Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng dưa chuột trồng trong khay xốp vụ thu đông 2009 - Pdf 67

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là loại thực phẩm quan trọng không thể thiếu trong bữa
ăn hàng ngày của mọi gia đình. Rau cung cấp nhiều loại dinh dưỡng cần
thiết cho sự phát triển của cơ thể như: vitamin, protein, lipit,
khoáng chất, hydrat cacbon…và các chất xơ cần thiết cho sự tiêu hoá.
Rau là nguồn cung cấp vitamin rất phong phú về thành phần và hàm
lượng
lại rẻ tiền.
Thời gian gần đây, khi mà đời sống nhân dân được cải thiện thì nhu cầu
con người về rau càng cao không chỉ là số lượng mà còn cả chất lượng
rau. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho diện
tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần trong đó có cả diện tích đất trồng
rau, mặt khác chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt đô thị ảnh
hưởng mạnh tới nền nông nghiệp bền vững nói chung và an toàn thực
phẩm
nói riêng trong đó có ngành sản xuất rau.
Hiện nay, rau được bày bán tràn ngập trên thị trường các thành phố
lớn, những khu đông dân cư với số lượng khá lớn. Tất cả các hộ ở Việt
Nam đều tiêu thụ rau quả. Trong điều tra mức sống ở Việt Nam năm
1998
cho biết tất cả các hộ đều tiêu thụ rau, với mức tiêu thụ trung bình
hàng năm là 53,25 kg rau đối với một người [15]. Tuy nhiên, chất lượng
của rau trên thị trường chưa được quan tâm đúng đắn cụ thể như thực
trạng rau không sạch, nhiều tàn dư chất bảo vệ thực vật do quá lạm
dụng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng quá nhiều chất kích thích tăng
trưởng. Trong khi đó rau sạch bày bán trong các cửa hàng hay siêu thị
lại có giá cao mà vẫn không đảm bảo được chất lượng, chưa phù hợp với
thu nhập của đại đa số người dân. Rau tự trồng không chỉ đáp ứng được
nhu cầu trực tiếp trong sinh hoạt hàng ngày mà nó còn là một cách
trang trí cho căn nhà của mình. Tự thiết kế cho mình một vườn rau nho

1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại
trên cây dưa chuột trồng trong khay xốp với những công thức phối trộn
giá thể khác nhau.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của dưa chuột.
- Xác định được công thức phối trộn giá thể thích hợp cho sản xuất dưa
chuột trong khay xốp.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của dưa chuột trồng trong khay xốp với
những công thức phối trộn giá thể khác nhau.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với cây dưa chuột
Điều kiện môi trường tác động đến sinh trưởng của cây dưa, bao
gồm: khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ), thổ nhưỡng, yếu tố sinh vật
và tác động của con người. Về mặt sinh lý học cây dưa chuột phản ứng
mạnh với tác động của điều kiện ngoại cảnh.
2.1.1. Nhiệt độ:
Dưa chuột cũng như các cây trong họ bầu bí rất mẫn cảm với sương giá
đặc biệt là nhiệt độ thấp [2]. Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, yêu
cầu khí hậu ấm áp và khô ráo để sinh trưởng, phát triển. Dưa chuột yêu
cầu đất ấm áp để nảy mầm, nhiệt độ bình thường tối thiểu từ 10-180C.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình nảy mầm là rất lớn vì vậy phải
nghiên cứu kỹ mới đi đến quyết định khi nào và ở đâu có thể gieo thẳng
dưa chuột. Nhiệt độ tối thiểu cho dưa chuột nảy mầm là 15,50C, nhiệt
độ tối đa là 40,50C, nhiệt độ thích hợp là >15,5-350C. Nhiệt độ thích
hợp cho sinh trưởng là 200C. Ở 120C cây sinh trưởng rất chậm, ở nhiệt
độ thấp kéo dài (150C) các giống sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn,
lá nhỏ, hoa đực màu nhạt, vàng úa. Ở 50C hầu hết các giống dưa chuột
có nguy cơ bị chết rét, khi nhiệt độ lên cao 400C cây ngừng sinh
trưởng, hoa cái không xuất hiện. Lá bị héo khi nhiệt độ trên 400C. Hầu
hết các giống dưa chuột đều phải qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ

từ 90-100% độ ẩm đồng ruộng. Dưa chuột kém chịu hạn, nếu thiếu nước
cây không những sinh trưởng kém mà còn tích luỹ chất cucurbitancin gây
đắng trong quả. Chất này thường tập trung nhiều ở phần cuối thân và
dưới lớp vỏ cây.
Khi thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả bị đắng và
cây dễ bị nhiễm virus. Thời kỳ cây ra hoa, tạo quả yêu cầu lượng nước
cao nhất. Hạt nảy mầm, yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt
[6].
2.1.4. Đất và dinh dưỡng:
Cây dưa chuột ưa thích đất màu mỡ, giàu chất hữu cơ, đất tơi xốp, độ
pH từ 5,5-6,8 và tốt nhất từ 6-6,5. Dưa chuột gieo trồng trên đất thịt
nhẹ, đất cát pha thường cho năng suất cao, chất lượng quả tốt.
Cây dưa chuột yêu cầu độ phì trong đất rất cao. Dinh dưỡng khoáng
không đủ ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và phát triển của cây.
Bón phân chuồng với phân khoáng một cách hợp lý sẽ làm tăng lượng
đường trong quả. Ở thời kỳ đầu sinh trưởng cây cần đạm và lân, cuối
thời kỳ sinh trưởng cây không cần nhiều đạm, nếu giảm bón đạm sẽ làm
tăng thu hoạch một cách rõ rệt. Cây dưa chuột lấy dinh dưỡng từ đất ít
hơn rất nhiều so với cây rau khác (cà chua, cải bắp). Thí dụ: nếu năng
suất dưa chuột là 30 tấn/ha thì lượng NPK do cây lấy đi từ đất là 170
kg, trong khi đó cải bắp muộn năng suất là 70 tấn/ha, yếu tố NPK cây
sử dụng là 630 kg [1].
Khi nghiên cứu về hiệu suất sử dụng phân khoáng chủ yếu của dưa chuột
thấy rằng: dưa chuột sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, thứ đến đạm
rồi đến lân. Khi bón N60 P60 K60 thì dưa chuột sử dụng 92% đạm, 33%
lân và 100% kali. Dưa chuột không chịu được nồng độ phân cao nhưng
lại
nhanh chóng phản ứng với hiện tượng thiếu dinh dưỡng. Phân hữu cơ,
đặc
biệt là phân chuồng có tác dụng rõ rệt làm tăng năng suất ruộng dưa

- Khay chậu làm bằng đá: loại khay chậu này trọng lượng lớn, đắt, khó
tìm và khi trồng cây khả năng thoát nước kém.
- Khay chậu làm bằng đồ gốm tráng men: khay chậu loại này đẹp, bắt mắt
nhưng không thông thoáng cho sự phát triển của rễ cây.
Tác giả Richard Jauron và cộng sự [23] đưa ra kích thước tối thiểu của
khay chậu và số lượng cây trồng cho một số cây như sau:
Cây trồng Kích thước tối thiểu của khay chậu Số cây/1 khay chậu
Bắp cải 1 gallon -
Củ cải đường 2 gallon 1
Cà rốt 2 gallon -
Dưa chuột 1 gallon 2
Cây cà 2 gallon 1
Đậu xanh 1 gallon 2-3
Rau diếp 1 gallon 4-6
Mùi tây ½ gallon 1
Ớt 2 gallon 2
Củ cải đỏ 2 gallon -
Rau dền 1 gallon -
Củ cải đường Thuỵ Sĩ 1 gallon 1
Cà chua Chery 1 gallon 1
Cà chua Standard 3 gallon 1
( 1 gallon= 4,546 lít ở Anh)
Tuy nhiên theo Tammy Kohleppel và Dan Lineberger [16], khay chậu
làm
bằng bất cứ vật liệu gì và kích cỡ bao nhiêu đều phải có lỗ thoát
nước. Lỗ thoát nước có thể ở đáy hoặc ở mặt bên của khay chậu. Ở bên
dưới đáy của khay chậu nên bổ sung 1 lớp sỏi thô dày 1 inch để dễ
thoát nước.
2.2.1.2. Nghiên cứu về dinh dưỡng bón cho rau trồng trên giá thể
Theo các nhà khoa học của Trung tâm nhà vườn, trường đại học

bùn rêu nước + 1 cát thì bổ sung 1,8kg đá vôi nghiền + 1,5kg
supephotphat 20% + 740g KNOP3 + 1,2g NH4NO3.
Lawtence và Neverell (1950) [17] cho biết ở Anh bổ sung 1,5kg đá vôi
nghiền và 3kg supephotphat 20%P2O5 vào 1m3 hỗn hợp giá thể là hợp lí.
Nhưng khi sử dụng cho hỗn hợp trồng cây là 1,5kg đá vôi nghiền + 8,5kg
phân bazơ + 12kg phân N-P-K dạng 5-10-10 cho 1m3 hỗn hợp bầu.
Theo Kaplina (1976) hỗn hợp làm bầu cho bắp cải, cải xanh và dưa chuột
được bổ sung 1g N, 4g P2O5, 1g K2O cho 1kg hỗn hợp giá thể cho cây
con
sinh trưởng, phát triển tốt hơn trồng cây trực tiếp từ hạt. Ngoài ra
tác giả còn cho biết vai trò của chất khoáng có ảnh hưởng trực tiếp
đến tốc độ sinh trưởng của cây con. Có thể trộn thêm 0,5kg supelân cho
10kg hỗn hợp giá thể nhằm xúc tiến quá trình hình thành và phát triển
của hệ rễ.
2.2.1.3. Nghiên cứu về giá thể trồng rau
Giá thể trồng cây cũng có rất nhiều loại nhưng hầu hết được phối trộn
từ các vật liệu dễ kiếm trong tự nhiên như: trấu hun, xơ dừa, mùn cưa,
cát, bột đá…tuy nhiên giá thể được tạo ra phải có độ thông thoáng và
có khả năng giữ nước tốt.
Ở các nước đang phát triển, hỗn hợp đặc biệt gồm đá trân châu, than
bùn có sẵn ở dạng sử dụng được cung cấp ngay cho mục đích thay thế
cho
đất. Các trang trại thâm canh chủ yếu ở các nước đang phát triển thiên
về nhập khẩu những hỗn hợp không phải là đất này, không có khả năng
khai thác việc sử dụng vật liệu sẵn có ở địa phương. Thực tế, môi
trường nhiệt đới có rất nhiều vật liệu có thể sử dụng pha chế hỗn hợp
bầu trong vườn ươm. Hỗn hợp bầu trong vườn ươm cần đảm bảo khả
năng
giữ nước và làm thoáng khí, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây
trồng, sạch bệnh. Hỗn hợp bầu vườn ươm được sử dụng có rất nhiều công

theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm mùn sét, mùn cát sét và
mùn cát có tỉ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả. Cho thêm
5,5- 7,7g bột đá vôi và 7,7- 9,6g supe photphat cho 1 đơn vị thể tích.
Bunt (1965) [21] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (tính theo thể tích) 1
than bùn rêu nước + 1 cát + 2,4kg/m3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng
cây: 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg đá vôi nghiền đều cho thấy
cây con mập, khoẻ.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1. Nghiên cứu về dinh dưỡng bón cho rau trồng trên giá thể
Ngô Thị Hạnh (1997),[12] Viện rau quả Hà Nội đưa ra công thức phối
trộn giá thể cho gieo cải bao trong khay gồm đất + cát + phân chuồng +
trấu hun theo tỷ lệ 3:1:1:1 và lượng NPK là 500g sunphat amon, 500g
supe photphat và 170g clorua kali trong 1tấn giá thể.
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Lê Hữu Phan (2001) [13] qua thực tế cho biết:
trong nhà lưới có mái che, cứ 100kg đất than bùn thì trộn 10kg vôi
bột, 10kg supe lân và 6kg N-P-K con cò (13-8-12) và ủ 1-2 tháng rồi
đem vào khay để gieo hạt.
Theo Tạ Thu Cúc và cs., (2000) [1] cứ 10 kg giá thể gieo hạt rau trộn
thêm 0,5 kg supe lân để xúc tác quá trình hình thành và sinh trưởng
của rễ.
2.2.2.2. Nghiên cứu giá thể trồng rau
Trước đây giá thể chủ yếu sử dụng là cát hoặc sỏi. Ngày nay giá thể đã
được thay đổi rất nhiều. Như ta đã biết, cây cần cả oxi và dinh dưỡng
tiếp xúc với rễ cây. Giá thể lí tưởng là loại có khả năng giữ nước
tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của
giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó.
Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều
nước và oxi. Ngược lại, sỏi thô tạo ra những khoảng trống quá lớn,
nhiều không khí nhưng mất nước nhanh [25].
Giá thể lí tưởng phải có những đặc điểm:

dinh dưỡng trung và vi lượng cần thiết khác cho cây trồng. Giá thể GT
05 cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, có độ tơi
xốp, thoáng khí, nhẹ, sạch nguồn bệnh, không có tuyến trùng, hút và
giữ ẩm tốt. Trong sản xuất rau an toàn, GT 05 được sử dụng làm bầu
gieo ươm cây rau giống, sản xuất rau mầm, rau thương phẩm như các loại
rau ăn lá, rau ăn quả rất hiệu quả và thuận lợi [26].
Dòng sản phẩm đất Multi của Công ty TNHH Nguyên Nông Gino đã
được xử
lý bằng công nghệ sinh học, thích hợp khí hậu Việt Nam để trồng trong
khay, chậu, máng, bồn hay luống. Thành phần chính của hệ Multi là giá
thể hữu cơ từ bụi xơ dừa, phân trùn quế, rong biển, hệ vi sinh vật hữu
ích, bánh dầu lên men,...Đây là nguồn hữu cơ lâu dài, thân thiện môi
trường, không chất độc và vi sinh vật gây hại; hoàn toàn không có đất
thật, không dùng phân hoá học, thuốc trừ sâu bệnh hoá học. Hệ Multi có
11 sản phẩm riêng được phối trộn khác nhau để tạo nền dinh dưỡng cân
đối cho nhiều loại cây trồng; đồng thời có sự kết hợp liên hoàn giữa
các sản phẩm với nhau. Ví dụ: đất multi tổng quát, đất cho rau ăn lá,
đất rau ăn quả và hoa, đất ăn trái, đất ginut chuyên trồng rau mầm
[27].
Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội (2003) [11] qua nghiên
cứu bước đầu, đã đưa ra 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây
trồng như sau: cây hồng Đà Lạt: than bùn 76,5% + bèo dâu 13,5% + đất
10%; cây cảnh: than bùn 76,5% + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu + 10%
đất;
hoa giống: than bùn 45% + 22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% đất; ớt:
than bùn 67,5% + 22,5% trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5% than bùn
+
22,5% bèo dâu + 10% đất.
Theo Tạ Thu Cúc và cs., (2000) [1] ở những vùng có điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt và đối với những giống rau quý hiếm có thể gieo cây con

yếu dùng trấu hun và rơm rạ mục, miền Nam chủ yếu là xơ dừa ngoài ra
có bổ sung than bùn và phân chuồng hoai mục [9].
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trên giống dưa chuột
VC 29- giống dưa chuột vô hạn, là giống lai F1 do Viện Rau – Hoa - Quả
Hà Nội mới chọn tạo ra.
* Vật liệu nghiên cứu:
- Giá thể sử dụng để trồng dưa chuột gồm:
+ Đất: đất màu được phơi khô, đập nhỏ, sàng, rây nhằm loại bỏ đất to,
sỏi đá và các vật hỗn tạp.
+ Trấu hun: vỏ trấu đem hun không hoàn toàn, có tính thoát nước, thông
thoáng, nhẹ, xốp, không ảnh hưởng đến độ pH.
+ Xơ dừa: giữ nước, thông thoáng
+ Phân hữu cơ vi sinh: sử dụng phân hữu cơ sinh học Sông Gianh
- Khay xốp: rửa sạch, khử trùng bằng vôi, lót nilông đen
Kích thước khay xốp: dài 45cm, rộng 25cm, cao 30cm, dày 3cm
3.1.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
* Địa điểm nghiên cứu:
Khu thí nghiệm khoa Nông học- Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội-
Gia
Lâm- Hà Nội.
* Thời gian nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành từ 01/ 09/ 2009 đến 15/01/2010
3.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển, năng
suất và chất lượng dưa chuột trồng trong khay xốp vụ thu đông 2009
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm:

+ Từ gieo đến khi hoa nở (50%)
+ Từ gieo đến khi bắt đầu đậu quả
+ Thời gian từ gieo đến khi thu quả lần đầu, các lần tiếp theo và lần cuối
Tổng thời gian sinh trưởng: từ khi gieo đến khi thu đợt quả cuối cùng
(ngày).
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo từ sát mặt đất đến đỉnh sinh
trưởng của thân chính, theo dõi 10 cây/1CT/lần nhắc lại, định kỳ 7
ngày theo dõi 1 lần.
- Đặc điểm hình thái thân: đường kính thân cuối cùng
- Động thái ra lá: đếm số lá/thân chính, theo dõi 10 cây/1CT/lần nhắc
lại, theo dõi 7 ngày/lần.
● Chỉ tiêu về phát triển
- Vị trí xuất hiện hoa cái.
- Số hoa/cây
- Tỉ lệ đậu quả:
Số quả đậu
Tỉ lệ đậu quả (%) = × 100
Tổng số hoa cái
* Chỉ tiêu về sâu bệnh hại
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu hại
+ Đối tượng gây hại: Sâu xám, sâu khoang, sâu xanh, sâu đục quả,
ruồi đục quả, bọ trĩ, sâu vẽ bùa, rệp.
+ Mức độ gây hại: Đánh giá theo thang điểm của Trung tâm rau thế giới –
AVRDC.
Điểm 1: Không bị sâu hại
Điểm 2: Một số cây bị hại
Điểm 3: 50% số cây, số quả, số hạt bị hại
Điểm 4: Phần lớn các cây bị hại
- Đánh giá khả năng chống chịu bệnh hại
+ Đối tượng bệnh hại:

- Giá bán tại thời điểm thu hoạch
- Tổng thu tính theo giá bán tại thời điểm thu hoạch
- Lãi thuần = Tổng thu – Tổng chi.
3.3.3. Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm
IRRISTAT 4.0 và EXCEL trên máy tính.
3.4. Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Thời vụ: vụ thu đông
- Gieo trồng: gieo 4 hạt/khay vào 4 góc khay xốp và gieo hạt lên
luống. Ngoài ra, gieo hạt vào khay dùng để dặm.
- Tưới nước: tưới 2 lần/ngày (sáng và chiều)
- Sau gieo 10 ngày, một số cây bị sên ăn, chúng tôi đã tiến hành dặm.
- Làm giàn: sau gieo 20 ngày khi đã xuất hiện tua cuốn thì bắt đầu làm
giàn
- Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi hàng ngày phát hiện cây bệnh sớm, loại
bỏ mầm mống gây bệnh ngay khi xuất hiện.
- Bón phân:
+ Phun phân bón lá Pomior p-198: pha 25ml với 8lit nước để phun.
Phun lần đầu: sau gieo 12 ngày, các lần tiếp theo phun định kỳ 1
tuần/lần.
Sau gieo 30 ngày ngừng phun phân bón lá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status