1
Tóm tắt đề tài
Lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu
Các doanh nghiệp hiện nay luôn hoạt động với guồng quay không ngừng và đôi lúc họ
gặp phải những khó khăn của riêng mình tuy nhiên họ lại không xác định được đây là khó
khăn tạm thời hay là khó khăn sẽ dẫn đến phá sản. Và thực sự họ không biết họ đang hoạt
động ở đâu tiệm cận hay là đã rơi vào tình trạng sẵn sàng phá sản rồi. Đôi khi chúng ta
không thể lượng hóa s
ự phá sản đó một cách cụ thể mà chỉ đi vào cảm tính dựa vào trực
giác của nhà quản lý. Chính vì lý do đó nên đề này này muốn tập trung vào việc lượng
hóa ngưỡng phá sản của một doanh nghiệp và từ đó tìm cách gia tăng những “vùng đệm”
để làm cho doanh nghiệp an toàn hơn với ngưỡng phá sản của chính mình.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này dựa trên mô hình của Takashi Shibata và Tetsuya Yamada về vấn
đề rủi ro tín dụng của ngân hàng trong việc thu hồi các khoản nợ cho vay các doanh
nghiệp có nguy cơ phá sản. Mô hình này dựa vào lý thuyết trò chơi lựa chọn thực ( game-
theoretic real options ) để tìm ra thời điểm, chiến lược tốt nhất cho mỗi ngân hàng khi
phải đối mặt với tình trạng phá sản của một doanh nghiệp và xa hơn nữa là ngưỡng thanh
lý của chính doanh nghiệp đó. Từ mô hình này chúng ta có th
ể xác định được thời điểm
phá sản – thanh lý của một doanh nghiệp dựa trên sự lựa chọn tốt nhất của cổ đông hay
của ngân hàng khi đứng trước nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.
Nội dung nghiên cứu
3
Chương 1: Cơ sở lý thuyết của mô hình
1.1.Giới thiệu về mô hình
Mô hình này được Takashi Shibata và Tetsuya Yamada đưa ra tháng 3 năm 2009. Cả hai
ông đã phát triển một mô hình động về rủi ro tín dụng trong trường hợp mà những ngân
hàng phải đối mặt với việc trưng thu nợ từ công ty đang đứng trước ngưỡng cửa phá sản.
Mô hình này dựa trên lý thuyết trò chơi và tiếp cận theo hướng đưa ra những lựa chọn tốt
nhất dựa trên quan điểm củ
a từng người khi đứng trước tình trạng khó khăn là sự phá sản
của công ty.
Trong mô hình này hai ông đã đưa ra một nguyên tắc về sự lựa chọn tốt nhất là dựa trên
doanh số bán hàng của công ty. Các cổ đông, ngân hàng đều dựa vào doanh số bán hàng
để lựa chọn cho mình thời điểm tốt nhất để phá sản hay lựa chọn thời điểm tốt nhất để
thanh lý công ty .
Mô hình cũng đưa ra hai lọ
ai ngân hàng đó là ngân hàng chính (main bank) và ngân hàng
phụ (non-main bank). Sự khác biệt lớn nhất của hai lọai ngân hàng này chính là lượng
t
X
và được định dạng theo sự
dịch chuyển hình học Brownian (A geometric Brownian motion)
2
và doanh số này trung
lập với rủi ro:
tt tt
dX X dt X dz
,
0
Xx
(1)
Trong đó
là giá trị trung bình của tiến trình Brownian.
là phương sai.
,
là hằng số.
1c
.
1c
tức là
CM
. Điều này muốn nói rằng giá trị thanh lý không bao giờ bù
đắp được cho các khỏan nợ ngân hàng của công ty vì việc giảm giá của các tài sản
bị thanh lý, chi phí pháp lý, chi phí cơ hội cho việc chờ đợi thanh lý…
Các cổ đông khi thấy công ty của mình lâm vào tình trạng khó khăn thì họ sẽ phải ra một
trong hai quyết định là tiếp tục điều hành để vực dậy công ty hay tuyên bố cho nó phá sản
và trao quyền kiể
m soát công ty cho các chủ nợ. Một khi cổ đông đã tuyên bố phá sản thì
mọi quyền lực đều tập trung vào chủ nợ và lúc này chủ nợ cũng sẽ có những quyết định
của mình là sẽ điều hành và vực dậy công ty hay là thanh lý nó để thu về các khỏan nợ.
Chúng ta giả định rằng:
Thời gian mà cổ đông đệ đơn để phá sản lên tòa án là
b
.
Thời gian thanh lý công ty là
c
Giá trị lớn nhất của vốn cổ phần là:
()
()max ( )
b
bt
rs t
tt s
t
T
E XEeXwbMds
(2)
Công thức này muốn diễn tả rằng: giá trị vốn cổ phần
()EX
mà cổ đông muốn nhận được
trước khi đào tẩu cân bằng với việc tối đa hóa giá trị hiện tại của lợi nhuận công ty trước
khi phá sản
()
b
t
*
*
() () ()
()max ( )
bC
b
Ct
rst rst rst
tt S
t
T
D X EebMds e XwdseC
(3)
Trong công thức (3):
Phần đầu tiên trình bày giá trị hiện tại của thu nhập lãi vay
bM
Công thức (2) có thể được diễn giải ra như sau:
()
y
b
b
xx wbM wbM x
Ex
rr rrx
(4)
trong đó
b
x x
Và
..()
Phương trình (4) được hiểu như sau:
Phần đầu tiên bên phía tay phải là giá trị hiện tại của thu nhập công ty trước khi
phá sản. Giá trị này là đồng biến với doanh số và nghịch biến với chi phí hoạt
động w, lãi suất r và lượng tiền nợ M. Chúng ta để ý rằng phương sai
không
tác động vào giá trị này. Lý do được đưa ra là do việc chiết khấu dòng tiền về giá
trị hiện tại trung lập với rủi ro.
Phần thứ hai trình bày giá trị lựa chọn của cổ đông sở hữu quyền để phá sản công
ty. Chúng ta gọi đó là sự lựa chọn phá sản (bankruptcy option). Sự lựa chọn phá
sản phụ thuộc vào phương sai của doanh số và gia tăng khi phương sai gia tăng.
Chúng ta sẽ nói vấn đề này sau.
Bây giờ chúng ta xem xét tại sao giá trị
y
b
b
x
wbM x
rrx
*
b
hay chúng ta có thể coi
b
x
là ngưỡng phá sản của doanh nghiệp.
Tỷ số
/
y
b
x x
trong phương trình (4) là xác suất x đạt giá trị
b
x
là ngưỡng phá
sản hay chúng ta có thể gọi tỷ số này là xác suất phá sản của công ty.
Chúng ta để ý rằng
(/ ) 0
y
b
xx
khi
x
vì
x x
thì giá trị vốn cổ phần chính là bằng 0.
1.2.3.Giá trị thanh lý của ngân hàng
Khi mà cổ đông đã quyết định phá sản thì phần còn lại sẽ thuộc về ngân hàng với câu hỏi
thời gian nào tốt nhất để thanh lý công ty. Phương trình sau đây được xuất phát từ
phương trình (3):
() | ( )
b
y
xx b
b
bM bM x
Dx D x
rrx
với
b
x x
(8)
Phương trình (6) thể hiện những thành phần sau:
Phần đầu tiên là giá trị hiện tại của thu nhập lãi vay. Chúng ta có thể hiểu phần
này rằng khi doanh nghiệp vay nợ ngân hàng đến mãi mãi (nếu như không tính 9
phá sản) thì giá trị của nợ sẽ là
bM
rg
. Tuy nhiên vì các khỏan nợ này không gia
tăng nên giá trị của nợ khi không có phá sản thì sẽ là
bM
r
.
Phần thứ hai trình bày giá trị lựa chọn âm từ sự lựa chọn phá sản của cổ đông. Giá
trị này mang dấu âm là bởi giá trị nợ sau khi phá sản | ( )
nghĩa là khi doanh số càng rời xa ngưỡng phá sản
b
x
thì giá trị của nợ sẽ là giá trị
hiện tại của dòng tiền thu nhập lãi suất. Còn khi doanh số tiệm cận gần ngưỡng
phá sản thì giá trị của nợ chính là giá trị nợ sau khi phá sản
|()
b
xx b
Dx
.
Phương trình (7) trình bày giá trị hiện tại của công ty mà giá trị này đạt được sau khi phá
sản công ty do đó giá trị công ty lúc này là giá trị của nợ.
Giá trị
x w
rr
trong phần một và hai là giá trị để ngân hàng tiếp tục điều
hành công ty sau khi phá sản. Giá trị này là do chiết khấu dòng tiền lợi nhuận của
công ty khi lấy giá trị hiện tại của doanh thu trừ giá trị hiện tại của chi phí hoạt
động. Điều này có được là do chúng ta đã biết rằng sau khi phá sản tất cả mọi
x
đã tạo ra giá trị lựa chọn này.
10
Phương trình (8) trình bày ngưỡng thanh lý công ty thông qua tìm ra doanh thu bán hàng
hợp lý ứng với thời gian tốt nhất để thanh lý doanh nghiệp.
Hình A: Giá trị vốn cổ phần và nợ trong mô hình cho vay độc quyền
Hình trên chỉ ra hàm giá trị nợ và vốn cổ phần tương ứng với phương trình (2) và (3).
Như chúng ta đã biết rằng tất cả mọi quyết định tài chính đều phải đối mặt với những sự
đánh đổi như sự đánh đổi giữa cơ hội này và cơ hội kia khi tất cả đều không chắc chắn.
Và vì thế thời gian tốt nhất cho sự phá sản hay thanh lý công ty đều l
ựa chọn trên sự đánh
đổi đó
3
.
Theo như mô hình này thì sự lựa chọn phá sản tốt nhất là khi đường biểu thị giá
trị vốn cổ phần ở trên giá trị 0, tức là khi doanh số ở trên ngưỡng phá sản
b
x
. Khi
doanh số ở trên ngưỡng này cổ đông sẽ có một sự đánh đổi giữa sự phá sản để
giải thoát cho mình hay chờ đợi để khôi phục công ty. Tuy nhiên khi ngay
ngưỡng
b
x
. Tức là khi
doanh số càng cao và rời xa ngưỡng phá sản thì giá trị nợ sẽ dần tiệm cận với
/
bM r
.
Giá trị nợ sẽ bằng giá trị thanh lý
cM C
khi ngân hàng quyết định thanh lý
công ty. 3
Dixit và Pindyck (1994). 11
Trong đồ thị này chúng ta nhận thấy một điểm đặc biệt chính là giá trị của cổ
phần sụt giảm và nhỏ hơn giá trị của nợ. Chúng ta có thể nói rằng công ty đang
lâm vào ngưỡng dẫn đến phá sản – điểm phá sản là
b
x
.
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên chúng ta có thể mường tượng ra phần nào những vấn
Trong phần này tôi sử dụng mô hình để áp dụng cho trường hợp của công ty Bông Bạch
Tuyết. Bông Bạch Tuyết hiện nay là một công ty đã ngừng mọi hoạt động đế chờ có
những phương án sản xuất kinh doanh khác nhằm vực dậy công ty thoát khỏi phá sản.
Công ty đã dừng hoạt động từ đầu năm 2009 và thực sự đã có những trục trặc từ quý I
năm 2008. Vì thế tôi sử dụng mô hình áp d
ụng vào năm 2007 để xem xét liệu mô hình có
xác định được ngưỡng phá sản hay không. Từ đó nếu như nhận thấy doanh thu đang hoạt
động của doanh nghiệp gần với doanh thu phá sản thì chúng ta sẽ thực hiện những cải
cách nhằm vực dậy công ty trước khi nó lâm vào khủng hỏang thực sự như trường hợp
của Bông Bạch Tuyết mà chúng ta đang xem xét sau đây.
2.1.Tình hình sơ lược về Bông Bạch Tuyết
Bây giờ chúng ta xem xét doanh thu, lợi nhuận và các chỉ số cơ bản của công ty được
trình bày trong những bảng sau:
Bảng 1: Tình hình sản xuất của Bông Bạch Tuyết trước khi dừng sản xuất năm 2007 –
2008
Bảng 2: Các tỷ số tài chính của Bông Bạch Tuyết năm 2007.
Nếu chỉ dựa vào những số liệu năm 2007 thì quả thực chúng ta không thể tìm ra dấu hiệu
nào cho thấy có bất kì sự khủng hỏang cho công ty xẩy ra và chúng ta thực sự cũng
không thể tìm ra một mức doanh thu nào cho thấy cổ đông sẽ suy nghĩ về quyết định phá
sản. Do đó nếu chúng ta chỉ dựa vào các chỉ số cơ bản truyền thống sẽ không thể nào
nhận ra được nhữ
ng mối nguy hiểm đang đe dọa công ty.
Chúng ta xem xét năm 2008 – năm xẩy ra một sự khủng hỏang thực sự cho doanh nghiệp,
chúng ta nhận thấy rằng doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ nặng với việc lợi nhuận trước
ểm
đến từ công ty chính là doanh thu trong quý II-2008 lại tăng so với quý I-2008. Chúng ta
hãy cùng xem báo cáo hoạt động kinh doanh của Bông Bạch Tuyết (BBT) trong hai quý
I, II để xem tấm sương mờ này đã tác động thế nào đến công ty:
Bảng 3: Tình hình kết quả kinh doanh của Bông Bạch Tuyết trong các quý I, II – 2008.
Doanh thu trong quý II tăng 15% so với quý I nhưng các khỏan giảm trừ doanh thu tăng
1005% ( từ 168,400,519 lên 1,860,834,048 ) và chi phí lãi vay tăng 68% ( từ 783,025,545
lên 1,317,962,117 ). Nhưng thực chất các khỏan thua lỗ này đã bắt đầu tư quý I năm 2008
khi mà lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 1,169,789,195 thì chi phí lãi
vay đã chiếm 783,025,545 (66.94%). Thêm vào đó chi phí hoạt động (bao gồm chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đã chiếm khỏang 36% doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ).
14
Từ những phân tích trên chúng ta có thể đưa ra kết luận rằng BBT lâm vào tình cảnh như
hiện nay là do hai nhân tố chính yếu sau:
Lãi phải trả cho ngân hàng quá cao bắt nguồn từ việc có nhiều nợ ngân hàng với
lãi suất cao (năm 2008 thực sự là năm mà lãi suất đi vay rất cao có khi lên đến
25%/năm ).
Chi phí hoạt động cao từ đó làm giảm lợi nhuận của công ty.
Hai yếu tố này là những chi phí thường xuyên đối với doanh nghiệp vì vậy nó rất quan
Chúng ta áp dụng những công thức sau để tìm ra ngưỡng phá sản của BBT: ..()
1
b
ywbM
xr
yr
..()
1
c
yw
xcMr
yr
M: nợ ngân hàng của công ty.
r: lãi suất phi rủi ro.
b: lãi suất của các khỏan vay.
Chúng ta sẽ tìm ngưỡng phá sản cho thời điểm cuối năm 2007 và thời điểm cuối quý 2-
2008 (đây là thời điểm trước khi BBT ngưng hoạt động).
Trong phần tính tóan này chúng tôi chuyển doanh thu, chi phí hoạt động và nợ ngân hàng
từ số liệu rất lớn sang số liệu nhỏ với hệ số chuyển là 1,000,000,000,000. Tôi làm điều
này vì trong công thức tính
b
x
chúng ta có phần
()
r
. Mà chúng ta đã biết rằng lãi suất
phi rủi ro
r
không thể nào lớn hơn trung bình của doanh thu
. Chính vì vậy chúng ta
phải chuyển để dễ dàng tính tóan nếu không thì ngưỡng phá sản
b
là 15%. Điều này tương ứng với mức lạm phát cao trong năm 2008 và thấp hơn trong
năm 2007.
Chúng ta có bảng kết quả sau:
Bảng 4: Kết quả của việc áp dụng mô hình cho việc tính toán ra doanh thu phá sản,
doanh thu thanh lý, mức lỗ phá sản và mức lỗ thanh lý của công ty Bông Bạch Tuyết
trong hai năm 2007, 2008.
Việc tính doanh thu trung bình năm 2007 dựa trên doanh thu của 4 quý trong năm 2007.
Còn tính toán cho năm 2008 là tính cho 2 quý đầu tiên của năm. Phương sai và nợ ngân
hàng cũng tương ứng với việc tính doanh thu trung bình.
Sau khi xác định được
b
x
,
c
x
chúng ta lấy kết quả nhân với hệ số chuyển là 10
12
từ đó ra
được kết quả doanh thu phá sản và doanh thu thanh lý thực tế. Và từ đó chúng ta cũng
tìm ra được mức lỗ phá sản và thanh lý theo cách mà chúng ta đã nói ở trên.
Bây giờ chúng ta phân tích tính đúng đắn kết quả của mô hình:
Bảng 5: Bảng so sánh giữa các mức doanh thu - lãi lỗ thực tế và doanh thu phá sản -
thanh lý, mức lỗ phá sản – thanh lý của hai năm 2007-2008.
Mức độ thua lỗ thực tế của BBT đã vượt qua mức lỗ phá sản theo hướng xấu đi vì
vậy theo mô hình các cổ đông nên tuyên bố phá sản và dừng hoạt động của nó lại.
Thực tế đã diễn ra đúng như vậy BBT đã dừng hoạt động từ 12/7/2008.
Mức lỗ của BBT vào quý 1,2 năm 2008 đã vượt quá mức lỗ thanh lý vì vậy theo
mô hình đây là thời điểm để ngân hàng có thể tiến hành siết nợ và thanh lý tài sản.
Và quả thực ngân hàng Maritime Bank đã ra tối hậu thư cho BBT là sẽ thanh lý 18
tài sản vào ngày 5/8/2008 nếu như không thể trả được các khỏan nợ (tổng các
khỏan nợ ngân hàng của BBT lên đến 30 tỷ). Tuy nhiên ban lãnh đạo BBT đã xin
khất để tìm ra giải pháp nhằm khôi phục kinh doanh.
Từ những nhận định trên chúng ta có thể thấy được tính đúng đắn của mô hình trong việc
tìm ra ngưỡng phá sản, thanh lý thông qua việc tìm ra doanh thu,mức lỗ phá sản và thanh
lý của công ty.
2.3.Cơ sở lý luận của vùng đệm
Vì sao chúng ta gọi là “vùng đệm” và vùng đệm này có ý nghĩa gì ? Đầu tiên để hiểu
“vùng đệm” là gì chúng ta hãy thử tưởng tượng như sau. Giả sử bạn là một nhà thám
hiểm đang đi tìm kho báu trong một vùng rừng rậm đầy cạm bẩy. Bây giờ phía trước bạn
là một kho báu có một không hai và bạn rất ước ao có được nó, tuy nhiên những hẩm
chông với những gai nhọn hoắt đang cản trở bước tiến của bạn. Lúc này bạn s
ẽ làm gì khi
không thể nhảy qua nó. Câu trả lời là bạn sử dụng những gì có thể được để làm bước đệm
Mức độ rủi ro của hai ngành rất lớn tuy nhiên ngân hàng lại là định chế tài chính
khổng lồ với hàng loạt những chân rết ở hầu hết khắp các nơi và nó lại có mối liên
minh chặt chẽ với nhau và với ngân hàng trung ương cho nên mức độ rủi ro của
nó giảm xuống và thấp hơn so với ngành xây dựng rất nhiều.
Ngành xây dựng có cấu trúc chi phí hoạt động rất cao còn ngành ngân hàng thì
chi phí lớn nhất của nó chính là chi phí lãi vay.
Từ những ví dụ trên chúng ta thấy được rằng có một mẫu chung nào đó giữa các doanh
nghiệp của một ngành và việc có những vùng đệm khác biệt sẽ mang lại hậu quả gì cho
các doanh nghiệp trong ngành ? Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích trong phần tiếp theo.
2.3.1. Mối quan hệ giữa vùng đệm và ngưỡng phá sản của ngành.Chúng ta bắt đầu phân tích một ví dụ về vùng đệm của một ngành và xem xét liệu
vùng đệm ấy tác động thế nào đến ngưỡng phá sản trung bình của ngành. Trong
phần này chúng ta có mẫu gồm 10 công ty hoạt động trong ngành xây dựng bất
động sản, các công ty được lấy theo cách ngẫu nhiên.
Chúng ta có ngưỡng phá sản của ngành xây dựng như sau:
[số liệu các công ty được
lấy từ www.cafef.vn], [số liệu của năm 2009].
Bảng 6 : Ngưỡng phá sản của ngành xây dựng.
20
động của ngành chiếm 5% doanh thu ngành và lãi vay chiếm 2% ) nên đã tạo cho DXG
một đòn bẩ
y làm cho lợi nhuận sau thuế của DXG chiếm 45% doanh thu – nếu khi so với
công ty khác thì vẫn nằm trong tốp cao. Với ví dụ này chúng ta thấy rằng việc DXG sử 21
dụng vùng đệm khác biệt so với ngành đã mang đến cho nó những sự khác biệt trong lợi
nhuận sau thuế. Sự khác biệt này nằm ở chổ nó sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn (74% nợ
ngắn hạn, chỉ có 2% là nợ dài hạn trong cấu trúc vốn ), sự khác biệt này đã mang đến
khoản lãi vay mà nó phải trả so với doanh thu là rất ít ( 0.006% ) từ đó lợi nhuận sau thuế
củ
a nó cũng gia tăng theo. Tuy nhiên cấu trúc chi phí của nó quả là một điều đáng bàn
khi chi phí hoạt động cao so với ngành (50% doanh thu ) từ đó dẫn đến việc lợi nhuận bị
hạn chế đi rất nhiều.
Một ví dụ khác chúng ta có thể xem xét là trường hợp của CII. Cấu trúc vốn của CII là
51% nợ với nợ dài hạn chiếm 43% tổng tài sản. Với cấu trúc vốn như vậy chi phí lãi vay
của CII lên
đến 17% doanh thu và chi phí hoạt động chiếm 58% doanh thu tuy nhiên với
việc có tỷ trọng vốn cổ phần cao như vậy đã làm cho vùng đệm của CII trở nên an toàn
hơn. Với việc có thừa thải tài chính nhiều hơn khi vay nợ ít hơn đã làm cho CII có nhiều
cơ hội đầu tư hơn và bằng chứng là doanh thu từ hoạt động tài chính đã chiếm tới 155%
doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ. Và với việc đó lợ
i nhuận sau thuế trên doanh
thu của CII đạt tới 156%.
Từ hai ví dụ trên đã giúp chúng ta thấy được rằng có một mối liên hệ giữa vùng đệm
chuẩn của ngành và vùng đệm của từng công ty riêng lẽ trong ngành. Chúng ta vẫn biết
rằng một doanh nghiệp lâm vào ngưỡng phá sản khi vùng đệm mà nó tạo ra không phù
đang hoạt động ở mức có rủi ro cao hơn rủi ro của ngành. Nếu chúng ta xem xét
lại con số tương đối so sánh giữa các chi phí và doanh thu của HAGL ( trong bảng
cấu trúc vùng đệm ) thì thấy những con số này không đáng ngại nhưng khi phân
tích ra ngưỡng phá sản thì thực sự HAGL đang có những vùng đệm khá rủi ro với
những con số tuyệt đối về chi phí cố định khá cao. ( Chúng ta có th
ể xem xét bảng
chi phí trong phần phụ lục
Bảng 10:chi phí của các công ty
). Do đó khi xem xét
một vùng đệm nào đó có an toàn hay không chúng ta cần phải xem xét cả ngưỡng
phá sản của nó tạo ra rồi đem so sánh với ngành. Nếu cao hơn thì doanh nghiệp
đó đang có mức độ rủi ro cao hơn.
Những công ty có ngưỡng phá sản thấp hơn của ngành chứng tỏ công ty đang ở
mức an toàn hơn so với ngành – vùng đệm dày hơn. Nếu lấy UIC làm ví dụ thì
trong cấu trúc tài chính của mình UIC có rất ít lãi vay, lãi vay chỉ xuất hiện trong
quý 3, 4 của năm 2009 ( xem phụ lục phần
Bảng 11: xác định doanh thu phá sản
cá nhân năm 2009
), thêm vào đó chi phí hoạt động của nó nhỏ hơn nhiều nếu
đem ra so sánh với các công ty trong ngành. Chính vì vậy vùng đệm của nó trở
nên “dày” hơn và vì thế đẩy ngưỡng phá sản ra xa - bằng chứng là doanh thu phá
sản của nó rất thấp.
23
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng theo quy chuẩn đó, chúng ta cần phải nắm rõ tình
hình của doanh nghiệp để tạo ra vùng đệm phù hợp với hoàn cảnh của chính công ty
mình. Có đôi lúc phải gia tăng để tạo ra an toàn hay “cắt xén” bớt để tạo ra sự linh hoạt
nhằm tạo ra sự đột phá trong lợi nhuận hay nhằm thoát khỏ
i khó khăn.
24
Mỗi công ty nên có những vùng đệm an toàn cho riêng mình dựa trên việc tham khảo
vùng đệm chuẩn của ngành mà mình đang hoạt động. Nhưng đối với những công ty đang
gặp khó khăn thì việc tạo ra những vùng đệm an toàn hơn so với ngành cũng nên được
khuyến khích.
2.4.Phân tích vùng đệm nợ ngân hàng của BBT
2.4.1.Nợ ngân hàng và ngưỡng phá sản
Trong phần này chúng ta sẽ xem xét xem nợ ngân hàng của công ty sẽ có mối liên hệ thế
nào đến doanh số phá sản và mức lỗ phá sản trong mô hình của chúng ta. Thực sự trong
công thức doanh số phá sản chúng ta cũng có thể thấy được phần nào mối quan hệ giữa
chúng nhưng chúng ta sẽ xem xét kết quả thực nghiệm thông qua biểu đồ sau:
Hình 1: Mối liên hệ giữa doanh thu phá sản và nợ ngân hàng của công ty Bông Bạch
Tuyết.
Trong hình này, chúng ta có giá trị nợ ngân hàng và doanh thu phá sản sau khi chuyển
chúng thông qua hệ số chuyển. Dữ liệu để vẽ chúng ta sử dụng data table cho các yếu tố
khác cổ định chỉ duy nhất biến số nợ ngân hàng chạy.
Sự gia tăng trong doanh số phá sản chậm hơn so với sự gia tăng trong chi phí dẫn đến
mức lỗ phá sản gia tăng theo sự gia tăng của nợ ngân hàng.
Điều này có thể được mô tả qua biểu đồ như sau:
Hình 3: Nợ ngân hàng, mức lỗ - chi phí - doanh thu phá sản của BBT.
Trong hình trên đường biểu diễn doanh số phá sản gia tăng chậm hơn so với sự gia tăng
chi phí do đó mức lỗ phá sản sẽ cũng gia tăng tương ứng.
2.4.2.Tác động của nợ ngân hàng
Chúng ta cho nợ ngân hàng thay đổi theo biến ngẫu nhiên và cố định các yếu tố khác,
chúng ta sẽ có 100 quan sát để từ đó tìm xem phạm vi tác động của nó đến ngưỡng phá
sản như thế nào.
Chúng ta có biểu đồ sau:
Hình 4: Tác động của nợ ngân hàng lên doanh thu phá sản.
Từ hình trên chúng ta có thể nhận thấy phạm vi tác động của nợ ngân hàng lên ngưỡng
phá sản là làm cho doanh thu phá sản thay đồi từ khỏang 4.10
9
đến 16.10
9