơi. Phần lớn rừng ở Lào là rừng nguyên sinh. Ví dụ: ở vùng du lịch phía
Bắc Lào là rừng bảo tồn quốc gia: Phu Khẩu Khoa (tỉnh Viêng Chăn) và ở vùng du lịch
Trung và Hạ Lào là rừng bảo tồn quốc gia Đồng Hùa Xào.
Ngoài ra còn nhiều khu bảo tồn quốc gia khác nh: Phu Đen Đin (Phong Xa Ly);
Năm Mo, Phu Hin Pun (Khặm Muôn), Phu Xang He, Đồng Phu Viêng (Xa văn na kệt),
13
Xê Băng Nuan, Phù Xiêng Thoang, Xê Xếp (Xalavăn), Đồng Am Phan (AHap) và Đồng
Hùa Xào, Xê Piên (Chămpasắc).
Rừng Campuchia có hơn 500 loài cây, trong đó có nhiều loại gỗ quý rất có giá trị
nh: đinh, lim, sến, táu, cây caki, cây bềng, cây niengnuôn. Khu rừng nhiệt đới nguyên
sinh ở phía tây - nam giáp biên giới Thái Lan là khu rừng Pailen có 4 tầng là. Rừng đã bị
giảm từ 74 % diện tích che phủ năm 1969 xuống còn 58% diện tích che phủ năm 1997.
Trong các khu rừng của Campuchia có hơn 250 loài động vật có vú nh: voi, hổ, gấu, báo,
bò rừng, bò tót, hơu, nai, sơn dơng, khỉ Hơn 600 loài chim nh: vẹt, gà rừng, sáo, vành
khuyên, chim cu Đặc biệt rất nhiều cá với hơn 1000 loài cá nớc ngọt chủ yếu ở Tonle
Sap (biển Hồ ) trong đó có cá heo, loại cá trê lơn, cá chép lớn (cá biệt có con nặng nhất
tới 135 kg) , có loài cá giống ngời thiếu nữ và hơn 500 loài cá biển.
Campuchia có 7 khu công viên quốc gia: Kirirom, Phnom Bokor, Ream, có 10
khu bảo vệ động thực vật hoang dã: Aural, Beng Per, Peam Krasop
Nh vậy là ba nớc đều có tiềm năng rất lớn về hệ động thực vật, nớc nào cũng có
một hệ động thực vật phong phú đa dạng, có nhiều rừng nguyên sinh, có nhiều khu bảo
sinh. ở các thành phố lớn tình hình tuy có khá hơn nhng vẫn còn rất nhiều vấn đề, tỉ lệ
ngời dùng nớc sạch mới chỉ chiếm tỉ lệ 38%. Du lịch là ngành rất cần vệ sinh, an toàn về
14
nguồn nớc là yêu cầu tất yếu đối với việc phát triển du lịch. để có đợc nguồn nớc sạch
thì các khách sạn, nhà hàng phải chi một khoản tiền rất lớn. Do vậy để phát triển
mạng lới du lịch trong cả nớc thì chính phủ Hoàng Gia Campuchia cần phải giải quyết
tích cực vấn đề cấp nớc ở thành phố, đi đôi với việc đẩy mạnh chơng trình nớc sạch ở
nông thôn.
Nh vật ta thấy ba nớc Đông Dơng thì Việt Nam là nớc có nhiều tiềm năng về
nguồn nớc nhất, chúng ta có nhiều suối nớc khoáng, có nhiều nguồn nớc ngầm có nhiệt
độ cao, có hàm lợng hoá chất cao, tốt, có nhiều nguyên tố vi lợng tốt. Tạo điều kiện
thuận lợi cho Việt Nam phát triển loại hình du lịch nghỉ dỡng và chữa bệnh. Nhờ có
nguồn nớc khoáng đa dạng có chữ lợng lớn đã đợc sử dụng trực tiếp vào làm nớc uống,
nớc giải khát.
2.1.2. Tài nguyên nhân văn
2.1.2.1. Các di tích lịch sử - văn hoá, kiến trúc
Cùng với tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cũng có sự hấp dẫn không
kém với du khách. Tài nguyên nhân văn bao gồm các giá trị lịch sử và các giá trị văn
hoá.
Các giá trị lịch sử bao gồm những nơi mà chiến tranh đã đi qua hoặc các di vật
mà chiến tranh để lại; những nơi sinh ra và lến lên của các vị anh hùng dân tộc, danh
nhân thế giới; những nơi là cố đô cũ; những thánh địa: là nơi sinh ra của các trờng phái
tôn giáo
Các giá trị văn hoá bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể. Các giá trị văn hoá
vật thể là toàn bộ công trình kiến trúc, bảo tàng, tác phẩm nghệ thuật. Các giá trị văn hoá
phi vật thể là các phong tục tập quán, các lễ hội, các loại hình nghệ thuật, văn hóa ẩm
thực
Việt Nam, Lào và Campuchia là ba nớc đều có nền văn hoá lâu đời, tuy là các nớc
láng giềng nhng mỗi nớc đều có những phong tục, tập quán, bản sắc văn hoá rất riêng.
Bản sắc văn hoá của mỗi nớc đều rất phong phú và độc đáo, đó là thế mạnh của mỗi nớc
Mỹ, trại giam Phú Lợi ).
Lào là một trong những quốc gia ở Đông Nam á có một lịch sử lâu đời. Trong
những năm (1935-1936). Các nhà khảo cổ học Saurin và Fromaget đã tìm thấy ở Thăm
Hàng, Thămpalời (tỉnh Thia Phăn) những di vật của ngời cổ gồm có răng, mảng xơng sọ,
mảnh thái dơng cùng với một số công cụ bằng đá cuội có hình ba - bốn cạnh, mũi nhọn
ghè đẽo thô sơ.
Các di vật của hai nơi đây đều nằm trong các lớp đá trầm tích có hoá thạch mà
Sâurin và Fromaget cho rằng lớp trầm tích đó thuộc thời sơ và trung kỳ canh tâm. Những
kết quả gần đây cho rằng lớp trầm tích và các di vật đó có thể thuộc thời đại muộn hơn,
vào thời đại hậu kỳ canh tân.
Cùng với Thăm Hàng và Thămpalời, ngời ta đã phát hiện và khai quật một số địa
điểm khác nh Thăm Nang Eng, Tham Nhôm Na Lạt.
Trong kỹ thuật chế tạo công cụ ở Lào đã có truyền thống phát triển rìu đá co vai,
vào khoảng hậu kỳ đổ đá mới. Đặc biệt ở mỗi địa phơng các công cụ có những đặc điểm
khác nhau nh Luông Pha Bang, thịnh hành rìu có một hoặc hai tầng còn ở Khăm Muộn
là phổ biến rìu có vai nhọn.
Tiếp theo những tầng văn hoá thuộc thời kỳ đồ đá là những tầng văn hoá đồ đá
lớn (hay nền văn hoá thạch) khá phong phú và độc đáo, thuộc thời kỳ kim loại mà minh
chứng khảo cổ học của Madeleine Colanic trong những năm 1933-1935, đã khai quật ở
mờng Pơn (Hùa Phăn) và cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng).
ở khu vực trụ đá (Merhir) mờng Pơn (tỉnh Hùa Phăn): có những trụ đá cao trung
bình trên 2,5 m hình dệt và nhọn, đợc đẽo gọt rất kỳ công, dựng lên trong nhiều khu vực
ở Keo Him Tặng, Đồng Mút... Nhiều nhất ở Kong Phăn có 115 trụ đá, 70 đĩa đá... Bên
cạnh trụ đá mà ngời ta cho đó là những tấm bia của công xã đối với thành viên đã quá
cổ, còn những nắp đá đẩy những huyệt chôn ngời. Trong đồng ngời ta tìm thấy răng và
những đốt xơng ngời và những dụng cụ đồ gốm, vòng đá, các công cụ bằng đá thau.
Bên cạnh những chum đá ngời ta đào thấy những vật quý khác đợc chôn theo ngời
chết ngọc trai nhiều màu, đồ đạc bằng đồng thau có chạm trổ, vòng sắt ... Những hiện
vật tìm thấy xung quanh các khu vực đá còn có khu vực bằng đá mài đồ gốm, ngọc,
những công cụ bằng đồng thau, công cụ bằng sắt. Từ đó có thể nói thêm một phần nào
Khu liên hợp Angkor, là linh hồn của ngời Khmer, là biểu tợng về nghệ thuật và
nền văn minh của Campuchia đợc xây dựng từ giữa thế kỷ 7 đến giữa thế kỷ 13 bởi các
vua Khmẻr có quyền lực. Khu liên hợp Angkor bao gồm hơn một trăm khu đền lớn phân
bố trên diện tích 400 km2, Angkor nổi tiếng là những đền cổ rộng nhất và Angkor Wat
là một trong 7 kỳ quan câ thế giới. Trong đó nổi tiếng nhất là các đền Angkor WAt,
Angkor Thom, Baphuan, Takeo,Thommanon và Chau Say Tevoda
Đền Wat Pnom là biểu tợng cho thủ đô PhnomPenh, đã đợc bà Penh (ngời phụ nữ
đầu tiên đến khai phá thành phố này) xây dựng vào năm 1434. Ngôi đền nay vẫn là công
trình cao nhất ở thủ đô Phompenh bởi nhọn đồi nhân tạo và là trung tâm của nhiều hoạt
động vui chơi giải trí.
Nghệ thuật kiến trúc cổ: kiến trúc cổ phù hợp với phong cảnh, văn hoá và tín ng-
ỡng của ngời xa. Một nền kiến trúc có giá trị và đợc bố cục theo thuật phong thuỷ của
triết học phơng Đông. Nhiều kiến trúc tôn giáo mà điển hình là các công trình bằng đá
mà nghệ thuật Khmer đã khai thác tất sự giàu có và tính độc đáo của nó.
Nghệ thuật đơng đại, từ các di sản quá khứ và sự khéo léo của các nghệ nhân đã
chuyển dịch nhiều kỹ thuật cổ truyền thành kỹ thuật đơng thời: nghệ nhân sơn mài, tranh
ảnh, đồ cổ và các đồ vật khác nh tranh lụa, tranh khảm ngọc trai. Đặc biệt là nghề trạm
trổ đá và tạc tợng. Nghề thủ công cũng đợc thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau nh:
17
hàng đan, đồ gốm, thêu, dệt tơ lụa, hình in theo bản khắc đợc lấy từ truyền thống và văn
hoá làng nghề.
Việt Nam, Lào, Campuchia đều có nền văn minh lúa nớc lâu đời, phong phú đa
dạng, có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng đợc nhân dân trên thế giới biêt đến, chính vì vậy
ngành du lịch của các nớc Đông Dơng có thể phát triển ngành du lịch văn hoá. Nhng nớc
ta lại có nhiều di sản thiên nhiên thế giới hơn, nó lại nằm dọc theo chiều dài của đất nớc,
nền kinh tế nớc ta lại phát triển hơn, Việt Nam lại là điểm đến an toàn, ngời dân Việt
Nam hiếu khách, đã tạo điều kiện cho chúng ta thu hút khách quốc tế đến tìm hiểu
nghiên cứu. Mặt khác các điểm di tích lịch sử - văn hoá, kiến trúc của Việt Nam tập
trung hơn ở các điểm quần c, các thành phố lớn, do vậy rất dễ dàng tiếp cận.
2.1.2.2. Các lễ hội.
hội kỹ niệm các anh hùng dân tộc dựng nớc và giữ nớc: Hội Đền Hùng (xã Hy Cơng,
Phong Châu, Phú Thọ) giỗ Tổ Hùng (Dù ai đi ngợc về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mùng 10
tháng 3 thì về), hội Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội) tổ chức vào ngày 9- 4 (Ai ơi
mồng chín tháng t, Không đi hội Gióng cũng h mất đời); hội đền An Dơng Vơng (Cổ
18
Loa, Hà Nội) tổ chức vào ngày 6
tháng giêng; hội Hai Bà Trng (làng Đồng Nhân, quận
Hai Bà Trng, Hà Nội) mở ngày 15 tháng giêng kỷ niệm ngày Hai Bà tuẫn tiết; hội đền
kiếp bạc (Chí Linh, Hải Dơng) mở vào ngày 20- 8 kỷ niệm ngày mất của Hng đạo vơng
Trần Quốc Tuấn; hội Tây Sơn (Tây Sơn, Bình Định) kỷ niệm Quang Trung Nguyễn Huệ
và hội Đông Đa kỷ niệm chiến thắng Đống Đa năm 1789 của Quang Trung mở vào ngày
5 tháng giêng.
Lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng là các lễ hội tôn giáo và văn hoá. Lễ hội
tôn giáo gồm các lễ hội Phật giáo nh lễ hội chùa Hơng (Mỹ Đức, Hà Tây) mở vào mùa
xuân; hội chùa Tây Phơng (Thạch Thất, Hà Tây) mở vào ngày 7- 3; các lễ hội tín ngỡng
dân gian: nh hội đền Và (Bất Bạt, Hà Tây) mở vào ngày 15
tháng giêng thờ thần Tản
Viên; hội đền Bắc Lệ (Hữu Lũng, Lạng Sơn) mở vào đầu tháng giêng thờ Mẫu Thợng
Ngàn; hội Chử Đồng Tử (xã Tự Nhiên, Thờng Tín, Hà Tây) mở vào trung tuần tháng 2
kỷ niệm nơi Tiên Dung lần đầu gặp Chử Đồng Tử; hội làng Đa Hoà (xã Bình Minh,
Châu Giang, Hng Yên) mở vào cuối tháng giêng kỷ niệm nơi Chử Đồng Tử -Tiên Dung
sinh sống; hội đền Hoá Dạ Trạch (xã Dạ Trạch, Châu Giang, Hng Yên) mở cửa vào giữa
tháng 2 kỷ niệm nơi Chử Đồng Tử -Tiên Dung bay về trời; hội Phủ Giầy (Vân Cát, Vụ
Bản, Nam Định) mở vào thợng tuần tháng 3 và hội đền Sòng (Bỉm Sơn, Thanh Hoá) thờ
Liễu Hạnh.
Phần hội gồm các trò chơi giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc, phần lớn
các trò chơi này đều xuất phát từ những ớc vọng thiêng liêng của con ngời nông nghiệp:
xuất phát từ ớc vọng cầu ma là các trò chơi tạo ra tiếng nổ mô phỏng tiếng sấm vào các
s đang chờ đợi thay đổi trang phục màu vàng.
Quốc khánh Campuchia đợc tổ chức vào ngày 9 tháng 11 hàng năm kỷ niệm ngày
chiến thắng thực dân Pháp vào năm 1953.
Lễ hội chèo thuyền (lễ hội nớc ), nhằm nhớ đến các lính thuỷ đã xây dựng
Angkor. Lễ này tổ chức vào ngày 15 trăng tròn theo lịch âm (thờng vào ngày 24 đến 26
tháng 11 lịch dơng ), lễ hội này thờng tổ chức trên sông Mêkông.
Lễ Noel dành riêng cho đồng bào công giáo và cuối cùng là việc thờ cúng tổ tiên.
Trong mỗi gia đình thờng có bàn thờ đặt ở vị trí trang trọng và tôn nghiêm. Nó duy trì
mối quan hệ gia đình giữa quá khứ và tơng lai.
Về âm nhạc thì âm nhạc cổ truyền của Campuchia có rất nhiều thể loại nhạc
truyền thống và không bị ảnh hởng bởi yếu tố văn hoá bên ngoài. Nó mang màu sắc
truyền thống của dân tộc Khmer, âm nhạc kiểu tôn thờ tổ tiên, hoặc lễ cúng bái. Âm
nhạc hiện đại của Campuchia thì có sự tiếp thu kế thừa của các nớc văn hoá phơng Đông
(Trung Quốc và Ân Độ ) và đặc biệt văn hoá phơng Tây trong những năm gần đây. Các
thể loại nhạc cụ cũng rất đa dạng và đợc sử dụng rộng rãi.
Các điệu múa hát cũng rất đa dạng, hiện nay ở Campuchia có hơn 100 điệu múa
và hát. Nét đặc sắc là bài hát nào cũng có điệu múa phụ hoạ, múa có thể theo điệu nhảy
phơng Tây. Nổi tiếng nhất là các điệu múa: múa vòng, múa Saravan, múa Romkher
Bach, múa voi, múa cộng đồng Đặc biệt có nhiều điệu múa theo nghệ thuật Khơmer,
tiêu biểu là điệu Apsara (là hình tợng của ngời phụ nữ Campuchia từ thế kỷ 12 đến nay ),
trong thế kỷ 12 có hơn 3000 ngời múa Apsara. Võ vật, kéo co, bơi thuyền, hát múa rất
phổ biến theo từng vùng.
Nghệ thuật nấu ăn ở Campuchia cũng rất độc đáo: nem, chả, mọc, bánh xèo, Tcr-
ơng, Numbnhtroc, Cari, Còcô có từ thế kỷ 10 và rất hấp dẫn đối với khách du lịch nớc
ngoài.
Ngời Việt Nam vẫn thờng nói rằng: tháng một là tháng ăn chơi, tháng hai đi hội, tháng
ba đi chùa, chứng tỏ ngời Việt Nam ta có một đời sống tinh thần phong phú. Dọc theo
dài của đất nớc các lễ hội diễn ra quanh năm. Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó
có đồng bào ngời dân Khmer, mà ngời Khmer chiếm phần lớn dân số tại Campuchia và
Lào, điều đó chứng tỏ Việt Nam có nhiều lễ hội hơn, chúng ta hoàn toàn có thể đẩy