BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐEN
TẠI HOÀI ĐỨC – HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ ĐÌNH CHÍNH
TS. NGUYỄN THIÊN LƯƠNG HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
Trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Vũ Đình Chính và TS. Nguyễn Thiên
Lương với cương vị người hướng dẫn khoa học, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tác
giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn khoa Nông Học, đặc biệt là Bộ môn Cây
Công Nghiệp Học Viện Nông Nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác
giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Bộ môn Bảo tồn Insitu và Khai thác nguồn
gen, Trung tâm Tài nguyên thực vật, các bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn của mình.
Hà Nội, ng
ày tháng năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Thanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 3
một số giống đậu tương đen vụ hè thu 2013 32
3.1.1 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian từ gieo đến mọc 32
3.1.2 Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương đen 33
3.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương đen 35
3.1.4 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống đậu tương đen 36
3.1.5 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương đen 38
3.1.6 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương đen 39
3.1.7 Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu tương đen 41
3.1.8 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống đậu tương đen 43
3.1.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương đen 45
3.1.10 Năng suất của các giống đậu tương đen 47
3.1.11 Hàm lượng protein, lipid và anthocyanin của các giống đậu tương đen 49
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo đến sự sinh trưởng,
phát triển và năng suất của 2 giống đậu tương đen thí nghiệm trong
điều kiện vụ hè thu tại huyện Hoài Đức, Hà Nội 51
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của 2 giống
đậu tương đen 52
3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây
của 2 giống đậu tương đen 52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của 2 giống đậu
tương đen 53
3.2.4 Ảnh hưởng mật độ trồng đến khả năng hình thành nốt sần của hai
giống đậu tương đen 55
3.2.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng tích lũy chất khô của hai
giống đậu tương đen 58
3.2.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng của 2 giống
đậu tương đen 59
3.2.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng chống chịu của 2 giống
IITA Viện Quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
KLCK Khối lượng chất khô
KL Khối lượng
KLNS Khối lượng nốt sần
NRCS National Research Center for Soybean
M.độ Mật độ
SLNS Số lượng nốt sần
TB Trung bình
Tk Thời kỳ
TT Thứ tự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Kết quả thu thập một số giống đậu tương đen ở Việt Nam từ năm
2011-2013 15
3.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống đậu tương đen 32
3.2 Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương đen (ngày) 34
3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu
tương đen 35
3.4 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống 36
3.5 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương đen 38
3.6 Số lượng và khối lượng nốt sần của các giống đậu tương đen 40
3.7 Khả năng tích lũy chất khô của các giống đậu tương đen 42
3.8 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ của các giống
đậu tương đen 44
STT Tên hình Trang
3.1 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống đậu tương
đen thí nghiệm 48
3.2 Hàm lượng Protein và Lipit của các giống đậu tương đen thí nghiệm 50
3.3 Ảnh hưởng của các mật độ đến năng suất lý thuyết và năng suất
thực thu của hai giống đậu tương đen 66 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương đen (Glycine max L. Merrill) là cây họ đậu thuộc vào
nhóm cây công nghiệp ngắn ngày và là cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao.
Trong thành phần hạt đậu tương đen có chứa 37 - 52% Protein. Protein trong đậu
tương đen chứa đầy đủ các loại axit amin cơ bản (Isoloxin, loxin, metionin,
phenilanin) và axit không thay thế (lysine, tryptophan). Bên cạnh Protein trong
hạt đậu tương đen còn chứa 11 - 21% lipit, 10-15 % gluxit, các vitamin (A, B1,
B2, B12, D, E), nhựa, sáp, các muối khoáng (Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S). Ngoài ra
trong thành phần vỏ đậu tương đen có chất anthocyanin, đây là một nguồn chất
chống oxy hóa và có thể loại các gốc tự do khỏi cơ thể (Aparicio và cs, 2005).
Trong lĩnh vực y học, đậu tương nói chung và đậu tương đen nói riêng còn
được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Các nhà khoa học Trung Quốc đã sử dụng đậu
tương đen làm thực phẩm chức năng và làm thuốc thảo mộc (Liao HF và cs, 2001).
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy đậu tương đen
Chính vì vậy để góp phần xây dựng quy trình thâm canh cây đậu tương
đen chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và ảnh
hưởng của mật độ đến sinh trưởng phát triển và năng suất một số giống đậu
tương đen tại Hoài Đức – Hà Nội”
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Nghiên cứu đề tài trên nhằm xác định được giống và mật độ gieo trồng
thích hợp cho đậu tương đen tại Hoài Đức – Hà Nội.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống
đậu tương đen trong điều kiện vụ hè thu tại Hoài Đức, Hà Nội.
- Đánh giá ảnh hưởng mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển, chống chịu
và năng suất của hai giống đậu tương đen ĐaVN và Đa140.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp một số dẫn liệu khoa học về
đặc điểm nông sinh học của một số giống đậu tương đen và mật độ trồng thích
hợp của 2 giống đậu tương đen ĐaVN và Đa140 tại Hoài Đức, Hà Nội.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học hoặc chỉ đạo sản xuất đậu tương.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần đề xuất giống đậu tương đen có năng
suất cao vào sản xuất.
- Góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng đậu tương đen trên đất
Hoài Đức – Hà Nội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1
chồn, khó chịu và giúp cải thiện giấc ngủ.
Ở Inđonesia đậu tương đen được lên men tạo thành tempe (nước tương).
Tempe là sản phẩm truyền thống ở Inđonesia, tempe được dùng trong bữa ăn chính
và bữa ăn nhẹ.
Với giá trị sử dụng như trên, cây đậu tương đen xứng đáng là một loại cây
trồng hiện đại và có nhiều triển vọng.
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về đậu tương đen và đậu tương trên thế giới
1.2.1. Nghiên cứu đậu tương đen trên thế giới
Đậu tương đen là một trong số cây trồng lâu đời tại Trung Quốc, Nhật Bản
và Hàn Quốc. Hiện nay, đậu tương đen cũng đã được trồng ở một số nước khác
như: Inđonesia, Việt Nam, Malaysia, Ấn Độ, Mỹ, Canada
Ở Nhật Bản, đậu tương đen thường được gọi “Tamba đen”, “Namib đen”.
Đậu tương đen được trồng nhiều ở các tỉnh miền tây của Nhật Bản, đặc biệt là các
tỉnh Kyoto và Hyogo. Hai tỉnh này được coi là hai vùng có nguồn gốc thứ nguyên
của đậu tương đen ở Nhật Bản.
Năm 2007, tại Kinki thuộc Kyoto diện tích trồng đậu tương đen là 2,500 ha
chiếm 30% tổng diện tích trồng đậu trên toàn huyện. Ở tỉnh Hyogo đậu tương đen
được trồng luân canh với cây lúa, diện tích trồng đậu tương đen chiếm 600ha.
Từ năm 2007 đến năm 2009, ở Nhật Bản thực hiện dự án phát triển công
nghệ sản xuất đậu tương đen ổn định tại Kinki. Dự án đã xây dựng được hệ thống
để chuẩn đoán thời điểm cung cấp nước cho cây đậu tương đen dựa vào bức xạ mặt
trời, nhiệt độ không khí và nhu cầu nước của cây.
Ở Ấn Độ, đậu tương đen bắt đầu được nghiên cứu và chúng được trồng tại
các tỉnh miền trung.
Với những kết quả nghiên cứu về thành phần các chất quan trọng và công
dụng của đậu tương đen trên thế giới thì hãng sản xuất Unilever đã có các chương
trình khuyến khích người nông dân trồng đậu tương đen, chương trình được thực
hiện tại Inđonesia. Ban đầu đậu tương đen chỉ được trồng ở tây Java với diện tích
nhỏ. Hiện nay, Unilever đã có dự án trồng đậu tương đen ở nhiều nơi, có sự tham
gia của bảy hợp tác xã với 6.600 nông dân và 1.100 ha được trồng mới. Từ dự án
nghiên cứu đã chọn tạo được giống Black Pearl, giống cho năng và chất lượng cao
rất phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của Canada. Hiện nay giống được công ty
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
PRO Seeds of Canada đưa vào sản xuất với diện tích lớn (Carolyn King, 2012).
Một nghiên cứu động vật của các nhà nghiên cứu tiến hành tại đại học
Shizuoka Nhật Bản và công ty chế biến thực phẩm Fujicco cho thấy đậu tương đen
có hiệu quả hơn so với đậu tương vàng trong việc ngăn ngừa các triệu chứng mãn
kinh. Nghiên cứu cho thấy những con chuột mãn kinh hoặc loại bỏ buồng trứng khi
ăn đậu tương đen đã làm giảm lượng cholesterol trong máu nhiều hơn khi ăn đậu
tương vàng. Sau bốn tuần, những con chuột mãn kinh ăn đậu tương đen giảm 31%
lượng cholesterol và những con chột mãn kinh ăn đậu tương vàng chỉ giảm được
16% lượng cholesterol trong máu.
Theo nghiên cứu của XuB, Chang SK (2008), trong đậu tương đen tổng hàm
lượng phenol, axit phenolic, anthocyanin và isoflavone cao làm giảm quá trình oxy
hóa. Đậu tương đen được sử dụng như thành phần tăng cường sức khỏe.
Kết quả nghiên cứu của Yasumasa Okazaki (2010), về nước giải khát được
làm từ quá trình lên men axit citric của đậu tương đen cho thấy: uống nước giải khát
10ml/1kg khối lượng cơ thể trước khi điều trị 30 phút sẽ duy trì hoạt động của các
enzym chống oxy hóa thận lâu hơn đáng kể so với không uống.
Hoạt tính kháng virus bệnh đường hô hấp ở người được tìm thấy trong dịch
chiết từ đậu tương đen đây là kết quả nghiên cứu của tác giả Yamai M và cs (2003).
Cũng theo nghiên cứu này hoạt tính kháng virus được tìm thấy từ lá mầm của hạt
đậu tương đen.
1.2.2. Một số kết quả nghiên cứu về đậu tương trên thế giới
Hiện nay, các nghiên cứu cây đậu tương trên thế giới được thực hiện bởi các
tổ chức nghiên cứu quốc tế và các chương trình như: chương trình nghiên cứu đậu
tương Quốc tế (INTSOY), Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế Australia
(ACIAR), Viện Quốc tế nông nghiệp nhiệt đới (IITA), mạng lưới đậu đỗ và ngũ cốc
Châu Á (CLAI), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau mầu Châu Á (AVRDC).
là thích hợp ở vùng khô hạn của Pakistan.
Những tiến bộ về năng suất đậu tương của Mỹ, Brazil, Argentina nhờ có
thành công trong nghiên cứu và sử dụng giống đậu tương mới. Nghiên cứu cho thấy
năng suất của giống đậu tương mới có thể cao hơn 44% so với giống đậu tương cũ
và giống đậu tương mới có tính kháng tuyến trùng có năng suất cao hơn 18% so với
giống đậu tương mới nhạy cảm, thí nghiệm được nghiên cứu tại 3 địa điểm với 6
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
giống đậu tương tại vùng miền đông Iowa của nước Mỹ (Jason L. De Bruin and
Palle Pedersen, 2008).
Đã có nhiều thành công trong việc xác định các dòng giống tốt, có tính ổn
định và khả năng thích ứng với các điều kiện môi trường khác nhau. Với 5 giống
đậu tương thu được ở 7 địa điểm trong thời gian 6 năm, cho thấy: Các giống có tính
thích ứng rộng về không gian nhưng lại nhạy cảm về thời gian, một số giống được
xác định là thích ứng rộng đối với năm trồng nhưng lại thích ứng hẹp đối với địa
điểm trồng.
Ở Mỹ, đến năm 1893 đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập được
từ các nơi trên thế giới. Giai đoạn 1928 – 1932 trung bình mỗi năm nước Mỹ nhập
nội trên 1.190 dòng, giống từ các nước khác nhau. Hiện nay đã đưa vào sản xuất
trên 100 dòng, giống đậu tương, đã lai tạo ra một số giống có khả năng chống chịu
tốt và thích ứng rộng như: Amsoy 71, Lee 36, Clark 63, Herkey 63. Hướng chủ yếu
của công tác nghiên cứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai, giống nhập nội, thuần
hoá trở thành giống thích nghi với từng vùng sinh thái, đặc biệt là nhập nội để bổ
sung vào quỹ gen. Mục tiêu của công tác chọn giống ở Mỹ là chọn ra những giống
có khả năng thâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện
ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến.
Ngoài ra Mỹ cũng là nước có nhiều thành tựu trong nghiên cứu phát triển
đậu tương, với 560 mẫu giống đậu tương hoang dại và 9.861 mẫu giống trồng.
Nguồn vật liệu phong phú này đã giúp Mỹ gặt hái nhiều thành công trong chọn tạo
giống đậu tương mới theo hướng năng suất cao và chống chịu sâu bệnh hại. Đặc
Bằng phương pháp đột biến thực nghiệm đã rạo ra giống Tiefeng 18 do xử lý tia
gamma có khả năng chịu được phèn cao, không đổ, năng suất cao, phẩm chất tốt.
Giống Heinoum N06, Heinoum N016 xử lý tia gamma có hệ rễ tốt, lóng ngắn,
nhiều cành, chịu hạn và khả năng thích ứng rộng.
Kết quả nghiên cứu của L.Z Wang, R.J.Zhao, X.G.Ye, Y.Q.Fu, Q.S.Yan,
Q.Li, 2009). Lai tạo giống đậu tương siêu cao sản tại Trung Quốc đã chọn ra được
những giống có năng suất cao như Xindadou No.11 (5.956,2 kg/ha) tại Tân Cương
1999, Zhong huang 25 (5.577 kg/ha) tại Shihezi, Tân Cương 2007, Zhong huang 13
(4.686 kg/ha) tại Thiểm Tây năm 2005 và (4.835 kg/ha) tại Hà Nam năm 1999.
Phân tích di truyền cho thấy sự tương quan có ý nghĩa (r = 0,56-0,71) giữa khối
lượng hạt và số quả trên cây với năng suất. Các nhà chọn giống đã sử dụng các
giống đậu tương có năng suất cao, số quả và số hạt trên cây nhiều và chống đổ tốt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
để lai tạo giống (trích theo Nguyễn Văn Thắng, 2010)
Nghiên cứu của M.F.A.Malik, A.S. Qureshi, M.R Khan, M.Ahrat, 2009 về da
dạng di truyền của các mẫu giống đậu tương có nguồn gốc khác nhau (từ 5 nước
Pakistan, Mỹ, AVRDC, Nhật Bản và Bắc Triều Tiên) bằng sử dụng chỉ thị RAPD,
nhóm nghiên cứu ở Pakistan kết luận: đa dạng di truyền giữa kiểu gen đỗ tương
Pakistan có thể có ích cho các nhà chọn giống lai tạo trong các trương trình chọn giống
và mở rộng nền tảng di truyền. Dự án hợp tác nghiên cứu giữa Nhật Bản và Trung
Quốc về nguồn gen đậu tương từ năm 2001- 2003 đã đánh giá 3012 nguồn gen đậu
tương, cho thấy nguồn gen đậu tương của vùng Đông Bắc Trung Quốc có sự đa dạng
lớn và tiềm năng lớn làm vật liệu chọn tạo giống (trích theo Nguyễn Văn Thắng, 2010).
Đánh giá khả năng chịu úng giai đoạn làm hạt và nhận biết mẫu giống đậu
tương bản địa và mẫu giống đậu tương sản xuất ở Châu Á, nhóm nghiên cứu ở Đại
học Nông nghiệp Nam Ninh, Trung Quốc đã thực hiện trên tổng số 350 giống đã
được công nhận ở Trung Quốc và 15 nước Châu Á khác cho mục đích chọn giống.
Kết quả cho thấy mức độ chịu úng của quần thể các giống đậu tương đã được công
nhận ở Châu Á tương đương với giống bản địa của Trung Quốc nhưng thấp hơn
đoạn phát triển khác nhau. Tại Trung tâm này đã thành công trong việc nhân vô tính
(cloning) vị trí đầu tiên của bất cứ gen đậu tương nào (Peter M. Gresshoff, 2007).
Những nghiên cứu mới nhất của các nước trên thế giới trong việc chọn tạo
giống chỉ ra rằng không chỉ sử dụng phương pháp truyền thống (lai hữu tính) nhằm
mục đích tăng năng suất mà còn tập trung vào những nghiên cứu hiện đại như công
nghệ sinh học, công nghệ gen nhằm chọn tạo ra giống có chất lượng cao, kháng
bệnh tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận (chịu úng, chịu hạn…). Ngoài ra còn
có các nghiên cứu về biện pháp canh tác như luân canh, mật độ, phân bón, thời vụ
gieo trồng … có tác dụng làm tăng năng suất đậu tương đáng kể. Tiềm năng nâng
cao năng suất đậu tương còn rất lớn.
Kỹ thuật đột biến cũng đã được áp dụng rộng rãi để tạo ra các dòng/giống
đậu tương có năng suất cao, có thời gian sinh trưởng ngắn và thích ứng với điều
kiện sinh thái rộng . Còn phương pháp chọn giống truyền thống mất nhiều thời gian
để chọn được các tính trạng mong muốn qua các thế hệ.
Hiện nay, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về phương diện sinh lý, hóa
sinh, di truyền đặc biệt các cơ chế chống chịu (ngoại cảnh bất lợi, sâu bệnh), các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng hạt nhằm phát triển diện tích gieo trồng cũng
như nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng đậu tương.
Các nghiên cứu về cây trồng chuyển gen đã xác định được 1 gen Arabidopsis
1-pyrroline-5-carboxylate synthase gene, P5CR, có khả năng chịu hạn. Với việc xác
định được gen chịu hạn này sẽ hứa hẹn tạo ra được giống đậu tương chịu hạn trong
tương lai. Kết hợp gen chịu hạn với các đặc điểm sinh lý và sinh hóa là xu hướng để
chọn tạo giống đậu tương chịu hạn hiện nay. Tuy nhiên, phương pháp truyền thống
là xác định và dùng những đặc điểm nông học, hình thái của cây đậu tương liên
quan đến tính chịu hạn, cùng với các kỹ thuật đánh giá khả năng chịu hạn thích hợp
như gây hạn nhân tạo với mái che di động, huấn luyện cây chịu hạn, ô thiếu hụt
nước, hệ thống thẩm kế tự động luân phiên để đo lượng nước bốc hơi và sinh trưởng
của cây, cũng đang được dùng trong chọn tạo giống đậu tương chịu hạn và đánh giá
dân ứng dụng kỹ thuật trồng theo hàng với khoảng cách 40 – 50 cm, khối lượng hạt
giống thường sử dụng 100 – 120 kg/ha.
Kết quả nghiên cứu của Cober và các cs (2005) cho biết khi gieo đậu tương ở
mật độ cao, cây đậu tương thường tăng chiều cao cây, dễ bị đổ ngã và chín sớm
hơn. Đây là nguyên nhân chính làm giảm năng suất hạt đậu tương.
Khi nghiên cứu về đặc điểm nông học cây đậu tương trong điều kiện có tưới
và cải tiến giống đậu tương ở miền Nam bang New South Wales và Bắc Victoria cho
thấy: giống cho năng suất cao nhất trong 32 dòng/ giống thí nghiệm năm 2005-2006
là Djakal (4,99 tấn/ha ở điểm Katandra và trung bình ở 4 điểm đạt 4,11 tấn/ha). Thời
gian sinh trưởng của giống Djakal từ 99-129 ngày và của F148-4 từ 100-129 ngày.
Năng suất trung bình từ năm 2001-2006 của Djakal là 4,02 tấn/ha, giống Snowy 3,64
tấn/ha và giống Empyle 3,58 tấn/ha. Về thời vụ và mật độ gieo của 3 giống Djakal,
Bowyer và F148-4 thì giống Djakal cho năng suất cao nhất 3,7-4,1 tấn/ha ở cả hai
thời vụ gieo 24 tháng 11 và 20 tháng 12 năm 2005 với cả 3 mật độ (2,4 dài hàng, 1,83
rộng luống x (30,45 và 60 cây/m
2
)), (Luke Gaynor và cs, 2007).
1.3. Một số nghiên cứu đậu tương đen và đậu tương ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu đậu tương đen ở Việt Nam
Đậu tương đen trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ lâu đời. Tuy
nhiên diện tích trồng chưa nhiều, chỉ rải rác tại các hộ gia đình nên năng suất rất
thấp. Một trong những nguyên nhân của năng suất thấp là công tác chọn giống và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
biện pháp kỹ thuật cho đậu tương đen chưa được nghiên cứu.
Hiện nay Trung tâm Tài nguyên thực vật đã thu thập được nhiều nguồn gen
đậu tương đen tại các tỉnh miền núi phía Bắc như: Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lai
Châu, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn ngoài ra còn có nguồn gen đậu tương
đen nhập nội được đánh giá và nghiên cứu.
Bảng 1.1. Kết quả thu thập một số giống đậu tương đen ở Việt Nam
Đã đánh giá vụ xuân
2012 và xuân 2013
Nguồn: Số liệu thu thập, thống kê của Trung tâm Tài nguyên thực vật (2011-2013)