ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG VÀ LOẠI PHÂN TRÙN PHỐI TRỘN TRONG GIÁ THỂ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY DỪA CẠN RŨ (Catharanthus roseus (L.) G. Don) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
***********

LỘC THỊ HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG VÀ LOẠI PHÂN TRÙN
PHỐI TRỘN TRONG GIÁ THỂ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA CÂY DỪA CẠN RŨ (Catharanthus roseus
(L.) G. Don) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CẢNH QUAN VÀ KỸ THUẬT HOA VIÊN

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
***********

LỘC THỊ HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG VÀ LOẠI PHÂN TRÙN
PHỐI TRỘN TRONG GIÁ THỂ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA CÂY DỪA CẠN RŨ (Catharanthus roseus
(L.) G. Don) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên


TP. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2012
Lộc Thị Hiền

i


TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của liều lượng và loại phân trùn phối trộn
trong giá thể đến sinh trưởng và phát triển của cây dừa cạn rũ (Catharanthus
roseus (L.) G. Don) tại thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành tại vườn ươm bộ
môn Cảnh quan & Kỹ thuật Hoa viên trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, thời gian
từ 20/12/2011 đến ngày 31/05/2012.
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu RCBD 2 yếu tố:
-

Yếu tố A: Phân trùn nguồn gốc từ phân gà với 3 mức 0 % (A0), 10 %
(A1) và 20 % (A2).

-

Yếu tố B: Phân trùn nguồn gốc từ phân bò với 3 mức 0 % (B0), 10 %
(B1) và 20 % (B2).

Kết hợp 2 yếu tố A, B với giá thể nền (1 tro trấu : 1 xơ dừa) được 9 nghiệm
thức, mỗi nghiệm thức 7 cây, thí nghiệm lặp lại 3 lần.
Kết quả thí nghiệm thu được như sau:
-

Giá thể A2B0 (20 % phân trùn gà + 0 % phân trùn bò + nền) luôn cho
CDN tối đa, số nhánh là 12,57 nhánh, số hoa 28,81 hoa, đường kính


vii

Danh sách các hình

ix

Danh sách các biểu đồ

x

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1

2. TỔNG QUAN

3

2.1 Giới thiệu về cây dừa cạn Catharanthus roseus (L.) G. Don

3

2.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm hình thái, sinh thái của dừa cạn

3

2.1.2 Giá trị của dừa cạn

4


12

3. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

16

3.1 Mục tiêu

16

3.2 Đối tượng và phạm vi, thời gian và địa điểm nghiên cứu

16

3.3 Nội dung nghiên cứu

16

3.4 Phương pháp nghiên cứu

16
iii


3.4.1 Vật liệu nghiên cứu

16

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu


4.1 Kết quả ảnh hưởng của
liều lượng và loại phân trùn đến sự phân nhánh dừa cạn rũ

21

4.2 Kết quả ảnh hưởng của liều lượng và loại phân trùn
đến sự phát triển CDN và tốc độ tăng trưởng CDN dừa cạn rũ

22

4.2.1 Giai đoạn 38 NSG

22

4.2.2 Giai đoạn 45 NSG

23

4.2.3 Giai đoạn 52 NSG

24

4.2.4 Giai đoạn 59 NSG

25

4.2.5 Giai đoạn 66 NSG

27

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

36

5.1 Kết luận

36

5.2 Kiến nghị

36

iv


TÀI LIỆU THAM KHẢO

38

PHỤ LỤC

41

v


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDN

Chiều dài nhánh


Tổng số

vi


DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG

TRANG

Bảng 2.1 Hàm lượng đạm và lân trong một số cây phân xanh (% chất khô)

7

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng (Đơn vị %)

8

Bảng 2.3 Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng trong phân trùn bò

9

Bảng 2.4 Hàm lượng NPK tổng số
trong phân chuồng gà và phân chuồng bò (Đơn vị %)

9

Bảng 2.5 Hàm lượng NPK tổng số
trong phân chuồng bò và phân trùn bò (Đơn vị %)

23

Bảng 4.6 Bảng phân tích Anova giữa các nghiệm thức (3)

23

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của lượng phân trùn đến CDN (cm) dừa cạn rũ 52 NSG

24

Bảng 4.8 Bảng phân tích Anova giữa các nghiệm thức (4)

25

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của lượng phân trùn đến CDN (cm) dừa cạn rũ 59 NSG

25

Bảng 4.10 Bảng phân tích Anova giữa các nghiệm thức (5)

26

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của lượng phân trùn đến CDN (cm) dừa cạn rũ 66 NSG 27
Bảng 4.12 Bảng phân tích Anova giữa các nghiệm thức (6)

27

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của lượng phân trùn đến CDN (cm) dừa cạn rũ 73 NSG 28
Bảng 4.14 Bảng phân tích Anova giữa các nghiệm thức (7)




DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH

TRANG

Hình 2.1 Hoa dừa cạn rũ

3

Hình 2.2 Dừa cạn rũ ngày càng được ưa chuộng

4

Hình 2.3 Dừa cạn trong vườn ươm

5

Hình 2.4 Dừa cạn trên thị trường

6

Hình 2.5 Dừa cạn khoe sắc trên ban công

6

Hình 2.6 Quy trình sản xuất phân trùn

10


31

x


Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, cuộc sống càng phát triển, con người càng muốn tìm về với thiên
nhiên để có những phút giây thư giãn sau những lo toan bộn bề của cuộc sống. Tốc
độ đô thị hoá ngày càng cao, những công trình xây dựng mọc lên san sát luôn đòi
hỏi phải có phần mảng xanh đi kèm. Những ngôi nhà cao tầng, chung cư hay biệt
thự đều cần những giàn hoa, chậu cảnh xanh tươi để làm mềm đi nét thô cứng của
nó. Việc mang thiên nhiên vào nhà dường như đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu của người dân thành phố. Bên cạnh việc trồng cây, đặt chậu dưới đất, cho dây
leo bám lên tường, hàng rào, thì treo những giỏ cây, giỏ hoa xinh xắn trên cao cũng
đem lại nhiều điểm nhấn thú vị cho không gian nhà phố. Những giỏ treo có một
công dụng đặc biệt trong trang trí cảnh quan. Nó thật sự đem lại nhiều điều mới mẻ
trong việc thiết kế. Ở những nơi như hàng hiên, ban công, hành lang, cửa sổ, lối đi
hay thậm chí trong nhà thường rất khó thiết kế mảng xanh nên rất khô khan. Khi đó,
chậu treo là một lựa chọn tuyệt vời, không chỉ có tác dụng làm tươi mát ngôi nhà
mà còn tạo sự nên thơ quyến rũ cho những không gian vốn đơn điệu này.
Những loài hoa trồng trong chậu treo thường là những loài kiểng lá nhỏ hoặc
hoa ngắn ngày nên các nhà vườn phải nghiên cứu phương pháp trồng sao cho rút
ngắn được thời gian sinh trưởng, kéo dài thời gian ra hoa và nâng cao chất lượng
hoa. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây là giá thể. Nó
được xem như là môi trường sống của cây, cung cấp nguồn dinh dưỡng thiết yếu
cho cây, và duy trì độ ẩm, cung cấp nước cho cây trồng. Duy trì được các chất dinh
dưỡng lâu dài cho cây hấp thu có vai trò rất quan trọng, và một trong những giải
pháp đó chính là sử dụng phân hữu cơ. Phân hữu cơ được xem như là nguồn cung



Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu về cây dừa cạn rũ (Catharanthus roseus (L.) G. Don):
2.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm hình thái, sinh thái của dừa cạn rũ:
Dừa cạn có tên khoa học là Catharanthus roseus (L.) G. Don thuộc họ
Apocynaceae, còn có tên gọi khác là hải đằng, dương giác, bông dừa, bộng giếng,
trường xuân hoa. Các danh pháp đồng
nghĩa có Vinca rosea, Ammocallis rosea,
Lochnera rosea.
Chi Catharanthus có nguồn gốc ở
Madagasca, loài dừa cạn được di nhập sang
nhiều nước nhiệt đới ở Nam Á cũng như
Đông Nam Á trong đó có Việt nam và đảo
Hải Nam – Trung Quốc. Vào đầu khoảng
giữa thế kỷ 18, dừa cạn được trồng ở Paris,
sau đó có mặt tại nhiều vườn thực vật khác

Hình 2.1 Hoa dừa cạn rũ
(Nguồn Tranbichnga.blogspot.com)

ở Châu Âu.
Dừa cạn rũ là một giống mới của dừa cạn, cành nhánh thay vì mọc đứng thì
buông rũ xuống, phù hợp với việc trồng trong giỏ treo. Nhánh dừa cạn có thể dài tới
40 cm. Lá nguyên đơn, mọc đối chéo chữ thập, lá có dạng hình ôvan hay thuôn dài,
dài 2,5 – 9 cm và rộng 1 – 3,5 cm, mặt trên màu xanh bóng, đậm hơn mặt dưới,
không có lông, cuống lá ngắn (1 – 1,8 cm). Gân lá hình lông chim lồi mặt dưới, màu
nhạt hơn lá. Hoa mọc đơn hoặc 2 – 3 cái ở nách lá phía gần ngọn thân, ở đầu cành.
Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5, tiền khai hoa vặn cùng chiều kim đồng hồ. Hoa có màu


bộ phận của cây, nhiều nhất là thân và rễ. Dừa cạn

(Nguồn

Việt Nam có tỷ lệ alkaloid toàn phần là 0,1 % – 0,2

Caycanhphuongnam.com)

%. Rễ chứa hoạt chất (0,7 % – 2,4 %) nhiều hơn
trong thân (0,46 %) và lá (0,37 % – 1,15 %). Trong dân gian vẫn dùng dừa cạn trị
cao huyết áp, trị bệnh tiểu đường, điều kinh, chữa tiêu hóa kém và chữa lỵ, thông
tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít. (Nguồn Uphcm.edu.vn)
2.1.3 Tình hình nghiên cứu cây dừa cạn rũ:
Phạm Thị Yến Thơ (2009) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “So sánh sự sinh
trưởng và phát triển của một số giống dừa cạn (Catharanthus roseus) nhập nội trồng
tại quận 9, Tp.HCM”. Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống dừa cạn nhập nội:

4


Mediterranean Apricot Broadeye, Mediterranean Lilac, Vitesse Strawberry Twist,
Tropic Cherry Red có khả năng thích nghi cao, sinh trưởng và phát triển tốt, phân
cành mạnh, chất lượng hoa tốt trong điều kiện sinh thái ở quận 9, thành phố Hồ Chí
Minh, có thể chọn các giống trên để thay thế giống dừa cạn địa phương và giống
Prince Apricot (Đối chứng).
Lê Thị Mai Hồng (2010) đã thực hiện đề tài nghiên cứu loại giá thể gieo
trồng giống dừa cạn Vinca minor vào mùa nắng và mùa mưa trong điều kiện khí hậu
thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả ghi nhận được trong giai đoạn ươm cây, giá thể tro
trấu + xơ dừa + phân bò tỉ lệ 1 : 2 : 1 cho chỉ tiêu về số lá và chiều cao cây tối đa

các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Ngoài việc làm tăng năng suất
cây trồng, phân hữu cơ còn có tác dụng cải tạo đất. Hàm lượng các chất dinh dưỡng
chứa trong phân hữu cơ phụ thuộc vào nguồn gốc của phân, biện pháp bảo quản.
Phân rác (còn được gọi là phân campốt) là phân hữu cơ được chế biến từ cỏ
dại, rác, thân lá cây xanh, bèo tây, rơm rạ, chất thải rắn thành phố … ủ với một số
phân men như phân chuồng, lân, vôi… đến khi hoai mục. Phân rác có thành phần
dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổi trong những giới hạn rất lớn tuỳ
thuộc vào bản chất và thành phần của rác.
Phân xanh là phân hữu cơ sử dụng các loại cây lá tươi bón ngay vào đất
không qua quá trình ủ do đó chỉ dùng để bón lót. Cây phân xanh thường được dùng
là cây họ đậu như điền thanh, muồng, keo dậu, cỏ Stylo, điên điển…, tuy nhiên một
số loài cây thuộc các họ khác như cỏ lào, cây quỳ dại,… cũng được nhiều nơi dùng

6


làm phân xanh. Phân xanh có nhiều loài được nông dân gieo trồng với mục đích làm
phân bón, nhưng cũng có một số loài cây mọc hoang dại được sử dụng làm phân
xanh.
Bảng 2.1 Hàm lượng đạm và lân trong một số cây phân xanh (% chất khô)
Cây phân xanh

Đạm (N)

Lân (P2O5)

Muồng lá tròn

2,74


0,32

Bèo hoa dâu

4,75

0,64

Bèo tấm

2,80

0,39

(Nguồn Sách Hỏi đáp về đất, phân bón và cây trồng)
Phân chuồng là hỗn hợp chủ yếu của phân, nước tiểu gia súc và chất độn.
Trung bình mỗi đầu gia súc nuôi nhốt trong chuồng, sau mỗi năm có thể cung cấp
một lượng phân chuồng (kể cả độn) như sau:
Lợn 1,8 – 2,0 tấn/con/năm
Dê 0,8 – 0,9 tấn/con/năm
Trâu bò 8,0 – 9,0 tấn/con/năm
Ngựa 6,0 – 7,0 tấn/con/năm.
Phân chuồng không những cung cấp thức ăn cho cây trồng mà còn bổ sung
chất hữu cơ cho đất giúp cho đất được tơi xốp, tăng độ phì nhiêu, tăng hiệu quả sử
dụng phân hóa học.
Chất lượng và giá trị của phân chuồng phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm
sóc, nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng và cách ủ phân.

7


Trâu bò

83,1

0,29

0,17

1,00

0,35

0,13

Ngựa

75,7

0,44

0,35

0,35

0,15

0,12




Mn: 500 – 2000 g
Co: 2 – 10 g
Cu: 50 – 150 g
Zn: 200 – 1000 g
Mo: 2 – 25 g
Phân vi sinh là chế phẩm phân bón được sản xuất bằng cách dùng các loại vi
sinh vật hữu ích cấy vào môi trường là chất hữu cơ. Khi bón cho đất các chủng loại
vi sinh vật sẽ phát huy vai trò của nó như phân giải chất dinh dưỡng khó tiêu thành
dễ tiêu cho cây hấp thụ, hoặc hút đạm khí trời để bổ sung cho đất và cây.
Phân sinh học hữu cơ là loại phân có nguồn gốc hữu cơ được sản xuất bằng
công nghệ sinh học (như lên men vi sinh) và phối trộn thêm một số hoạt chất khác
để làm tăng độ hữu hiệu của phân, hoặc khi bón vào đất sẽ tạo môi trường cho các
quá trình sinh học trong đất diễn ra thuận lợi góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Phân trùn là kết quả của sự chuyển hóa các sản phẩm hữu cơ bởi trùn đất.
Sau khi ăn các loại chất thải hữu cơ, trùn quế sẽ cho ra nguồn phân hữu cơ giàu
dưỡng chất vi lượng, sạch sâu bệnh và đồng nhất. Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng

8


đất mùn, có lẫn trứng và ấu trùng của trùn quế. Theo các nhà nghiên cứu, phân trùn
là loại phân hữu cơ tự nhiên duy nhất hiện nay có chứa đầy đủ hàm lượng các chất
cần thiết cho các loại cây trồng. Hầu hết hàm lượng dinh dưỡng trong phân trùn ở
dạng dễ tiêu, cây trồng có thể hấp thu dễ dàng.
Bảng 2.3 Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng trong phân trùn bò
pH
C
H2O KCl %
7,0 6,4
13

K
Dt mg
/ 100g
7,69

(Theo Nguyễn Thị Mộng Thu, 2005)
Bảng 2.2 và bảng 2.3 cho thấy lượng đạm và lân tổng số trong phân chuồng
gà cao hơn trong phân chuồng bò, còn lượng kali thì phân chuồng gà thấp hơn.
Bảng 2.4 Hàm lượng NPK tổng số trong phân chuồng gà và phân chuồng bò
(Đơn vị %)
Loại phân
Trâu bò


N
0,29
1,63

P2O5
0,17
1,54

K2O
1,00
0,85

Như vậy, phân chuồng gà thúc đẩy sinh trưởng của cây tốt hơn phân chuồng
bò, thích hợp bón cho cây vào giai đoạn còn non. Khi cây ra hoa kết trái cần nhiều
kali nên bón phân chuồng bò để bổ sung kali cho cây.
Cũng theo bảng 2.2 và bảng 2.3, phân chuồng bò sau khi chuyển hoá thành


Hình 2.7 Bể nuôi trùn quế
(Nguồn Khoahoc.com.vn
2.2.2 Khái quát về phân trùn:
Phân trùn có khả năng cải tạo lý hóa tính của đất rất tốt, là một trong những
loại giá thể rất tốt để gieo ươm cây trồng hay làm phân hữu cơ để cải tạo đất.
Phân trùn giúp thâm canh tăng năng suất, chất lượng cây trồng, tăng tỉ lệ nảy
mầm hạt giống, cây con phát triển nhanh, tỉ lệ sống cao, trổ hoa nhiều, màu đẹp,

10


đồng thời mang lại hiệu quả cao hơn khi bón kết hợp phân vô cơ. Phân trùn có khả
năng giúp người nông dân rút ngắn thời gian trồng, phát huy tác dụng tốt trong hai
mùa vụ ngắn ngày liên tiếp, không để lại trong cây trồng hay trong đất bất cứ dư
lượng hoá chất hay phụ phẩm độc hại nào. Trong các chương trình sản xuất rau
sạch, rau chất lượng cao thì sử dụng phân trùn làm nguồn phân hữu cơ sạch là tốt
nhất.
Phân trùn có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu cơ. Điều
này ngăn ngừa cây trồng hấp thu nhiều phức hợp khoáng hơn nhu cầu của chúng.
Phân trùn hoạt động như một máy ổn định độ pH, giúp cây phát triển trong đất ở độ
pH quá cao hay quá thấp. Hơn nữa, phân trùn không có mùi hôi thối như các loại
phân gia súc, gia cầm, lại có thể lưu giữ lâu ngày trong túi nilon mà không bị mốc,
rất thuận lợi cho việc bảo quản và vận chuyển.
Sự chuyển hóa rác hữu cơ vào đất khoáng thông qua hoạt động của trùn đất
làm tăng việc phân giải chất hữu cơ, hòa tan các dưỡng chất, gia tăng hạt kết dính
bền vững của phân trùn. Khả năng đào bới rất lớn của trùn cải thiện độ thoáng khí
của đất. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy chúng thúc đẩy nhanh sự phát
triển của thực vật (Edwards, 2000) và có thể bổ sung chúng vào đất nghèo dinh
dưỡng, ngăn cản sự xói mòn đến mức thấp nhất. (Theo Võ Văn Hiệp, 2005).

nhập các giống trùn đất. Chỉ sau 4 – 5 năm, mỗi ha mặt đất đã có trên 3 tấn thảm lá
rụng, lớp thảm này nhanh chóng bị phân hủy thành chất mùn nhờ hoạt động của
trùn đất. Tại Ấn Độ và Trung Quốc việc sản xuất phân trùn từ phân chuồng, rơm rạ,
cây xanh và rác thải hữu cơ cũng đã được áp dụng và mang lại nhiều hiệu quả.
(Theo Võ Văn Hiệp, 2005).
Nhiều nước trên thế giới dùng trùn quế để chế biến thức ăn như Italy (món
patê), Nhật Bản (bánh quy), Australia (ốplết), Hàn Quốc (cháo giun)... Hàng ngàn
năm qua, tại Trung Quốc, người ta đã biết sử dụng trùn trong những bài thuốc chữa
bệnh. Nhật và Canada là hai quốc gia sử dụng trùn nhiều nhất thế giới trong việc
chế biến mỹ phẩm. (Theo Khoahoc.com.vn)
2.2.3.2 Trong nước:
Ở nước ta, mô hình sản xuất phân trùn đã và đang được nhân rộng. Người
nông dân dùng chất thải động vật, rác hữu cơ nuôi trùn đất làm thức ăn cho gia cầm,

12


tôm, cá,…, phân thải của trùn dùng làm phân bón cho cây. Hội Khoa học Kỹ thuật
Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh nhận định việc áp dụng trồng cỏ vetiver kết hợp
nuôi trùn là một phương pháp khả thi để xử lý rác thải. Trung tâm Sinh học Thực
nghiệm Hà Nội khuyến cáo mỗi gia đình nên bố trí một chỗ để nuôi trùn. (Theo Võ
Văn Hiệp, 2005).
Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM đang có nhiều chương trình nghiên cứu
ứng dụng phân trùn vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất ra phân hữu cơ sinh học NL –
Phc đã được nhiều vùng áp dụng trồng rau như tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An,
Sóc Trăng, Đồng Nai, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đạt được kết quả
rất khả quan. (Theo Võ Văn Đông, 2005).
Năm 2010, nhóm sinh viên khoa Môi trường, trường Đại học Bách khoa Đà
Nẵng đã thực hiện đề tài khoa học “Nghiên cứu quá trình sản xuất phân hữu cơ từ
rác thải với sự tham gia của trùn quế”. Giống trùn quế được nghiên cứu là Perionyx


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status