ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MAI THỊ NHUNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN QUẦN THỂ CỦA LOÀI DẦU
NƯỚC (Dipterocarpus Alatus Roxb.ex G. Don)
BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ SSR (SSRs)
Ở TỈNH ĐỒNG NAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Công nghệ sinh học
Khoa
: CNSH - CNTP
Lớp
: LTK8 CNSH
Khoá học
: 2012 – 2014
Mai Thị Nhung
năm 2014
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề .........................................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu .........................................................................................2
1.3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................2
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ..........................................................2
1.4.1. Ý nghĩa khoa học ........................................................................................2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Một số đặc điểm của loài Dầu nước .................................................................3
2.1.1. Phân loại khoa học .....................................................................................3
2.1.2. Đặc điểm sinh học – sinh thái ....................................................................4
2.1.3. Nơi sống .....................................................................................................5
2.1.4. Công dụng .................................................................................................5
2.1.5. Vấn đề bảo tồn nguồn gen cây Dầu nước..................................................6
2.2. Đa dạng di truyền quần thể thực vật .................................................................6
2.2.1. Khái niệm về đa dạng di truyền quần thể ...................................................6
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng di truyền .............................................7
2.3. Một số chỉ thị phân tử sử dụng trong nghiên cứu đa dạng di truyền ..............10
2.3.1. Chỉ thị AFLP ............................................................................................10
2.3.3. Chỉ thị SSR ...............................................................................................11
2.3.3. Chỉ thị RFLP ...........................................................................................11
2.3.4. Chỉ thị RAPD ...........................................................................................12
2.3.5. Chỉ thị ISSR..............................................................................................13
2.3.6. Sử dụng chỉ thị lục lạp trong nghiên cứu đa dạng di truyền thực vật ......14
5.1. Kết luận ...........................................................................................................37
5.2. Kiến nghị.........................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................38
DANH MỤC, CỤM TỪ VIẾT TẮT
ADN
AFLP
: Axit deoxyribonucleit (Deoxyribonucleic acid)
: Đa hình độ dài các đoạn DNA nhân chọn lọc (Amplified Fragment
Length Polymorphism)
bp
: Cặp bazơ (base pair
CR
: Loài cực kỳ nguy cấp
ISSR
: Trình tự lặp đơn giản ngẫu nhiên (interal simple sequence repeat)
NJ
: Phương pháp kết nối liền kề (Neighbor Joining Method)
PCR
NT
: Núi Tượng
DT
: Đào Tiên
MD
: Mã Đà
TP
: Tân Phú
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Địa điểm và số mẫu Dầu rái (D. alatus) được thu thập ........................... 16
Bảng 3.2. Danh sách các mồi SSR dùng trong nghiên cứu ..................................... 17
Bảng 3.3. Thành phần đệm rửa (washing buffer): pha trong 10ml nước cất
vô trùng ........................................................................................................... 20
Bảng 3.4. Thành phần đệm tách chiết (Extraction buffer): pha trong 10ml
nước cất vô trùng ............................................................................................ 20
Bảng 4.1. Kết quả đo độ hấp thụ bước sóng 260 nm, 280 nm và nồng độ
DNA tổng số của 45 mẫu nghiên cứu ............................................................. 26
Bảng 4.2. Giá trị PIC và tỉ lệ phân đoạn đa hình của 45 cá thể Dầu nước................ 29
Bảng 4.3. Đa dạng di truyền của 4 quần thể loài Dầu nước ..................................... 30
Bảng 4.4. Hệ số tương đồng (trên) và khoảng cách di truyền (dưới) theo
Nam. Dầu nước đang được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và công nghiệp, chúng
cũng được sử dụng như nguồn tinh dầu có giá trị. Trong những năm gần đây, do giá
trị thương mại và nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều của người dân địa phương đối
với loài thực vật này nên chúng đang bị khai thác quá mức. Hơn nữa, do áp lực tăng
trưởng kinh thế nên diện tích rừng đang ngày một suy giảm để phục vụ cho các mục
đích khác nhau của con người.Theo các tiêu chí mới của IUCN 2013 [30] loài Dầu
nước (Dipterocarpus alatus Roxb. ex G. Don) hiện được xếp ở bậc đe dọa ở mức độ
nguy cấp vì có phân bố hẹp, số cá thể trưởng thành còn lại quá ít và chất lượng cây
xấu, tái sinh tự nhiên ít, bị khai thác và chết dần vì môi trường sống bị xâm phạm và
thu hẹp. Cũng vì lý do trên, tại Việt Nam loài này đang nằm trong sách đỏ Việt
Nam năm 2007 ở mức độ nguy cấp[7].
Do có giá trị cao cả về mặt khoa học và kinh tế, vì vậy việc bảo tồn và phục
hồi loài Dầu nước là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các nhà khoa học cũng như các nhà
quản lý. Để góp phần đưa ra các giải pháp bảo tồn và phục hồi loài, đánh giá mức
độ đa dạng di truyền quần thể loài Dầu nước có ý nghĩa quan trọng. Mức độ đa
dạng di truyền không những chỉ ra khả năng tồn tại của loài ở hiện tại và tương lai,
mà còn chỉ ra tiềm năng tiến hoá của loài.
Hiện nay, có nhiều chỉ thị phân tử (RADP, RFLP, ISSR, SSR,...) đã được sử
dụng trong các nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể và loài thực vật. Trong đó, kỹ
thuật SSR (SSRs) đã nhanh chóng trở thành kỹ thuật hữu hiệu và được sử dụng rộng
rãi trong các nghiên cứu.
2
Với việc ứng dụng chỉ thị SSR để nghiên cứu sâu về đa dạng di truyền, đề tài
“Đánh giá đa dạng di truyền quần thể cuả loài Dầu nước (Dipterocarpus alatus
Roxb.ex G. Don) bằng chỉ thị phân tử SSR (SSRs) ở tỉnh Đồng Nai” được thực
hiện. Mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng kỹ thuật phân tử SSR để điều tra mức
độ đa dạng di truyền trong và giữa các quần thể của loài Dầu rái (D. alatus) sống tự
nhiên tại tỉnh Đồng Nai và kết quả sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc đưa
Giới (regnum): Plantae
Ngành (phylum): Angiospermae
Lớp (class): Eudicots
Bộ (order): Malvales
Họ (familia): Dipterocarpaceae
Chi (genus): Dipterocarpus
Loài (species): alatus
Hình 2.1. Cây Dầu nước (Dipterocarpus alatus) tại Vườn quốc gia Cát Tiên,
Đồng Nai
4
2.1.2. Đặc điểm sinh học – sinh thái
Cây gỗ lớn, thân trụ thẳng, phân cành muộn, cao 40-45m, đường kinh đạt tới
2m hay hơn. Vỏ lúc non dày, màu xám trắng; khi già mỏng, màu xám nâu, nứt dọc
nhẹ. Cành màu nâu đỏ, có vết vòng lá kèm và có lông màu xám hay hung đỏ.
Hình 2.2. Dầu rái Dipterocarpus alatus roxb ex G.Don
Lá đơn mọc cách, mặt trên màu xanh thẫm, nhẵn bóng, mặt dưới xanh nhạt có
lông mịn, phiến lá hình bầu dục thuôn, kích thước 16-25x5-15cm, đầu nhọn, gốc tù
hay hình tim. Ở cây non lá có lông, sau nhẵn; gân bên 18-31 đôi, nổi rõ ở mặt dưới,
cuống lá dài 4 – 8cm, mảnh lá kèm bao chồi búp màu đỏ dài 15 – 20cm, rộng 2 4cm, phía ngoài có lông. Cụm hoa mọc ở nách lá, dạng chùm đơn, có lông, dài 1018cm, mang 6-8 hoa không cuống. Lá đài có ống dài 17mm, phía ngoài có 5 gờ dọc,
cánh hoa màu hồng, nhẵn, dài 5cm, nhị nhiều (khoảng 30). Quả có ống đài bao bọc
toàn phần, dài 3-4cm, rộng 2,5-2,8cm, có 5 gờ lớn chạy dọc, khi non màu xanh; trên
đầu mang các cánh do lá đài phát triển, với 2 cánh lớn dài 20- 23cm, rộng 3-4cm, có
3 gân gốc màu đỏ, khi già quà và cánh chuyển sang màu cánh dán.
Quả gần hình cầu, có 5 cạnh nổi rõ, đừng kính 1-1,5 cm. Quả có 5 cánh đài
nhẵn; hai cánh to, cánh dài từ 10-14 cm, rộng 1,5-2 cm, xếp song song, có màu
2.1.4. Công dụng
Gỗ Dầu nước sử dụng nhiều trong công nghiệp và xây dựng như:
6
- Làm cột
- Ván
- Đồ dùng gia dụng
- Chế biến ván ép
- Ván sàn
Nhựa Dầu nước được khai thác làm sơn véc – ni, trát xuồng.
Ngoài ra cây Dầu nước có dáng đẹp nên còn được trồng làm cây cảnh quan
đường phố, cây bóng mát, trong công viên.
2.1.5. Vấn đề bảo tồn nguồn gen cây Dầu nước
Đối với chương trình bảo tồn nguồn gen, đa dạng di truyền ở các loài cây họ
Dầu có thể được duy trì trong rừng thông qua thu hái hạt giống. Khi so sánh với các
loài cây lá kim, chúng ta thấy có những khác biệt cần được quan tâm. Cây lá kim
thường tạo thành các quần thụ lớn và thụ phấn nhờ gió, nên khi thu hái hạt, thường
chỉ thu hái hạt của 5 cây mẹ cho mỗi vùng là đủ vì nó đảm bảo đa dạng di truyền
thông qua thụ phấn chéo nhờ gió với nguồn phấn hoa rất phong phú.
Ngược lại, cây họ Dầu cho thấy có một tỷ lệ các cây không thụ phấn chéo và
thụ phấn giữa hai cây mẹ gần nhau vì côn trùng thường quen thụ phấn cho các cây
trong cùng khu vực trước mà chưa thể bay đi xa. Do vậy, đa dạng di truyền nằm
trong lượng hạt thu thập được chưa đủ đại diện cho cả quần thể như các loài cây lá
kim. Để bảo tồn ex situ cây họ Dầu, nên thu hái hạt từ nhiều cây mẹ cách xa nhau.
2.2. Đa dạng di truyền quần thể thực vật
2.2.1. Khái niệm về đa dạng di truyền quần thể
Đa dạng di truyền là tập hợp tất cả các gen khác nhau của tất cả các cá thể
thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng di truyền
2.2.2.1. Vai trò địa lý
Tính cách ly về địa lý được xem như là nhân tố chính liên quan đến đa dạng
di truyền và là bước đầu tiên của quá trình tiến hoá loài. Đối với quần thể lớn,
tần số di truyền khá ổn định. Ở đây, do thiếu vắng của sự trao đổi di truyền, đột
biến hoặc lựa chọn tự nhiên, tần số gene được duy trì không thay đổi từ thế hệ
này sang thế hệ khác.
Vào đầu những năm 1930, Wright (1931)[45] đã chỉ ra rằng các dòng địa
phương độc lập nhau với kích thước nhỏ được phân cắt từ quần thể lớn sẽ xuất hiện
8
sự khác nhau giữa chúng. Mức độ khác nhau giữa các địa phương càng lớn thì sự
khác nhau giữa các quần thể nhỏ càng cao và phụ thuộc vào điều kiện chọn lọc tự
nhiên tại mỗi địa phương. Kết quả của sự cô lập về mặt địa lý và quá trình chọn lọc
tự nhiên theo thời gian là nguồn gốc hình thành loài mới. Sự khác nhau giữa các
dòng độc lập với nhau về điều kiện địa lý và sinh thái được xác định chủ yếu các
kiểu gen đa hình, mỗi gen đều có ảnh hưởng nhỏ nhưng cộng hợp. Khi thụ thấn
chéo xảy ra giữa các dòng khác nhau, có sự tái tổ hợp giữa các gen này với nhau.
Như vậy, nhiều dạng mới xuất hiện và khả năng khác nhau giữa chúng sẽ lớn hơn.
Đột biến và phương thức sinh sản hữu tính được xem như là cơ chế để cung cấp
nguồn gen mới [25]. Cách biệt về địa lý với các điều kiện môi trường sống khác
nhau diễn ra trong nhiều thế hệ sẽ là hệ quả của tính độc lập về sinh sản giữa các
dòng thực vật và là sự tiến hoá theo các hướng khác nhau và thông qua sự tích luỹ
các gen khác nhau.
2.2.2.2. Phương thức sinh sản thực vật
Phương thức sinh sản ở thực vật được xác định bởi mối quan hệ sinh sản giữa
các cá thể trong quần thể. Có 2 phương thức sinh sản phổ biến, sinh dưỡng và hữu
tính [22]. Tỉ lệ thụ phấn cận noãn hoặc thụ phấn chéo đối với các loài sinh sản hữu
tính là khác nhau ở bất kỳ loài nào hoặc giữa các quần thể cùng loài. Đối với loài
2.2.2.4. Phân cắt nơi sống
Nơi sống của mỗi loài được thiết lập trong quá trình hình thành loài. Phân cắt
xảy ra khi nơi sống bị chia nhỏ và bị cô lập với nhau bằng ma trận các cảnh quan
khác không giống ban đầu và không phù hợp cho sự tồn tại của loài. Như vậy, phân
cắt tạo nên sự phá vỡ nơi sống. Tác nhân gây ra phân cắt bao gồm mở rộng đất nông
nghiệp, khai thác không hợp lý tài nguyên sinh vật, xây dựng khu dân cư và khai
thác khoáng sản. Diện tích nơi sống rộng lớn trước kia bị suy giảm, thậm chí nhỏ
hơn và làm tăng số lượng các mảnh độc lập với nhau với ảnh hưởng vùng biên phổ
biến. Phân cắt đe doạ đến tính thống nhất sinh thái của một vùng rộng lớn đã được
hình thành trong lịch sử phát triển loài và là một trong những nguyên nhân gây ra sự
tuyệt chủng. Suy giảm diện tích nơi sống ảnh hưởng đến kích thước quần thể và
phân bố lại các mảnh nơi sống còn lại sẽ ảnh hưởng đến sự phát tán của loài. Hậu
quả của quá trình phân cắt thường làm suy giảm chức năng hệ sinh thái và cuối
cùng mất nơi sống. Các quần thể nhỏ và bị cô lập trong các mảnh nơi sống còn lại
10
dễ bị tổn thương và ít có khả năng thích nghi khi điều kiện môi trường sống của
chúng bị thay đổi [31]. Tất nhiên, hậu quả sẽ dẫn đến mất tính đa dạng di truyền ở
cả 2 mức độ quần thể và loài và cuối cùng nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng.
2.2.2.5. Quần thể nhỏ và cô lập
Kích thước quần thể thực vật là kết quả của mối quan hệ phức tạp các nhân tố
khác nhau bao gồm lịch sử hình thành quần thể, điều kiện môi trường sống và đặc
điểm sinh thái của loài. Kích thước quần thể phản ánh quá trình thụ phấn, cấu trúc
di truyền và mức độ tiến hoá của loài và được ghi nhận lần đầu tiên bởi Wright
(1931) [45]. Phần lớn các loài đang bị đe doạ tuyệt chủng đều nhỏ về số cá thể trong
mỗi quần thể và số quần thể và tồn tại trong những mảnh rừng nhỏ và cô lập. Một
trong những hậu quả của quần thể nhỏ và cô lập là xuất hiện mối quan hệ cận noãn
giữa các cá thể trong quần thể [32]. Ảnh hưởng này có thể làm mất tính đa dạng di
truyền nếu tần số và cường độ quan hệ cận noãn cao và cuối cùng giảm khả năng
trong hầu hết genome thực vật, động vật và trên con người. Chiều dài thường 1 –
100bp. Do đó, SSR có thể khuếch đại trong ống nghiệm bằng phương pháp PCR với
tính phát triển của primer theo miền của hai bên trên một locus. Ứng dụng kỹ thuật
SSR chi phí ít hơn RFLP. Do đó, hiện nay SSR được dùng để thiết kế bản đồ gene
trong di truyền, chọn lọc giống, đa dạng hóa các vật liệu di truyền.
Các bước thực hiện:
Bước 1: Tách chiết và tinh sạch DNA
Bước 2: Thực hiện phản ứng PCR với các mồi đặc trưng cho các đoạn lặp đơn
giản.
Bước 3: Điện di kết quả trên gel agarose.
Bước 4: Xác định mức độ giống nhau giữa các đoạn lặp DNA, xử lý số liệu,
lập bản đồ di truyền và xây dựng cây phát sinh chủng loại.
2.3.3. Chỉ thị RFLP
RFLP (( Restriction fragment length polymorphism) là phương pháp được sử
dụng lần đầu tiên vào năm 1975 để xác định đa hình DNA nhằm lập bản đồ di
truyền của một đột biến mẫn cảm nhiệt độ của các serotype của adenovirus.
RFLP là phương pháp lai DNA (Southern blot hybridization) là một kĩ thuật
nhằm kết gắn có chọn lọc những đặc thù của những sợi DNA đơn hoặc RNA dựa
trên cơ sở gép cặp bổ sung những đoạn DNA sợi đơn tương ứng đã chuyển dính vào
màng Nitrocellulose [15].
12
2.3.4. Chỉ thị RAPD
RAPD (Random Amplified polymorphism DNA) là kĩ thuật được 2 nhóm
nghiên cứu Williams và cộng sự, (1990) và Welsh và cộng sự, (1991) [43,44] phát
minh ra một cách độc lập tại hai phòng thí nghiệm khác nhau.
Kĩ thuật RAPD dựa trên cơ sở của kĩ thuật PCR, sử dụng các đoạn mồi ngắn 4
– 10 nucleotide không đặc trưng để tiến hành phản ứng PCR. Thường mồi dài 10
Tuy nhiên chỉ thị RAPD có tính trội nên những kiểu gen điều khiển tính trạng
nào đó ở trạng thái lặn sẽ khó tìm thấy sự đa hình trên gel điện di, hơn nữa RAPD
có tính chất ngẫu nhiên nên việc lặp lại phân tích điện di trên gel thường không
thống nhất và thường có nhiều băng khó phân tích, dẫn đến việc phân tích kết quả
dễ sai lầm do đánh giá chủ quan của từng người. Tuy nhiên, phương pháp này dễ
làm và ít tốn kém nên vẫn được sử dụng khá phổ biến trong việc đánh giá đa dạng
di truyền ở nhiều loài [1, 2].
2.3.5. Chỉ thị ISSR
Chỉ thị ISSR (inter-simple sequence repeat) do Zeitkiewic và cộng sự, (1994)
phát minh [46].
Trong cấu trúc hệ gen của vi sinh vật nhân thật tồn tại một loại các trình tự
nucleotide lặp lại, chúng thường đặc trưng cho loài. SSR gồm từ 2 đến 5 nucleotide
lặp lại nhiều lần, ví dụ: (AT)n, (AG)n, (AGTC)n. SSR nằm rải rác trong hệ genome
của thực vật bậc cao. Kỹ thuật PCR sử dụng tính chất của SSRs để nhân bản các
đoạn gen nằm giữa SSR. Đoạn mồi được thiết kế là đoạn oligonucletide có trình tự
bổ sung với đoạn SSR. Số lần lặp lại nhiều lần làm cho các phân đoạn DNA được
nhân có độ dài ngắn khác nhau và đặc trưng cho mỗi cá thể [17].
Giống như chỉ thị RAPD, ISSR cũng dựa trên kỹ thuật PCR và chỉ dùng một
mồi đơn có độ dài từ 20 đến 30 nucleotide để nhân bản các trình tự đơn giản ở giữa
các trình tự lặp lại cho loài. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra chỉ thị ISSR phản
ánh mức độ phân nhóm di truyền của quy luật Mendel.
Ưu và nhược điểm: Đây là nhóm chỉ thị đồng trội có khả năng phát hiện tính
đa hình rất cao, có khả năng tự động hóa trong quá trình thực nghiệm. Tuy nhiên,
nhược điểm của chỉ thị này là quá trình thiết kế mồi đắt đỏ, mỗi một loại mồi chỉ
đặc trưng cho một loài.
Hiện nay chỉ thị ISSR cũng được sử dụng rất hiệu quả trong nghiên cứu đa
dạng DNA ở nhiều đối tượng cây trồng [34].
14
suy giảm trong tương lai gần nếu chúng ta không có các biện pháp bảo vệ và phục
hồi loài hữu hiệu hơn. Nhóm tác giả khác cũng đã sử dụng chỉ thị phân tử SSR lục
15
lạp (cpSSR) để nghiên cứu mối quan hệ di truyền cho loài Thủy tùng, Thông đỏ bắc
và Thông đỏ lá dài làm cơ sở cho nghiên cứu bảo tồn[3,4]. Một số công trình nghiên
cứu khác cũng có thể kể đến như Đinh Thị Phòng và cộng sự (2009,2011); Vũ Thị
Thu Hiền và cộng sự (2009) cũng đã sử dụng chỉ thị thị RAPD, ISSR và cpSSR
để nghiên cứu mối quan hệ di truyền cho Pơ mu, Bách xanh và một số loài thuộc
chi Trắc Dabergia[5,6,11] Nguyễn Đức Thành và cộng sự (2005) nghiên cứu về
đa dạng di truyền một số loài cây Họ Dầu Dipterocarpaceae dựa trên đa hình
DNA genome và lục lạp[13]. Như vậy, những kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở
khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn nguồn gen và duy trì tiến hoá của một
số loài quý hiếm ở nước ta. Để có chiến lược bảo tồn loài hữu hiệu hơn, chúng ta
cần phải có thêm nhiều thông tin về lĩnh vực này.
2.4.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về di truyền quần thể và loài
phục vụ công tác bảo tồn và phục hồi[19,21,24,27,33,38]. Các tác giả đã phân tích
cấu trúc di truyền của một số loài quý hiếm và chỉ ra mức độ đa dạng di truyền bị
suy giảm rất cao liên quan đến khả năng tăng hệ số đồng hợp tử trong các quần thể
nhỏ và cô lập. Sự khác nhau về đa dạng di truyền giữa các quần thể là rất lớn. Tác
giả đã đưa ra một số biện pháp ứng dụng để phục hồi nguồn tài nguyên và đã đạt
hiệu quả cao. Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến mức độ suy giảm tính đa dạng di
truyền trong và giữa các quần thể thực vật liên quan đến quá trình phân cắt nơi
sống[20,31,32]. Các tác giả đã chỉ ra rằng suy giảm tính đa dạng di truyền xảy ra
liên quan đến số lượng cá thể rất thấp trong quàn thể. Hệ số thụ phấn cận noãn cao
là yếu tố làm suy giảm tính đa dạng di truyền. Phân cắt nơi sống có thể hạn chế mức
độ trao đổi di truyền giữa các quần thể bị cô lập và làm tăng mức độ di truyền khác
Đảo Tiên 12
Địa điểm
Khu dự trữ Thiên nhiên
Vĩnh Cửu, Đồng Nai
Vườn Quốc gia Cát
Tiên, Đồng Nai
Độ cao
(m)
Vĩ độ
Kinh độ
129 m
11o12’N
107o09’E
120 m
11o44’N
107o27’E
80 m
[
Ký
hiệu
Trình tự
lặp
P193
(AG)15
P226
(GA)24
P214
(AG)15
P293
(GA)25
P258
(TA)8
P120
55oC
226
56oC
214
55oC
293
55oC
258
55oC
120
54oC
170
55oC
169
54oC
R-5’-CATGG ACATA AGTGG AG-3’
Ujino et
al., 1998
CA)10
Shc11
(CT)4TT F-5’-ATCTG TTCTT CTACA AGCC-3’
(CT)5
R-5’-TTAGA ACTTG AGTCA GÂTC-3’
3.2. Thiết bị, hóa chất và dụng cụ
3.2.1. Thiết bị
- Máy li tâm lạnh
- Máy điện di
- Máy chụp ảnh gel
- Máy ổn nhiệt
Ujino et
al., 1998
18
- Máy soi UV
- Máy votex
3.2.2. Hóa chất
- Agarose gel 0.8%
Nhân các đoạn SSR của các mẫu Dầu nước bằng kỹ thuật PCR