Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cà chua trong nhà lưới có sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt - Pdf 67

PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần thức ăn của con
người.Rau cung cấp nhiều loại dinh dưỡng cầnthiết cho sự phát triển của cơ thể như:
vitamin, protein, lipitkhoáng chất, hydrat cacbon…và các chất xơ cần thiết cho sự tiêu
hoá.Rau không những cung cấp các chất dinh dưỡng, chất khoáng… cần thiết mà còn có
tác dụng phòng chống bệnh .Rau là nguồn cung cấp vitamin rất phong phú về thành phần
và hàm lượng lại rẻ tiền. Tuy nhiên rau chỉ thực sự đảm nhận được vai trò trên khi rau có
đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong những năm gần đây, do sự gia tăng nhanh
chóng khu đô thị, khu công nghiệp đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất độc hại và
chất bẩn gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở khu lân cận,
trong đó có vùng sản xuất rau. Ngoài ra, người sản xuất không sử dụng đúng cách các biện
pháp kỹ thuật như dùng một lượng lớn và không hợp lý các loại phân bón, hoá chất
BVTV… đã dẫn đến sự tích luỹ trong rau xanh dư lượng lớn các chất độc hại như NO3-,
kim loại nặng, thuốc BVTV, vi sinh vật có hại… quá mức cho phép theo quy định của
FAO, WHO và của Việt Nam làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của cộng đồng.
Cà chua là loại rau ăn quả quý có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao nên được
nhiều người ưa thích, là một trong những loại rau ưu tiên có chiều hướng phát triển mạnh
cả về lượng và chất.
Để sản xuất cà chua với số lượng lớn, cung cấp sản phẩm trong thời gian dài, độ
đồng đều cao, đặc biệt là phải đảm bảo chất lượng, an toàn cho con người là mục tiêu của
các chuyên gia trong ngành sản xuất rau. Trong những năm qua, các cơ quan chuyên môn,
nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau, một trong những
hướng được các nước ứng dụng rộng rãi và ngày càng hoàn thiện cao hơn là sản xuất theo
hướng công nghiệp. Ở nước ta, trước mắt và trong những năm tới ngành sản xuất rau cũng
không nằm ngoài quỹ đạo ấy. Lần đầu tiên ở Việt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội đã nghiên cứu thành công về công nghệ sản xuất rau an toàn không dùng đất, đã được
Việt Nam hoá trong điều kiện nước ta là một ví dụ.
Để nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo độ an toàn cần kết hợp rất nhiều yếu
tố với nhau. Một trong những hướng chúng tôi ưu tiên nghiên cứu là sự kết hợp giữa công
nghệ trồng cà chua trên các nền giá thể với giống thích hợp trong nhà lưới.xuất phát từ yêu

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1.
Nguồn gốc, phân bố và phân loại cà chua
1.1.1 Nguồn gốc:
Học thuyết về trung tâm phát sinh cây trồng của N.I. Valilov đề xướng và P.M.
Zukovxki bổ xung, cho rằng quê hương của cây cà chua ở vùng Nam Mỹ. Nhiều tài liệu
nghiên cứu của các tác giả De Calldolle (1884), Muler (1940), Lukwill (1943) và Sinskaia
(1969) cho rằng số lượng lớn của cà chua hoang dại cũng như cà chua trồng được tìm thấy
ở Pêru, Equado, Bolivia.
Quá trình thuần hoá và du nhập của cà chua đến các Châu lục có thể tóm tắt như sau.
Theo tài liệu từ Châu Âu thì chắc chắn cà chua được người Aztec và người Toltec
mang đến. Đầu tiên năm 1554 nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea Mattioli giới thiệu
những giống cà chua của Mehico có màu vàng nhạt và đỏ nhạt. Năm 1960 ở Bắc Âu thời
gian đầu cà chua chỉ được dùng để trang trí và thoả trí tò mò.
Mặc dù cà chua đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nhưng thời bấy giờ
người ta vẫn quan niệm là cà chua là một cây trồng độc hại vì nó có họ hàng với loại cà
độc dược.
Đầu thế kỷ thứ 18, các giống cà chua đã trở lên đa dạng và phong phú, nhiều vùng
đã trồng cà chua để làm thực phẩm. Cuối thế kỷ 18, cà chua mới được dùng làm thực phẩm
ở Nga và Italia.
Đến thế kỷ thứ 19 cà chua đã trở thành thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn
hàng ngày.
Những tiến bộ về dòng, giống cà chua là hoàn toàn dựa vào châu Âu. Năm 1863, có
23 giống được giới thiệu và trong vòng hai thập kỷ, dòng, giống cà chua được phát triển tới
hàng mấy trăm giống.Năm 1886, chương trình thử nghiệm của Liberty Hyde Bailey ở
trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại giống cà chua trồng
trọt. Từ năm 1870 đến 1893 ông đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được chọn lọc
theo phương pháp chọn lọc cá thể.
Quá trình chọn lọc và cải tiến giống được các nhà chọn giống thực hiện liên tục
không ngừng, đến nay giống cà chua đã trở lên phong phú và đa dạng, đáp ứng được nhu

1.1.3 Phân bố cà chua trên thế giới:
Trước khi Critxtốp Côlông phát hiện ra Châu Mỹ thì ở Pêru, Mêhicô đã có người trồng cà
chua, lúc bấy giờ được gọi là Tomati. Đầu thế kỷ XVI, cà chua được đưa vào Italia. Năm
1554 nhà thực vật học Mathiolus qua Italia phát hiện ra cà chua gọi là Gloten Apple.
Năm 1570 các nước Đức, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng đã biết trồng cà
chua có hình quả nhỏ. Năm 1596, ở Anh cà chua trồng dùng làm cây cảnh gọi là Love
Apple.
Sang thế kỷ XVII, cà chua được trồng rộng rãi khắp lục địa Châu âu, nhưng cũng chỉ được
xem như một loại cây cảnh và bị quan niệm sai lệch cho là loại quả độc. Đến thế kỷ XVIII,
cà chua mới được chấp nhận là cây thực phẩm ở Châu Âu, đầu tiên là ở Italia và ở Tây Ban
Nha [51].
ở Châu á, cà chua xuất hiện vào thế kỷ XVIII, đầu tiên là Philippin, đảo Java (Inđônêxia)
và Malayxia thông qua các lái buôn từ Châu Âu và thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha. Từ đó cà chua được phổ biến đến các vùng khác ở Châu á [51].Ở Bắc Mỹ lần
đầu tiên người ta nói đến cà chua là vào năm 1710, nhưng mới đầu chưa được chấp nhận
do quan niệm rằng cà chua chứa chất độc, gây hại cho sức khỏe. Tới năm 1830 cà chua
mới được coi là cây thực phẩm cần thiết như ngày nay [48].
Mặc dù lịch sử trồng trọt cà chua có từ rất lâu đời nhưng đến tận nửa đầu thế kỷ XX cà
chua mới trở thành cây trồng phổ biến trên toàn thế giới [51].
1.2 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế:
Cây cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chín có nhiều
dường, chủ yếu là đường glucoza, có nhiều vitamin: caroten, B1, B2, C; aixit amin và các
chất khoáng quan trọng; Ca, P, Fe….
Theo Edward C.Tigchelaar ( 1989 )thì thành phần hóa học của cà chua như sau:
Nước: 94-95%
Chất khô: 5-6%
Trong chất khô gồm có các chất chủ yếu sau:
- Đường (glucoza, fuctoza, sucroza): 55%
- Chất không hòa tan trong rượu ( protein, xenlulo, pectin, polysacarit ):21%
- Axit hữu cơ ( xitric, malic, galacturonic, pyrrolidon-caboxylic ): 12%

ngọai cảnh ( nhiệt độ ) và chất dinh dưỡng v.v…
Ở thời kỳ cây con, thân tròn, có màu tím nhạt, có lông tơ phủ dày, thân giòn dễ gãy, dễ bị
tổn thương
Khi trưởng thành cây có màu xanh hơi tối, thường có tiết diện đa giác, cây cứng, phần gốc
hóa gỗ
* Lá: Lá thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3 - 4 đôi lá chét, ngọn lá có 1 lá riêng
gọi là lá đỉnh. Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống. Phiến lá thường phủ
lông tơ. Đặc tính lá của giống thường thể hiện đầy đủ sau khi cây có chùm hoa đầu tiên.
* Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính. Sự thụ phấn chéo ở
cà chua khó xảy ra vì hoa cà chua tiết nhiều tiết tố chứa các alkaloid độc nên không hấp
dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay xa được. Số lượng hoa trên chùm thay đổi tùy
giống và thời tiết, thường từ 5 - 20 hoa
* Quả : Quả thuộc loại mọng nước, có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài.
Vỏ trái có thể nhẵn hay có khía. Màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết.
Thường màu sắc trái là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt trái
Quá trình chín của trái chia làm 4 thời kỳ:
+ Thời kỳ trái xanh: Trái và hạt phát triển chưa hoàn toàn, nếu đem dấm trái không chín,
trái chưa có mùi vị, màu sắc đặc trưng của giống.
+ Thời kỳ chín xanh: Trái đã phát triển đầy đủ, trái có màu xanh sáng, keo xung quanh hạt
được hình thành, trái chưa có màu hồng hay vàng nhưng nếu đem dấm trái thể hiện màu
sắc vốn có.
+ Thời kỳ chín vàng: Phần đỉnh trái xuất hiện màu hồng, xung quanh cuống trái vẫn còn
xanh, nếu sản phẩm cần chuyên chở đi xa nên thu hoạch lúc nay để trái chín từ từ khi
chuyên chở.
+ Thời kỳ chín đỏ: Trái xuất hiện màu sắc vốn có của giống, màu sắc thể hiện hoàn toàn,
có thể thu hoạch để ăn tươi. Hạt trong trái lúc nay phát triển đầy đủ có thể làm giống.
* Hạt: : Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng sáng hoặc hơi tối. Hạt nằm trong buồng
chứa nhiều dịch bào kiềm hãm sự nảy mầm của hạt. Trung bình có 50 - 350 hạt trong trái.
Trọng lượng 1000 hạt là 2,5 - 3,5g.
1.4. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển cây cà chua

Nghiên cứu của Calvert (1957) [35] cho thấy sự phân hoá mầm hoa ở 13oC cho số hoa trên
chùm nhiều hơn ở 18oC là 8 hoa/chùm, ở 14oC có số hoa trên chùm lớn hơn ở 20oC [66].
Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ phấn thụ
tinh, nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển của hoa, khi nhiệt độ (ngày/đêm) trên
30/24oC làm giảm kích thước hoa, trọng lượng no•n và bao phấn. Nhiệt độ cao làm giảm
số lượng hạt phấn, giảm sức sống của hạt phấn và của no•n. Tỷ lệ đậu quả cao ở nhiệt độ
tối ưu là 18-20oC. Khi nhiệt độ ngày tối đa vượt 38oC trong vòng 5-9 ngày trước hoặc sau
khi hoa nở 1-3 ngày, nhiệt độ đêm tối thấp vượt 25-27oC trong vòng vài ngày trước và sau
khi nở hoa đều làm giảm sức sống hạt phấn, đó chính là nguyên nhân làm giảm năng suất.
Quả cà chua phát triển thuận lợi ở nhiệt độ thấp, khi nhiệt độ trên 35oC ngăn cản sự phát
triển của quả và làm giảm kích thước quả rõ rệt [51].
Bên cạnh đó nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các chất điều hoà sinh trưởng có trong cây. Sau
khi đậu quả, quả lớn lên nhờ sự phân chia và sự phát triển của các tế bào phôi. Hoạt động
này được thúc đẩy bởi một số hooc môn sinh trưởng hình thành ngay trong khi thụ tinh và
hình thành hạt. Nếu nhiệt độ cao xảy ra vào thời điểm 2-3 ngày sau khi nở hoa gây cản trở
quá trình thụ tinh, auxin không hình thành được và quả non sẽ không lớn mà rụng đi.
Sự hình thành màu sắc quả cũng chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ, bởi quá trình sinh tổng
hợp caroten rất mẫn cảm với nhiệt. Phạm vi nhiệt độ thích hợp để phân huỷ chlorophyll là
14-15oC, để hình thành lycopen là 12-30oC và hình thành caroten là 10-38oC. Do vậy
nhiệt độ tối ưu để hình thành sắc tố là 18-24oC. Quả có màu đỏ - da cam đậm ở 24-28oC
do có sự hình thành lycopen và caroten dễ dàng. Nhưng khi nhiệt độ ở 30-36oC quả có
màu vàng là do lycopen không được hình thành. Khi nhiệt độ lớn hơn 40oC quả giữ
nguyên màu xanh bởi vì cơ chế phân huỷ chlorophyll không hoạt động, caroten và lycopen
không được hình thành. Nhiệt độ cao trong quá trình phát triển của quả cũng làm giảm quá
trình hình thành pectin, là nguyên nhân làm cho quả nhanh mềm hơn [51], [63]. Nhiệt độ
và độ ẩm cao còn là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh phát triển. Bệnh
héo rũ Fusarium phát triển mạnh ở nhiệt độ đất 28oC, bệnh đốm nâu (Cladosporiumfulvum
Cooke) phát sinh ở điều kiện nhiệt độ 25-30oC và độ ẩm không khí 85-90%, bệnh sương
mai do nấm Phytophythora infestans phát sinh phát triển vào thời điểm nhiệt độ thấp dưới
22oC, bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) phát sinh phát triển ở nhiệt độ

cần ít về sau cần nhiều. Độ ẩm đất 60-70% là phù hợp cho cây trong giai đoạn sinh trưởng
và 78-81% trong giai đoạn đậu quả, bắt đầu từ thời kỳ lớn nhanh của quả [55]. Lúc cây ra
hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất. Nếu ở thời kỳ này độ ẩm không đáp ứng, việc hình
thành chùm hoa và tỷ lệ đậu quả giảm.
Một số nghiên cứu cho thấy giữa năng suất cà chua và lượng nước bốc hơi trên lớp đất mặt
sâu 1 cm có mối quan hệ chặt chẽ. Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy một giống cà chua đạt
năng suất 220 tấn/ha thì hiệu quả sử dụng nước là 3,1 tấn/cm/ha lượng nước thoát hơi. ở
Tunisia, Van Otegenetal (1982) (dẫn theo Claude J.P, 1988), khi nghiên cứu tác động của
nước đối với cà chua đ• kết luận để đạt năng suất 113 tấn/ha thì hiệu quả sử dụng nước tối
đa là 2,95 tấn/cm/ha. Nghiên cứu trong điều kiện California, Claude cho rằng để tạo 1 kg
quả cà chua cần 32,3 kg nước.
Nhiều tài liệu cho thấy độ ẩm đất thích hợp cho cà chua là 60-65% (Barehyi,1971) và độ
ẩm không khí là 70-80%. Khi đất quá khô hay quá ẩm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát
triển và năng suất của cà chua. Biểu hiện của thiếu nước hay thừa nước đều làm cho cây bị
héo. Khi ruộng bị ngập nước, trong đất thiếu oxy, thừa khí cacbonic làm cho rễ cà chua bị
ngộ độc dẫn đến cây héo. Khi thiếu nước quả cà chua chậm lớn thường xảy ra hiện tượng
thối đáy quả, quả dễ bị rám do canxi bị giữ chặt ở các bộ phận già không vận chuyển đến
các bộ phận non.
Độ ẩm không khí quá cao (> 90%) dễ làm cho hạt phấn bị trương nứt, hoa cà chua không
thụ phấn được sẽ rụng (Tạ Thu Cúc, 1983). Tuy nhiên, trong điều kiện gió khô cũng
thường làm tăng tỷ lệ rụng hoa. Nhiệt độ đất và không khí phụ thuộc rất lớn vào lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status