MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I.......................................................................................................6
NHẬN THỨC CHUNG VỀ HÀNH VI MUA BÁN, SỬ DỤNG......................6
TRÁI PHÉP HOÁ ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNGVÀ CÔNG TÁC PHÁT HIỆN
ĐIỀU TRA TỘI PHẠMMUA BÁN, SỬ DỤNG TRÁI PHÉP HOÁ ĐƠN GIÁ
TRỊ GIA TĂNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM
VỀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHỨC VỤ.......................................6
1. Hoá n Giá tr gia t ng v m t s qui nh v ch qu n lý và à
s d ng hoá n Giá tr gia t ng ............................................................... 6
2. Nh n th c v h nh vi mua bán, s d ng trái phép hoá n Gía trà
gia t ng. ......................................................................................................10
3. c i m pháp lý c a các t i ph m trong l nh v c mua bán, s
d ng trái phép hoá n Giá Tr Gia T ng v m t s v n b n có liênà
quan.............................................................................................................12
4. Ch c n ng, nhi m v , quy n h n c a l c l ng C nh sát i u
tra t i ph m v tr t t qu n lý Kinh t v Ch c v trong phát hi nà
i u tra t i ph m mua bán s d ng hóa n Giá tr gia t ng ........... 18
M t s ho t ng c a l c l ng CS T t i ph m v TTQLKT v CVà
trong phát hi n i u tra t i ph m mua bán s d ng hóa n GTGT. ! .. 19
1. Tình hình có liên quan n ho t ng phát hi n i u tra t i!
ph m trong l nh v c mua, bán, s d ng trái phép hoá n Giá tr gia "
t ng c a Công an qu n Hai B Tr ng.à # $ .................................................... 21
1.2. Tình hình t i ph m trong l nh v c mua bán, s d ng trái phép hoá
n GTGT trên a b n qu n Hai B Tr ng.à à ........................................... 24
1.3. c i m t i ph m trong l nh v c mua bán, s d ng trái phép hoá
n GTGT trên a b n Qu n Hai B Tr ng.à à ......................................... 32
2. Th c tr ng công tác phát hi n i u tra t i ph m trong l nh v c "
mua bán, s d ng trái phép hoá n GTGT c a C nh sát i u tra t i
ph m v tr t t qu n lý kinh t v ch c v Công an Qu n Hai Bà à
Tr ng. ............................................................................................................ 38
khống hóa đơn GTGT, ghi số lượng, giá trị hàng hoá, thuế GTGT trên các
liên nhưng thực tế không có hàng. Có doanh nghiệp mua hoá đơn GTGT làm
bộ hồ sơ xuất khẩu khống (không có hàng) để xin hoàn thuế, để khấu trừ thuế;
hợp pháp các chứng từ trong mua bán vật tư, thiết bị xây dựng cơ bản; hợp
pháp hoá các loại hàng nhập lậu. Việc mua, bán, sử dụng hoá đơn GTGT trái
phép thu lời rất lớn. Do vậy, đã thúc đẩy các đối tượng thành lập doanh
nghiệp chỉ để bán hoá đơn GTGT và tạo nên thị trường mua bán hoá đơn bất
hợp pháp sôi động, hình thành các tụ điểm chuyên bán hoá đơn và đáp ứng
đầy đủ theo yêu cầu của người mua.
Theo báo cáo của Công an quận Hai Bà Trưng chỉ trong 4 năm (từ
2006 đến 06/2008) đội CSĐT tội phạm kinh tế Công an quận Hai Bà Trưng
đã phối hợp với ngành thuế, hải quan … phát hiện 56 vụ mua bán hoá đơn
GTGT, đã khởi tố điều tra 23 vụ; thu hồi 13 tỷ đồng.
Tội phạm mua bán hoá đơn GTGT không những gây thất thoát tiền
thuế mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự quản lý kinh tế của nhà
nước, bởi vì nhà nước quản lý kinh tế vĩ mô bằng các chính sách, thuế. Hoá
đơn chính là các chứng từ về thuế mà lại bị sử dụng không chính xác với tình
hình kinh doanh sẽ khiến cho nhà nước không kiểm soát được nền kinh tế, sẽ
dẫn đến các chính sách không phù hợp với thực tế.
Trước tình hình tội phạm buôn, bán, sử dụng trái phép hoá đơn GTGT
diễn ra phức tạp trên địa bàn quận Hai Bà Trưng. Do vậy, trên cơ sở kiến thức
đã được học tập, tác giả mạnh dạn nghiên cứu và trọng đề tài :
“Một số kinh nghiệm trong phòng ngừa và đấu tranh chống các loại
tội phạm trong lĩnh vực mua bán hoá đơn giá trị gia tăng của lực lượng
cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ- công an
quận Hai Bà Trưng- thành phố Hà Nội”
Để nghiên cứu làm khoá luận tốt nghiệp.
3
2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu:
2.1. Mục đích :
4. Ý nghĩa của đề tài:
Những kết quả của đề tài là cơ sở lý luận để cơ quan bảo vệ pháp luật
nhận diện và xác định chính xác tội phạm trong lĩnh vực mua bán sử dụng trái
phép hoá đơn GTGT . Trên cơ sở đó có những giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực mua bán sử dụng
trái phép hoá đơn GTGT trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận được kết
cấu làm 3 chương:
- Chương 1 : Nhận thức chung về tội phạm và công tác phát hiện điều
tra tội phạm trong lĩnh vực mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia
tăng của lực lượng CSĐTTP về TTQLKT và CV.
- Chương 2 : Thực trạng tội phạm trong lĩnh vực mua bán, sử dụng trái
phép hoá đơn GTGT và công tác phát hiện điều tra tội phạm của CSĐT tội
phạm về TTQL kinh tế và chức vụ Công an Quận Hai Bà Trưng.
- Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện điều tra
tội phạm trong lĩnh vực mua, bán, sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia tăng ở
địa bàn Quận Hai Bà Trưng.
5
CHƯƠNG I
NHẬN THỨC CHUNG VỀ HÀNH VI MUA BÁN, SỬ DỤNG
TRÁI PHÉP HOÁ ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNGVÀ CÔNG TÁC PHÁT
HIỆN ĐIỀU TRA TỘI PHẠMMUA BÁN, SỬ DỤNG TRÁI PHÉP HOÁ
ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA
TỘI PHẠM VỀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHỨC VỤ
1. Hoá đơn Giá trị gia tăng và một số qui định về chế độ quản lý và sử
dụng hoá đơn Giá trị gia tăng
Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi mức độ
nghiệp vụ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào
ngân sách Nhà nước và số thuế GTGT được hoàn. Với giá trị pháp lý riêng có
qui định về hoá đơn, chứng từ như sau:
Mục 1: Việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ đều phải có hoá đơn chứng từ
theo qui định của pháp luật.
Mục 2: Các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
phải sử dụng hoá đơn GTGT và phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố qui định,
trong đó ghi rõ giá bán, khoản phụ thu, phí thu thêm, khoản thuế GTGT, giá
thanh toán.
Trong trường hợp hoá đơn không ghi khoản thuế GTGT thì thuế GTGT
được xác định bằng giá thanh toán theo hoá đơn nhân với thuế suất thuế
GTGT.
Mục 4: Cơ sở kinh doanh có hành vi in, phát hành, sử dụng hoá đơn
không đúng qui định để trốn thuế, gian lận trong khấu trừ hoặc hoàn thuế
GTGT, ngoài việc phải truy thu, truy hoàn số tiền thuế gian lận còn bị xử phạt
7
vi phạm hành chính về thuế, nếu mức độ vi phạm nghiêm trọng còn phải truy
cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật.
- Chương 2 điều 11 nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003
của Chính phủ qui định chi tiết thi hành luật thuế GTGT và luật sửa đổi, bổ
sung một số điều luật thuế GTGT qui định: Các cơ sở kinh doanh phải thực
hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ theo đúng
qui định của pháp luật. Hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ qui định đối với
các cơ sở kinh doanh như sau:
Mục 1: Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế phải sử dụng hoá đơn GTGT. Khi lập hoá đơn bán hàng
hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố ghi trên hoá
đơn, về giá bán phải ghi rõ: giá bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài
giá bán (nếu có), thuế GTGT, giá thanh toán đã có thuế.
Mục 4: Các cơ sở kinh doanh trực tiếp bán lẻ hàng hoá cho người tiêu
dùng, đối với hàng hoá có giá bán dưới mức qui định phải lập hoá đơn GTGT
hoặc hoá đơn bán hàng, nếu cơ sở không lập hoá đơn thì phải lập bản kê hàng
lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ.
Mục 8: Hoá đơn khống là hoá đơn đã được lập nhưng nội dung giao
dịch là không có thực.
Điều 4: Các hành vi bị cấm
Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân in, phát hành, sử dụng, quản lý,
mua,bán hoá đơn trái với qui định tại nghị định này.
Chương 2 qui định cụ thể việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn.
Trong đó, điều 11 mục 2 điểm a qui định đối với tổ chức, cá nhân sử dụng hoá đơn:
Phải sử dụng hoá đơn theo đúng qui định, không được mua, bán, cho
hoá đơn hoặc dùng hoá đơn của tổ chức, cá nhân khác; không được sử dụng
hoá đơn để kê khai khống thuế, chi phí, thanh toán tài chính;
9
- Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ tài chính
hướng dẫn thi hành nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính
phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn.
Chương VI: Qui định cụ thể về việc sử dụng hoá đơn
Chương VII: Qui định cụ thể việc quản lý hoá đơn
Như vậy qua hệ thống văn bản pháp luật về thuế GTGT qui định rất cụ
thể việc mua bán, quản lý và sử dụng hoá đơn GTGT. Việc nắm vững những
văn bản pháp luật này là một trong những yếu tố quan trọng hết sức cần thiết
giúp lực lượng CSKT, CSĐT trước đây. Lực lượng CSĐTTP về TTQLKT và
chức vụ hiện nay, với chức năng nhiệm vụ của mình phòng ngừa điều tra tội
phạm trong lĩnh vực mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia tăng có
hiệu quả hơn.
2. Nhận thức về hành vi mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn Gía trị gia
tăng.
Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 10,
Chủ tịch nước công bố ngày 22/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/1999. Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển
chúng bán lại các hoá đơn GTGT trắng này cho các cá nhân, tổ chức, các
doanh nghiệp có nhưu cầu,để các các nhân , tổ chức , các doanh nghiệp này
sử dụng số hoá dơn GTGT trắng đó lập hồ sơ ghi khống số lượng, giá trị
hàng hoá, thuế GTGT trên các liên nhưng thực tế không có hang hoá để
hợp thức hoá đầu vào chiếm đoạt tiền hoàn thuế lên đến hàng tỷ đồng. Việc
mua bán, sử dụng hoá đơn GTGT trái phép thu lời rất lớn. Do vậy, đã thúc
đẩy các đối tượng thành lập doanh nghiệp chỉ để bán hoá đơn GTGT và tạo
nên thị trường mua bán hoá đơn bất hợp pháp sôi động, hình thành các tụ
điểm chuyên bán hoá đơn và đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu của người mua.
11
Từ những nhận thức trên đúc kết lại tác giả mạnh dan đưa ra định nghĩa
hành vi mua ban hoá đơn giá tri gia tăng là hành vi “Mua đi, bán lại các hoá
đơn trắng không ghi nội dung, hoặc sử dụng trái phép sử dụng hoá đơn
GTGT nhằm thu lợi bất chính , trái với quy định của pháp luật”.
Đối tượng mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn GTGT gồm:
- Công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân.
- Các đối tượng “cò” chuyên móc nối với các công ty trên và số đối
tượng có nhu cầu để mua và bán. ở một số địa phương đã hình thành các
đường dây tổ chức mua bán hoá đơn.
- Đối tượng mua bán hoá đơn chủ yếu là các công ty TNHH và một số
DNNN.
3. Đặc điểm pháp lý của các tội phạm trong lĩnh vực mua bán, sử dụng
trái phép hoá đơn Giá Trị Gia Tăng và một số văn bản có liên quan.
Về khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm trực tiếp đến quan
hệ sở hữu, cụ thể là xâm phạm sở hữu Nhà nước, xâm phạm chính sách quản
lý tài chính làm cho một số lượng tiền lớn của Nhà nước bị chiếm đoạt do
hành vi mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia tăng. Đồng thời xâm
phạm đến chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế- tài
chính và xâm phạm đến hoạt động đúng đắn trong các hoạt động sản xuất,
kinh doanh và dịch vụ ảnh hưởng xấu làm giảm lòng tin của nhân dân đối với
thực thi pháp luật về đấu tranh phòng chống, kiềm chế loại tội phạm này; giải
quyết được những bất cập, bức xúc, khó khăn vướng mắc, lúng túng ở các
đơn vị và địa phương.
Theo thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT/BCA–TANDTC–
VKSNDTC - BTP ngày 23/11/2004 giữa Bộ Công an, Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp về hướng dẫn việc truy cứu
13
trách nhiệm hình sự đối với các hành vi mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn
giá trị gia tăng như sau:
Mục 1 qui định: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi
mua và sử dụng trái phép hóa đơn GTGT.
Tiểu mục 1.1: Người nào có hành vi mua hoá đơn GTGT và sử dụng
trái phép hoá đơn đó để lập hồ sơ khống chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT
thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
“ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điều 139 của Bộ luật hình sự:
a. Tiền hoàn thuế GTGT từ năm trăm nghìn đồng trở lên;
b. Tiền hoàn thuế GTGT dưới năm trăm nghìn đồng, nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã
bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Tiểu mục 1.2: Người nào mua hoá đơn GTGT và sử dụng trái phép hoá
đơn đó để lập chứng từ khống về việc mua nguyên, nhiên vật liệu, vật tư,
hàng hoá, chiếm đoạt tiền của cơ quan, tổ chức hoặc người khác thì việc truy
cứu trách nhiệm hình sự như sau:
a. Nếu là người có chức vụ, tức là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do
hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng
lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định
trong khi thực hiện công vụ và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt
tiền của cơ quan, tổ chức mà mình có trách nhiệm quản lý thuộc một trong
các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “tội tham ô tài
sản” theo điều 278 của Bộ luật hình sự:
của Bộ luật hình sự:
b.1. Tiền trốn thuế từ năm mươi triệu đồng trở lên;
b.2. Tiền trốn thuế dưới năm mươi triệu đồng, nhưng đã bị xử phạt
hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội trốn thuế hoặc về
15
một trong các tội qui định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160,
164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật hình sự, chưa
được xoá án tích mà còn vi phạm.
Tiểu mục 1.4. Người nào có hành vi mua hoá đơn GTGT mà không
thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.2 và
1.3 mục 1 này, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
a. Trường hợp chứng minh được khi mua hoá đơn GTGT mà hoá đơn
GTGT đó đã được ghi đầy đủ như đã mua bán hàng hoá thì người mua bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về “tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành giấy tờ có giá
giả” theo điều 181 của Bộ luật hình sự;
b. Trường hợp không chứng minh được hoá đơn GTGT đã được ghi
đầy đủ như đã mua hàng hoá (hoá đơn GTGT còn nguyên như khi phát hành)
thì người mua bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “tội mua bán tài liệu của cơ
quan Nhà nước” theo điều 268 của Bộ luật hình sự, nếu số lượng hóa đơn
GTGT từ năm mươi số trở lên (thông thường mỗi số có 3 liên) hoặc dưới năm
mươi số, nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt,
mua bán, tiêu huỷ con dấu, tài liệu của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội,
nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Mục 2 qui định: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi bán
trái phép hoá đơn GTGT.
Tiểu mục 2.1. Người nào có hành vi bán hoá đơn GTGT cho người
khác mà biết rõ mục đích sử dụng hoá đơn của người mua, nếu người mua bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo hướng dẫn tại mục 1 của thông tư liên tịch
này thì người bán bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng đối với
người mua với vai trò đồng phạm.
CSĐTTP về TTQLKT và chức vụ) phòng ngừa và điều tra khám phá tội
17
phạm mua bán, sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia tăng có hiệu quả góp
phần thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước.
4. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát Điều tra tội
phạm về trật tự quản lý Kinh tế và Chức vụ trong phát hiện điều tra tội
phạm mua bán sử dụng hóa đơn Giá trị gia tăng
Thực hiện theo pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 đã được
UBTVQH nước CHXHCNVN khoá XI thông qua ngày 20/8/2004. Tại điều 3
của pháp lệnh qui định về nhiệm vụ của cơ quan điều tra: “Cơ quan điều tra
tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố
tụng hình sự qui định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi
phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội
và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục
và ngăn ngừa”.
Theo điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2004 qui định về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên như sau:
1. Điều tra viên được phân công điều tra vụ án hình sự có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây:
a. Lập hồ sơ vụ án hình sự;
b. Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm
chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
c. Quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng;
d. Thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê
biên tài sản;
đ. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất,
nhận dạng, thực nghiệm điều tra;
e. Tiến hành các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của cơ quan
điều tra theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan điều tra.
phạm, thu thập đủ những căn cứ để khởi tố hay không khởi tố vụ án.
- Điều tra tội phạm:
Khi đã xác định đủ những căn cứ để khởi tố vụ án cán bộ thụ lý sẽ tiến
hành khởi tố vụ án khởi tố bị can và tiến hành những bước điều tra theo Tố
tụng một vụ án hình sự, đó là:
+ Thực hiện quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
+ Thực hiện các biện pháp ngăn chặn (trong trường hợp cần thiết)
+ Tiến hành các thủ tục hỏi cung bị can, lấy lời khai những người có
liên quan đến vụ án.
+ Xác minh, củng cố những tài liệu có liên quan đến vụ án, chuyển hoá
các tài liệu trinh sát thành chứng cứ. Đặc biệt với loại tội phạm này cần chú ý
đến các hoá đơn, chứng từ, hợp đồng có liên quan đến việc mua, bán, sử dụng
hoá đơn GTGT.
+ Kết thúc điều tra vụ án, lập hồ sơ, viết kết luận điều tra, chuyện Viện
kiểm sát phê chuẩn xử lý.
20
CHƯƠNG 2
CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA ĐẤU TRANH CHỐNG
TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC MUA, BÁN, SỬ DỤNG
TRÁI PHÉP HOÁ ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG-CÔNG AN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG- HÀ NỘI
1. Tình hình có liên quan đến hoạt động phát hiện điều tra tội phạm
trong lĩnh vực mua, bán, sử dụng trái phép hoá đơn Giá trị gia tăng của
Công an quận Hai Bà Trưng.
1.1. Đặc điểm kinh tế, xã hội quận Hai Bà Trưng.
Quận Hai Bà Trưng có diện tích 9,7 km
2
với 33 vạn dân. Quận Hai Bà
Trưng nằm ở phía Đông Nam thành phố Hà Nội phía Bắc giáp với quận Hoàn
Kiếm, phía Đông giáp với 2 quận Long Biên và Gia Lâm, phía Nam giáp với
nghiệp lớn có vốn đầu tư lớn, cũng như cơ sở vật chất tốt chủ yếu tập trung
dọc theo các tuyến phố lớn như Bà Triệu, phố Huế, Minh Khai, còn lại đa
phần các công ty nhỏ nằm ở trong những khu vực đông dân cư, chật hẹp ở các
ngõ, ngách khó xác định trụ sở thậm chí nhiều công ty đăng ký địa chỉ “ma”
không có thực. Đặc biệt khu vực chợ Hoà Bình, Nguyễn Công Trứ (Chợ
Trời), các doanh nghiệp tập trung dày đặc, nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh cùng một địa chỉ gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý địa bàn
cũng như phát hiện tội phạm trong quá trình đấu tranh của lực lượng CSĐT
tội phạm về TTQLKT và CV.
Qua công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình và thực tế quản lý theo dõi
cho thấy:
- Số DNNQD tăng đáng kể so với năm 2005 trở về trước, nhất là kinh
doanh thương mại tổng hợp, tư vấn, dịch vụ, sản xuất, xây dựng và du lịch
vận tải.
- Nhiều doanh nghiệp xin thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh (tên
gọi, thành viên, vốn, phạm vi hoạt động, ngành nghề) nhất là từ khi ban hành
22
luật doanh nghiệp, áp dụng luật thuế GTGT và Thủ tướng có quyết định số
19/QĐ-TTG về bãi bỏ 84 loại giấy phép.
- Các Doanh nghiệp quốc doanh theo lộ trình AFTA và WTO, luật
doanh nghiệp về cơ bản đến 11/2009 phải cổ phần xong nên hiện gặp khó
khăn trong định giá tài sản cố định nhất là quyền sử dụng đất, đánh giá tài sản
thanh lý, tài sản hết khấu hao…lợi dụng việc này một số lãnh đạo doanh
nghiệp quốc doanh đã cố ý làm trái để trục lợi. Trong kinh doanh do cạnh
tranh thị trường nên gặp nhiều khó khăn do công nghệ lạc hậu, chất lượng sản
phẩm kém, giá thành cao… Do vậy hoạt động cầm chừng chờ cổ phần hoá để
tìm hướng đi mới.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có xu hướng liên doanh, liên kết
lại với nhau thành lập các tập đoàn lớn làm ăn có hiệu quả như tập đoàn Hoà
Phát, tập đoàn T&T, Anphanam, tập đoàn máy tính CMC…Các tập đoàn này
*Về ngành nghề
- Kinh doanh thương mại tổng hợp: 1975
- Sản xuất: 528
- Xây dựng: 80
- Tư vấn dịch vụ: 404
- Du lịch vận tải: 84
Qua công tác nắm tình hình và thực tế quản lý theo dõi cho thấy:
- Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng đáng kể so với từ năm 2005
trở về trước nhất là trên lĩnh vực kinh doanh thương mại tổng hợ, tư vấn, dịch
vụ, sản xuất, xây dung và du lịch vận tải.
- Nhiều doanh nghiệp xin thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh (tên
gọi, trụ sở, thành viên, vốn, phạm vi hoạt động, ngành nghề) nhất là từ khi
24
Nhà nước ban hành luật doanh nghiệp, và luật thuế giá trị gia tăng và thủ
tướng chính phủ có quyết định số 19 QĐ - TTg về bãi bỏ 84 lại giấy phép.
Đặc biệt trong đó có :
- 409 công ty đang hoạt động, không liên lạc được
- 180 công ty bỏ trốn không quyết toán hoá đơn
- 13 công ty treo mã số chờ giải thể
Riêng chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng trong năm qua đã chuyển cho
công an Quận Hai Bà Trưng 57 thông báo doanh nghiệp bỏ trốn có dấu hiệu
vi phạm và đã cung cấp tư liệu có liên quan đến 21 doanh nghiệp bỏ trốn để
có căn cứ xử lý trước pháp luật.
Số doanh nghiệp này đều không có trụ sở rõ ràng, không treo biển,
không hoạt động, tự nghỉ bỏ trốn khỏi trụ sở không khai báo với cơ quan thuế,
địa chỉ đăng ký kinh doanh không đúng với thực tế nhân thân của các chủ
doanh nghiệp cũng như sáng lập viên gây khó khăn rất lớn cho công tác quản
lý của cơ quan chức năng.
Qua tiến hành xác minh nhiều trường hợp các công ty theo yêu cầu
công văn của cơ quan thuế thấy do sự thiếu chặt chẽ của luật doanh nghiệp