Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân 2014 tại Thành phố Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐÌNH QUÂN Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN
SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
CỦA GIỐNG NGÔ NẾP LAI HN88 VỤ XUÂN 2014
TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Lớp : 42 - Trồng trọt
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Kiều Oanh
TS. Trần Trung Kiên
ơng Mạnh HùngGiảng viên hướHùng
Bộ môn : Cơ sở
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Nguyễn Đình Quân
MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1. Đặt vấn đề 1

1.2. Mục đích 2

1.3. Yêu cầu 2

1.4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

1.4.1. Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở khoa học 4

2.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 5

2.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5


3.4. Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 4:
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1. Ảnh hưởng của mật độ khoảng cách gieo trồng đến sinh trưởng và phát dục
của giống ngô nếp lai HN88 trong vụ Xuân 2014 tại Thái Nguyên 30

4.1.1. Giai đoạn từ gieo đến mọc 31
4.1.2. Giai đoạn từ gieo đến tung phấn, phun râu 31

4.1.3. Giai đoạn từ gieo đến chín sinh lý 32

4.2. Ảnh hưởng của mật độ khoảng cách gieo trồng đến đặc điểm hình thái
của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân 2014 tại Thái Nguyên 33

4.2.1. Chiều cao cây 34

4.2.2. Chiều cao đóng bắp 34

4.2.3. Số lá trên cây 34

4.2.4. Chỉ số diện tích lá 35

4.3. Trạng thái cây, độ che kín bắp, màu hạt, dạng hạt của giống ngô nếp lai
HN88 qua các mật độ khoảng cách 35

4.3.1. Trạng thái cây 36


4.6.5. Số hạt trên hàng 45

4.6.6. Khối lượng 1000 hạt 45

4.6.7. Năng suất lý thuyết 46

4.6.8. Năng suất thực thu 46
4.7. Chất lượng của giống ngô nếp lai HN88 qua các mật độ khoảng cách
gieo trồng 47

Phần 5:
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1. Kết luận 48

5.2. Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CSDTL : Chỉ số diện tích lá
CV : Hệ số biến động
FAOSTAT : Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
LSD.
05
: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
NSBT : Năng suất bắp tươi
NSTL : Năng suất thân lá
NSLT : Năng suất lý thuyết

Bảng 4.1. Thời gian sinh trưởng và phát dục ở các mật độ khoảng cách
trong thí nghiệm 31

Bảng 4.2. Một số đặc điểm hình thái của giống ngô nếp lai HN88 qua các
mật độ khoảng cách khác nhau 33

Bảng 4.3. Trạng thái cây, độ che kín bắp, màu hạt, dạng hạt của giống ngô
nếp lai HN88 qua các mật độ khoảng cách 36

Bảng 4.4. Tỷ lệ sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống ngô nếp HN88
qua các mật độ khoảng cách khác nhau 37

Bảng 4.5. Năng suất bắp tươi và năng suất thân lá của giống ngô nếp lai
HN88 qua các mật độ khoảng cách 41

Bảng 4.6. Ảnh hưởng của mật độ khoảng cách đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống ngô HN88 vụ Xuân 2014 tại
Thái Nguyên 43

Bảng 4.7. Chất lượng thử nếm đối với ngô nếp lai HN88 qua các mật độ
khoảng cách khác nhau 47DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4.1: Biểu đồ năng suất bắp tươi và năng suất thân lá của các công
thức thí nghiệm 41


mới bắt đầu chương trình tạo giống lai chưa được 10 năm nhưng đã đạt được
một số kết quả đáng ghi nhận. Khác với ngô tẻ - năng suất hạt cuối cùng là
mục đích của nhà tạo giống cũng như của người sản xuất, ngô nếp thì chất
lượng sản phẩm quyết định giá trị của nó. Trong thực tế, các giống ngô nếp
2
địa phương có chất lượng thay đổi khi được trồng vào các vùng hoặc các mùa
vụ khác nhau. Còn đối với ngô nếp lai, liệu chất lượng có thay đổi khi được
trồng vào các thời vụ khác nhau. Những nghiên cứu về kỹ thuật canh tác và
điều kiện thời tiết khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng sản phẩm
của ngô nếp hầu như chưa được nghiên cứu ở nước ta.
Xuất phát từ nhũng cơ sở khoa học và thực tiễn trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách
trồng đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của giống ngô
nếp lai HN88 vụ Xuân 2014 tại Thành phố Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích
Xác định được mật độ và khoảng cách trồng thích hợp nhất với giống
ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên.
1.3. Yêu cầu
- Theo dõi thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn phát dục của giống ngô
nếp lai HN88 qua các mật độ và khoảng cách trồng khác nhau.
- Đánh giá đặc điểm hình thái của giống ngô nếp lai HN88 qua các mật độ
và khoảng cách trồng khác nhau.
- Xác định được khả năng chống chịu sâu, bệnh hại và chống đổ của giống
ngô nếp lai HN88 qua các mật độ và khoảng cách trồng khác nhau.
- Đánh giá được năng suất bắp tươi và thân lá tươi của giống ngô nếp lai
HN88 qua các mật độ và khoảng cách trồng khác nhau.
- Đánh giá được năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô
nếp lai HN88 qua các mật độ và khoảng cách trồng khác nhau.
- Đánh giá được chất lượng ngô nếp luộc chín qua thử nếm.
1.4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, chính vì vậy các loại cây
trồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó cây ngô có những đóng góp
rất lớn. Trong xu thế hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, năng suất cây trồng của nhiều nước trên thế giới so với nước ta có sự
vượt trội. Vấn đề thiết yếu của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay là cải tiến
năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng.
Theo Minh Tang Chang (2005) [16], năng suất ngô của Mỹ trong hơn 40
năm qua tăng thêm 58% là nhờ đóng góp của giống lai đơn, 21% là nhờ tăng
mật độ và 5% nhờ thu hẹp khoảng cách hàng. Bằng nhiều phương pháp người
ta đã không ngừng cải thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới. Năm 2006,
Bộ Nông nghiệp đã ban hành “Quy trình kỹ thuật thâm canh ngô lai đạt năng
suất trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc”. Trong đó khuyến cáo, với các giống
dài ngày nên trồng với mật độ từ 5,5 - 5,7 vạn cây/ha, các giống ngắn và trung
ngày trồng 6,0 - 7,0 vạn cây/ha với khoảng cách giữa các hàng là 60 - 70 cm
[1]. Tuy vậy, nhiều nơi bà con nông dân chưa trồng đạt mật độ khuyến cáo, có
nơi chỉ đạt khoảng 3 vạn cây/ha. Đây là một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến năng suất ngô trong sản xuất của nước ta chỉ mới đạt 30 - 40% so với
năng suất thí nghiệm (trong điều kiện thí nghiệm nhiều giống đã đạt 12 - 13
tấn/ha). Hiện nay, nông dân ở nước ta trồng ngô nếp với khoảng cách 70 x 25
cm đạt mật độ 5,7 vạn cây/ha. Tuy nhiên, với thời gian sinh trưởng ngắn và

trình bày trong bảng 2.1.
6
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2003 - 2012
Chỉ tiêu

Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2003 114,67 44,60 645,23
2004 147,47 49,45 729,21
2005 147,44 48,42 713,91
2006 148,61 47,53 706,31
2007 158,60 49,63 788,11
2008 161,01 51,09 822,71
2009 156,93 50,04 790,18
2010 162,32 51,55 820,62
2011 170,39 51,84 883,46
2012 177,39 49,16 872,06
(Nguồn: FAOSTAT, 2014) [13].
Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế
lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ
thuật canh tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng với những thành tựu mới
trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công
nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp
phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Tình hình
sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012 được trình bày trong

châu Mỹ có trình độ khoa học phát triển cao trong khi châu Phi nền kinh tế
kém phát triển cộng thêm tình hình chính trị an ninh không đảm bảo đã làm
cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực này tụt hậu so với nhiều khu vực trên thế
giới (Nguồn: FAOSTAT, 2014) [13]. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa
mì, gạo lúa của thế giới năm 2012 được trình bày trong bảng 2.3.
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, gạo lúa
của thế giới năm 2012
Loại cây trồng
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Ngô 177,39 49,16 872,06
Lúa mì 215,48 31,13 670,87
Gạo lúa 163,19 44.10 719,73
(Nguồn: FAOSTAT, 2014) [13].
8
Có thể nói việc chọn ra giống cây trồng mới như giống thụ phấn tự do
cải tiến và giống lai, đồng thời việc áp dụng thành công những tiến bộ khoa
học kỹ thuật mới, đã dần dần thay thế các giống cũ trong sản xuất từ nửa cuối
thế kỷ trước đến nay, làm thay đổi can bản ngành sản xuất ngô trên thế giới.
Ngô lai tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, song lúc đầu nó chỉ phát huy hiệu
quả ở Mỹ và các nước có nền công nghiệp phát triển. Còn đối với các nước
đang phát triển ngô lai không phát huy tác dụng cho đến những năm 80 của
thế kỷ trước.
Năm 2012 diện tích ngô của thế giới đã vượt lúa gạo với 177,39 triệu ha,
sản lượng 872,06 triệu tấn, năng suất 49,16 tạ/ha. Trong khi đó lúa mì và lúa
gạo có diện tích, năng suất, sản lượng khá ổn định vào những năm gần đây.

2003 912,7 34,4 3.136,3
2004 991,1 34,6 3.430,9
2005 1.052,6 36,2 3.787,1
2006 1.033,1 37,3 3.854,5
2007 1.096,1 39,3 4.303,2
2008 1.140,2 40,2 4.573,1
2009 1.086,8 40,8 4.431,8
2010 1.126,9 40,9 4.606,3
2011 1.081,0 46,8 4.684,3
2012 1.118,2 42,9 4.803,2
(Nguồn: FAOSTAT, 2014) [13].
Số liệu bảng 2.4 cho thấy sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện
tích, năng suất và sản lượng trong giai đoạn 2003 - 2008. Năm 2012 diện tích
tăng so với năm 2011 đạt 1.118,2 nghìn ha. Năm 2003 cả nước trồng được
912,7 nghìn ha, năm 2011 là 1.081,0 nghìn ha, tăng hơn 168,3 nghìn ha so với
năm 2003, so với năm 2012 là 1.118,2 nghìn ha tăng 205,5 nghìn ha. Việc
tăng cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp
kỹ thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học đã khiến cho
năng suất ngô liên tục tăng trong giai đoạn 2003 - 2012 (từ 34,4 tạ/ha lên 42,9
tạ/ha). Sản lượng ngô năm 2012 đã tăng so với năm 2011 lên mức 4.803,2
nghìn tấn. Tuy diện tích, năng suất và sản lượng ngô của chúng ta đều tăng
nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới và khu vực thì năng suất
ngô của nước ta còn rất thấp (năm 2012 năng suất ngô của Việt Nam 42,9
tạ/ha), bằng 87,26% năng suất bình quân của thế giới. Điều này đặt ra cho
10
ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn to lớn, đặc biệt
là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay. Đòi hỏi đội ngũ chuyên
môn cũng như các nhà khoa học trong cả nước tiếp tục lỗ lực, nghiên cứu ra
những giống ngô va biện pháp kỹ thuất canh tác hiệu quả để nâng cao năng
suất và chất lượng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của

(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2014) [7].
11
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy diện tích sản xuất ngô lớn nhất
(466,8 nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả nước (36,3 tạ/ha).
Ngược lại vùng Đồng bằng sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất (39,4
nghìn ha), nhưng lại cho năng suất gần cao nhất (55,2 tạ/ha kém Đông Nam Bộ 1
tạ/ha). Sự trái ngược này có thể được giải thích do nhiều nguyên nhân: Vùng
Trung du và miền núi phía Bắc tuy có diện tích lớn song chủ yếu tập trung ở các
vùng miền núi, diện tích rải rác nhỏ lẻ thuộc các vùng dân tộc ít người. Họ
không có đủ điều kiện đầu tư về vốn cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác
phù hợp mà chủ yếu canh tác theo lối truyền thống lạc hậu. Cộng thêm vào đó là
các điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, khí hậu khắc nghiệt với hạn hán và rét
kéo dài vào mùa đông, lượng mưa phân bố không đều trong năm dẫn tới năng
suất thấp. Tuy nhiên, với ưu thế về diện tích (chiếm 38,3% diện tích của cả
nước) nên sản lượng chung của vùng vẫn cao hơn các vùng khác, đạt 1.696,2
nghìn tấn chiếm 35.34% sản lượng của cả nước và trở thành một trong những
vùng sản xuất ngô trọng điểm cung cấp lượng ngô lớn nhất cả nước.
Vùng Đông Nam Bộ có năng suất cao nhất đạt 56,2 tạ/ha bằng 131%
năng suất trung bình của cả nước do vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù
hợp với yêu cầu sinh trưởng, phát triển của cây ngô như: nhiệt độ bình quân
cao 25 - 30
o
C, nguồn ánh sáng dồi dào, hệ thống thủy lợi đảm bảo nhu cầu
tưới tiêu, nền đất có độ phì nhiêu cao. Tất cả các điều kiện tự nhiên kết hợp
với các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đã dẫn tới sự tăng vọt năng suất
trung bình của vùng.
Tây Nguyên cũng được xem là trọng điểm sản xuất ngô của cả nước với
diện tích 243,9 nghìn ha đứng thứ 2 sau vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Năng suất trung bình đạt 49,8 tạ/ha. Đứng thứ 3 sau vùng Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long. Do có diện tích và năng suất khá cao nên sản

TT

Tỉnh
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2010 2011 2012 2010 2011 2012 2010 2011 2012
1

Giang
47,6 49,9 52,5 28,6 31,1 31,8 136,3

155,3

167,2

2
Cao
Bằng
38,5 39,0 39,3 30,2 32,0 32,5 116,2

124,8

127,7

3 Bắc Kạn 15,9 16,9 16,5 36,0 38,3 37,2 57,3 64,7 61,4
4


733,3

709,2

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2014) [7].
Bắc Giang là tỉnh có diện tích trồng ngô ít nhất trong vùng Đông Bắc,
diện tích năm 2012 đạt 8,6 nghìn ha, năng suất năm 2012 đạt 39,1 ta/ha (sản
lượng đạt 33,6 nghìn tấn). Tỉnh Bắc Giang là tỉnh có diện tích và sản lượng ngô
thấp nhất của vùng Đông Bắc năm 2012. Năng suất ngô của Bắc Giang đạt
trung bình so với vùng Đông Bắc, do diện tích trồng các giống ngô thụ phấn tự
do còn chiếm tỷ lệ lớn trong sản xuất. Tại vùng Đông Bắc các tỉnh đạt năng
14
suất ngô cao là những tỉnh có diện tích trồng ngô lai trên 95% như Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Phú Thọ. Tuy nhiên các tỉnh này lại ít có khả
năng mở rộng diện tích, do đó sản xuất ngô của vùng Đông Bắc đã và đang
phát triển chậm hơn so với các vùng ngô khác.
2.2.4. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Thái Nguyên
Là một tỉnh thuộc vùng Trung du, miền núi phía Bắc, với địa hình đặc
trưng đồi núi xen kẽ với ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi dạng bút
tháp. Do vậy, nền sản xuất Nông nghiệp của Thái Nguyên nói chung và
ngành sản xuất ngô nói riêng gặp rất nhiều khó khăn về thủy lợi và giao
thông vận chuyển. Toàn tỉnh có tổng diện tích 3.541 km
2
, trong đó đất canh
tác Nông nghiệp chiếm 23%. Cây ngô chủ yếu được trồng trên đất 2 lúa:
Vụ Đông trên đất đồi dốc và vụ Xuân hè. Trước năm 1995, diện tích trồng
ngô chủ yếu vẫn dùng các giống thụ phấn tự do giống địa phương có năng
suất thấp. Cùng với sự phát triển ngô trong cả nước, tỉnh Thái Nguyên trong
những năm gần đây cũng rất quan tâm phát triển sản xuất ngô và đã thu được

2009 17,4 38,6 67,2
2010 17,9 42,0 75,2
2011 18,6 43,2 80,4
2012 17,9 42,2 75,5
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014) [7].
Điều này chứng tỏ ở tỉnh Thái Nguyên, cây ngô đã được Đảng và Chính
quyền địa phương chú trọng đầu tư phát triển. Và đạt được thành tựu như vậy
là nhờ áp dụng tốt các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như
giống mới, kỹ thuật canh tác. Tuy nhiên, sản xuất ngô ở tỉnh cần được đầu tư
phát triển nhiều hơn nữa như tăng vụ, mở rộng diện tích, sử dụng giống mới,
thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của tỉnh.
Những năm gần đây Thái Nguyên đã chuyển đổi cơ cấu giống, sử dụng các
giống ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12, LVN99 và một số
giống ngô nhập nội như: Bioseed9607, DK999, NK4300, C919 vào sản xuất.
16
2.3. Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô trên thế
giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô trên thế giới
Tạo giống chịu mật độ cao là một trong những mục tiêu quan trọng của
các nhà tạo giống ngô. Bằng nhiều phương pháp người ta đã không ngừng cải
thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới. Theo Banzinger và cs (2000);
Hallauer (1991), [9], [15] và nhiều tác giả khác, các giống ngô lai mới tạo ra
hiện nay có khả năng chịu được mật độ cao gấp 2 - 3 lần so với các giống lai
tạo ra cách đây 50 năm và có tiềm năng năng suất cao hơn hẳn.
Năng suất ngô của Mỹ trong hơn 40 năm qua tăng thêm 58% là nhờ
đóng góp của giống lai đơn, 21% là nhờ tăng mật độ và 5% nhờ thu hẹp
khoảng cách hàng (Minh Tang Trang và Peter, 2005) [16].
Mật độ trồng và khoảng cách giữa các hàng ngô là những vấn đề được
nghiên cứu nhiều và sâu nhất trong các biện pháp canh tác cây ngô. Rất nhiều
thí nghiệm liên quan đến mật độ và khoảng cách ở vành đai ngô nước Mỹ và

O
5
/ha và mật độ trồng 55.000 cây/ha và 110.000 cây/ha với giống ngô
Faisal và giống ngô địa phương. Giống Faisal cho số hạt/bắp, trọng lượng
1000 hạt và năng suất cao ở tất cả các thí nghiệm (Chaudhry và Khan,
2003) [12].
Neradic và Slovic (1999) [17], đã thí nghiệm trên giống ngô lai ZPSP 704
với mật độ 40.016 - 90.416 cây/ha và được bón 100 - 125 N/ha. Kết quả cho
thấy năng suất ngô tăng khi mật độ tăng, và đã đạt năng suất cao nhất 12,2 tấn/ha
ở mật độ 80.256 cây/ha. Việc năng suất tăng ở khoảng cách hàng hẹp so với
hàng rộng, đặc biệt ở mật độ cao, được giải thích là do tiếp nhận năng lượng
mặt trời tốt hơn, giảm bốc hơi nước và hạn chế cỏ dại phát triển do sớm che
phủ mặt đất. Prasad và cs cũng cho rằng tăng mật độ làm cho năng suất hạt
tăng, nguyên nhân do diện tích lá cao hơn đặc biệt lá ở tầng trên, những lá
dưới mọc thẳng hơn và không ảnh hưởng tới lá trên (Prasad và
Krishnamarthy, 1990) [19].
Mật độ gieo trồng có quan hệ mật thiết với năng suất ngô. Tại vùng
Simnic, Rumani trong 2 năm 2009 và 2010 các nghiên cứu về mật độ gieo
trồng đã được tiến hành với các giống ngô lai Fundulea 475, Kamelias,
Danubian, KWS 2376, Rapsodia và Kitty. Trong cả hai năm ngô được gieo

Trích đoạn Giai đoạn từ gieo đến tung phấn, phun râu Trạng thái cây, độ che kín bắp, màu hạt, dạng hạt của giống ngô nếp la Ảnh hưởng của mật độ khoảng cách đến mức độ nhiễm sâu bệnh và khả Năng suất thân lá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status