Contents 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
2.Những yếu tố tạo nên sự cạnh tranh về xuất khẩu cho sản phẩm ô tô : 3
II.Áp dụng mô hình Kim Cương vào phân tích lợi thế cạnh tranh 6
1.Điều kiện các yếu tố sản xuất 6
4.Chiến lược, cơ cấu, môi trường cạnh tranh 12
6.Phân tích vai trò của chính phủ 17
Chính phủ Mỹ tạo ra các lợi thế cạnh tranh cho ngành công nghiệp của họ một cách
không trực tiếp mà thông qua các các hình thức hoạt động như môi trường kinh doanh .
Môi trường ở đây là gì? Đó là điều kiện về tài nguyên ,điều kiện về cầu , cơ cấu ngành
công nghiệp , điều kiện về ngành nghề liên quan và ngành công nghiệp phụ trợ (phần
này nói chi tiết ở các ngành công nghiệp phụ trợ ) một số các thuận lợi khác như hệ
thống thuế , khuyến khích tài khóa chi tiêu công cộng , đầu tư nghiên cứu phát triển của
chính phủ 17
7.Một vài số liệu về kết quả xuất khẩu đã đạt được 18
LỜI
Có thể nói từ những năm gần đây nền kinh tế thế giới đang trải qua rất nhiều sự
biến động. Cùng với nhiều sự khủng hoảng liên tiếp, lớn nhất là khủng hoảng tín dụng
Mỹ năm 2007, kéo theo sự sụp đổ của đế chế Lehman Brothers, cùng khủng hoảng kinh
tế toàn cầu 2008-2009. Bước sang năm 2010, tuy ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tạm
lắng nhưng vẫn còn tiểm ẩn nhiều biến động, điển hình là khủng hoảng nợ công của Hi
Lạp, các nước Châu Âu như Tây Ban Nha, Ý và Bồ Đào Nha cũng đang đứng trước nguy
cơ tương tự và bong bóng tài sản ở Trung Quốc. Mặc dù còn nhiều lo ngại, nhưng sự hồi
phục kinh tế đang được hỗ trợ bởi chính sách tiền tệ và tài khoá thông thoáng hơn.
Những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển sẽ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế thế giới. Chiến lược “hiện thực hoá lợi nhuận” đã và đang được áp dụng sớm ở các nền
kinh tế phát triển là một trong những rủi ro cho nền kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó,mặc dù
sự cạnh tranh quyết liệt từ Trung Quốc và các nước khác nhưng nền kinh tế Mỹ đang dần
bước qua giai đoạn khó khăn. Các doanh nghiệp hàng đầu luôn biết nắm bắt thời cơ cũng
tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự
nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế
cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4
nhóm yếu tố. Mỗi liên kết của nhóm này tạo thành mô hình kim cương. Các nhóm yếu tố
đó bao gồm: (1) Điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện về cầu, (3) Các ngành công
nghiệp hỗ trợ và có liên quan, (4) chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành.
Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh quốc gia.
Ngoài ra, còn có 2 yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ hội. Đây là 2 yếu tố có
thể tác động đến 4 yếu tố cơ bản kể trên.
2
!" #$%&&
' ()"*+,*&$-./01/2
Chất lượng: Chất lượng ô tô là yếu tố quan trọng nhất. Bởi lẽ đây là ngành đánh vào
những người có thu nhập tương đối cao hoặc phục vụ cho công việc nên chất lượng được
đánh giá là yếu tố quan trọng nhất.
Giá cả: Một chiếc ô tô giá cả hợp lý và đánh đúng từng phân đoạn thị trường cần thiết
cho các khách hàng mục tiêu khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt
nhất.
Chất lượng và dịch vụ hậu mãi:Việc sản xuất và xuất khẩu ô tô ra thị trường nước ngoài
sẽ tạo ra khoảng cách về không gian giữa trụ sở nhà sản xuất chính và người tiêu dùng
3
34(56789:;
<=>5?(@A(3=>B(3
(@;(3
34(56789:;
<=>5?(@A(3=>B(3
(@;(3
C!D(E4
=FGH(I9=
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PPPPP
PP
3Q(3
%3R
ngoài nước. Bởi vậy mà việc xây dựng hệ thống đại lý cũng như trung tâm bảo hảnh, sửa
chữa và dịch vụ đi kèm trong quá trình sử dụng được người tiêu dùng ô tô đặt sự quan
tâm hàng đầu.
Tính đổi mới và thương hiệu: Thương hiệu tạo ra giá trị niềm tin cho người tiêu dùng, và
tính đổi mới thu hút sự quan tâm của khách hàng.
Sự linh hoạt: Sự linh hoạt trong việc đưa ra chiến lược kinh doanh tùy thuộc vào tình
hình và nhu cầu của người tiêu dùng trên toàn thế giới nơi có sản phẩm ô tô của doanh
nghiệp bán ra. Điều này rất quan trọng bởi mỗi quốc gia, khu vực nơi sản phẩm thâm
nhập sẽ có sự thay đổi liên tục về nhu cầu và thị hiếu tác động tới tâm lý người tiêu dùng.
Có được những yếu tố bên trên sẽ là nguyên tố quan trọng cho sự thành công của ngành
sản xuất ô tô hướng đến tiêu dùng trong nước và nhất là xuất khẩu.
S =TU$VW1X
Lịch sử ngành công nghiệp ô tô gắn liền với sự sản xuất và tiêu thụ hàng loạt và đã
có chiều dài hơn 120 năm. Đầu thế kỷ 20, mô hình Ford trở thành hình mẫu cho nền kinh
tế hiện đại: phân chia công việc (với sự chuyên môn hóa sản xuất, mô hình sản xuất dây
chuyền phát triển bởi Taylor), sự tiêu chuẩn hóa và nâng cao sức mua của công nhân,
nhằm thúc đẩy tiêu dùng và tăng nhu cầu. Vào những năm 1970, một mô hình cạnh tranh
=Y1ZV
N"
[
= W
G"\]-0-.
Z]&^'__
`&Wa
=[
&b
1 Toyota
Nhật
Bản
Daihatsu,
Lixus, Hino,
Toyota,
Scion,
8,557
Toàn
cầu
2 GM Hoa Kỳ
Buick,
Cadtillac,
Chevrolet,
Daewoo,
8,476
Toàn
cầu
3 Volkswagen Đức
Audi, Bentley,
Lamboghini
phẩm đầu ra đều là nguồn lực của sản xuất. Theo đó những nguồn lực sản xuất ra ô tô là:
• (he\,.\]
Ngày nay, người Mỹ coi “vốn nhân lực” là chìa khóa dẫn đến thành công trong nhiều
ngành công nghiệp công nghệ cao, hiện đại. Do đó, các nhà lãnh đạo chính phủ và các
quan chức quản lý kinh doanh ngày càng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục và
đào tạo để phát triển lực lượng lao động có đầu óc nhanh nhạy và kỹ năng thích hợp
Nhân lực và kỹ năng:
Đội ngũ kỹ sư và người quản lý: là một nước đứng đầu về khoa học và giáo dục nên
Mỹ luôn sản sinh ra đội ngũ trí thức, kỹ sư và nhà quản lý trình độ cao.
Góp phần tạo nên tính năng suất của lực lượng lao động Mỹ là trình độ giáo dục, bao gồm cả
đào tạo kỹ thuật và đào tạo hướng nghiệp. Đi đôi với trình độ giáo dục cao còn là sự sẵn sàng
học hỏi kinh nghiệm và chấp nhận thay đổi trong công việc của người dân Mỹ.
Năng suất :
Với chất lượng nguồn lực như trên đã tạo ra một năng suất lao động rất cao cho nền
sản xuất của Mỹ. Theo báo cáo này định kỳ 2 năm/lần của ILO. Dựa trên số liệu năm
2006, ILO kết luận rằng nếu năng suất lao động được tính theo giờ thay vì tổng thời gian
làm việc, thì Na Uy đứng đầu thế giới, tiếp đến là Mỹ và Pháp.
Theo tính toán của ILO, lấy tổng giá trị sản phẩm quốc nội chia cho tổng số người lao
động, thì trung bình mỗi người lao động của Mỹ sản xuất ra lượng của cải trị giá 63.885
USD/năm.
Nguồn theo Reuters, AP
Ví dụ: Tại Ford đã ứng dụng phương thức sản xuất ôtô và phương pháp quản lý nguồn
nhân lực trên quy mô lớn , đặc biệt là những dây chuyền lắp rắp được xây dựng công phu
mà tiêu biểu là dây chuyền lắp ráp tự động. Sự kết hợp các nhà máy hiệu quả cao, nguồn
nhân công được trả lương hậu hĩnh và những quy trình sản xuất chi phí thấp của Henry
Ford đã được khắp thế giới biết đến như là Triết lý kinh tế.
6
• (h\,W2
Cả thế giới đều biết Mỹ là một nước đứng đầu về khoa hoc và công nghệ. Công nghệ sản
xuất ô tô là một băng chuyền sản xuất liên tục và linh hoạt. Đối với sản xuất ô tô là một
7
Than đá, đồng, chì, molybdenum, phốt phát, uranium, bô xít, vàng, quặng sắt, thuỷ ngân,
nicken, muối kali, bạc, tungsten, thiếc, dầu lửa, khí tự nhiên, gỗ… là những nguyên liệu
trực tiếp hoặc gián tiếp cấu tạo nên thành phẩm cho ngành này cũng như ngành công
nghiệp phụ trợ.
• 1f"#$c$W1
Có thể nói thị trường vốn giá rẻ và dễ tiếp cận được coi là chìa khóa cho sự thành công
của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp sản xuất ô tô là một ngành đòi hỏi nguồn
vốn d đầu tư lớn. Ở Mỹ được coi là thị trường vốn lớn nhất thế giới. Các thị trường vốn
cho phép một số lượng lớn người bán và người mua thực hiện hàng triệu giao dịch mỗi
ngày.
Việc có rất nhiều nguồn thông tin tạo điều kiện cho các nhà đầu tư theo dõi vận
mệnh của thị trường từng ngày, từng giờ, hoặc thậm chí từng phút. Luật pháp đòi hỏi các
công ty phải niêm yết báo cáo thu nhập hàng quí, báo cáo thường niên thật tỷ mỉ, và các
biên bản ủy nhiệm để thông báo cho cổ đông biết họ đang hoạt động như thế nào.
Mỹ cũng là nước có hệ thống ngân hàng rộng lớn và phát triển mạnh mẽ. Các nghiệp vụ
của ngân hàng đa dạng và dễ sử dụng.
Có rất nhiều nguyên nhân đó làm cho thị trường vốn cho doanh nghiệp tiếp cận là rất
rộng mở và với chi phí vốn thấp.
• i*j2$7&k
Là một đất nước phát triển nhất thế giới nên Mỹ sở hữu và sử dụng một hệ thống cơ
sở hạ tầng giao thông có chất lượng cao phục vụ thiết thực cho phát triển của kinh tế Mỹ.
Một hệ thống đường bộ, đường sắt, đường ống phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa.
Cùng với đó góp phần cho thương mại quốc tế, hệ thống cầu cảng biển của Mỹ cũng là
nhân tố quan trọng. Tại Mỹ có 149 cầu cảng phục vụ cho viện vận chuyển hàng hóa trong
nước cũng như thế giới.
Hệ thống thông tin phát triển bao gồm mạng lưới, dịch vụ Bưu chính, Viễn thông,
Internet, truyền dẫn phát sóng….
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô Mỹ luôn biết sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào để
tạo nên chi phí thấp cũng như sự khác biệt hóa cho các sản phẩm ô tô của mình. Tất cả
J(@;(3<(@
(@3D%LM(NB(
:;J(@;(3<(@
(@3D%op=>6
C KIỆN
NHU CẦU
C KIỆN
NHU CẦU
Những cơ chế sản sinh yếu tố sản xuất
tinh vi thu hút sinh viên và các doanh
nghiệp nước ngoài thông qua các sản
phẩm của quốc gia các doanh nghiệp
nước ngoài
Hình ảnh của những ngành
công nghiệp liên quan và
phụ trợ hàng đầu thế giới
mang lại lợi ích cho một
ngành công nghiệp.
quan và phụ trợ hàng
đầu thế giới mang lại
lợi ích cho một ngành
Những ngành công nghiệp sản xuất
sản phẩm bổ sung thành công quốc
tế sẽ lôi kéo nhu cầu nước ngoài
đối với sản phẩm của ngành.
Nhóm các công ty cạnh tranh tạo
cũng là những mác xe sang, nhưng lại rẻ hơn so với Audi hay BMW.
Những năm trước đây, những chiếc xe Buick bị đánh giá là có kiểu dáng cũ kỹ, chỉ hợp
với những người nội trợ già. Thống kê cho thấy những người trên 70 tuổi rất thích mác
xe này. Giờ đây, với nhiều mẫu xe mới, Buick đang từng bước chinh phục khách hàng trẻ
hơn.
10
Điển hình trong số đó là chiếc LaCrosse mới, một chiếc sedan sang trọng. Mẫu xe mới
được cho là rất phù hợp với những chủ nhân 40-50 tuổi.
Quan trọng hơn, chiếc xe được thiết kế tại Đức này được bán với giá 27.000 USD, rẻ hơn
những chiếc xe cùng loại của châu Âu hay Nhật Bản từ 5.000 USD đến 20.000 USD.
Với Hyundai, chiếc Genesis đang được coi là một “hiện tượng” tại Mỹ. Cũng là thuộc xe
sang, nhưng Genesis có giá rẻ hơn xe cùng loại của các hãng xe khác từ 15.000 USD đến
25.000 USD.
Joan Sher, một khách hàng Mỹ, đã quyết định không mua chiếc SUV Mercedes GL 450
có giá 60.000 USD để chuyển sang lấy chiếc Genesis có giá 44.000 USD.
Rick Case, chủ một đại lý bán xe hơi ở Giergia (Ohio), chuyên bán xe Acura và Audi,
cho biết cửa hàng của ông giờ đây chỉ thích nhập những mẫu xe nhỏ.
Tại đây, chiếc Acura TSX có giá 30.000 USD đang là mẫu xe bán chạy nhất, chiếm vị trí
trước đó của chiếc Acura TL có giá 35.000 USD.
Cầu của thị trường xe hơi trong nước là nhân tố đóng góp không nhỏ cho định hướng
xuất khẩu của nó. Bởi lẽ các sản phẩm nói chung hướng vào tiêu dùng nội địa là thị
trường lớn, sau đó các giai đoạn tiếp theo của vòng đời sản phẩm sẽ được xuất khẩu
sang nước ngoài hoặc xuất khẩu sản phẩm dư thừa sang nước ngoài, điều này đặc biệt
đúng đối với các doanh nghiệp không phải chuyên sản xuất để xuất khẩu. Hơn nữa,
người tiêu dùng trong nước thường đi trước một bước trong việc tiêu dùng sản phẩm ô tô
so với thế giới và vì thế nó quyết định đến sự thành công của xuất khẩu.
S gVW1t&]V\+U$2
Đối với mỗi doanh nghiệp, ngành công nghiệp hỗ trợ (Supporting Industry-SI) là
ngành nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu. Nó cung cấp linh kiện, phụ tùng,
nguyên phụ liệu cho ngành công nghiệp sản xuất và tiêu dùng. Ví dụ để tạo ra một chiếc
Những hãng xe đến sau thường không có sự lựa chọn đúng ý mà bắt buộc phải liên kết
với các đối tác không mấy mạnh. Đây là điều làm nên chìa khóa thành công cho ngành
công nghiệp ô tô Mỹ. Luật Trung Quốc yêu cầu nhà sản xuất nước ngoài muốn hoạt động
ở đây phải liên doanh với một công ty trong nước. GM đã sớm có đối tác tin cậy là ôtô
Thượng Hải (SAIC), hãng ôtô lớn nhất Trung Quốc và cũng là đối tác của Volkswagen.
Điều này làm tăng lợi thế cạnh tranh xuất khẩu ô tô của Mỹ sang thị trường sang Trung
Quốc và toàn thế giới.
u \]7 .7&b*&$
Chiến lược về tiếp cận thị trường xuất khẩu
• Xác định thị trường xuất khẩu chính.
• Nguồn tiếp cận thông tin từ thị trường xuất khẩu:
12
• Chiến lược xúc tiến xuất khẩu.
• Chiến lược phát triển kênh phân phối
:fcd về chiến lược tập trung phát triển xe nhỏ gọn của Ford mô tô.
Tại thị trường Bắc Mỹ, thị phần của Ford trên phân khúc xe cỡ nhỏ ngày càng phát
triển ở thị trường này.
Các mẫu xe mới sẽ giúp cân bằng về các chủng loại xe của Ford tại thị trường Bắc
Mỹ. Vào năm 2004, dòng xe ô tô và crossover chỉ chiếm 35% tổng doanh số bán ra của
Ford trong khi dòng xe tại và SUV chiến 65%. Đến năm 2010, doanh số của dòng xe ô tô
và crossover tăng mạnh chiếm khoảng 57% doanh số giúp cân bằng lại các dòng sản
phẩm của Ford.
Các mẫu xe nhỏ như Ford Fiesta và Ford Focus hiện đang là 1 trong mẫu xe mới bán
chạy nhất tại Mỹ, doanh số tăng từ 14% vào năm 2004. Mẫu xe Focus mới được xây
dựng trên sức ảnh hưởng của mẫu xe Fiesta hoàn toàn mới vốn đang khuấy động các
phòng trưng bày tại Bắc Mỹ, cho dù ngày càng có nhiều sản phẩm thuộc phân khúc này
được xuất xưởng nhưng với Ford khách hàng sẽ có những lựa chọn chưa từng có trước
đó.
Với sự xuất hiện của một loạt xe mới đầy sức lôi cuốn trên toàn thế giới, Ford đang dần
đến gần hơn và tương tác với khách hàng thông qua các chương trình truyền thông rộng
Tại Canada, Ford hiện có doanh số cao hơn GM, và có thể theo kịp tổng doanh số
của GM trước khi kết thúc năm 2009. Tuy nhiên, doanh số toàn cầu của GM hiện vẫn cao
hơn Ford, nhờ dẫn đầu các thị trường Trung Quốc và Brazil.
Do đó, vẫn chưa thể “coi thường” GM. GM sẽ tung ra thị trường một mẫu
Chevrolet cỡ nhỏ mới trong năm tới - Cruze, thay thế mẫu Cobalt. Và một vài mẫu
Cadillac mới cũng chuẩn bị ra mắt, có thể giúp GM củng cố vị thế. Bên cạnh đó, mẫu
Biuck LaCrosse mới ra trình làng.
Cuộc cạnh tranh giữa 2 hãng diễn ra rất căng thẳng và ở mọi lĩnh vực. Trong một
quảng cáo của mình vào đầu tháng 9/2011, Ford đã làm cho nhiều người Mỹ, trong đó có
chính khách hàng của Ford bất ngờ với quảng cáo mới của mình. Trong quảng cáo, một
người phóng viên đã hỏi một chủ xe của chiếc Ford pickup: ”Chris, việc mua xe của
người Mỹ có quan trọng với bạn không?”.
Không chỉ cạnh tranh trong nước với nhau, cả Ford và GM đều có những biện
pháp, chính sách đế cạnh tranh đối với các hãng xe khác trên thế giới.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các hãng sản xuất ô tô trên chính đất Mỹ là một tiền đề to
lớn cho xuất khẩu ô tô của hãng này. Bởi chính sự cạnh tranh làm cho các hãng phải
14
thay đổi cơ cấu, chiến lược, các nguồn lực … để tung ra các sản phẩm và dịch vụ đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng khắt khe trong nước. Có được sự cung ứng tốt với người tiêu
dùng khó tính trong nước thì việc thành lập các trụ sở ngoại quốc để cung ứng trên thị
trường ngoài là điều dễ dàng hơn rất nhiều.
v :$&w#$ x&\]*&$-./#$Vs
• =TU$0i#$ x
Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển
vị thế cạnh tranh. Chúng có thể tạo ra tiềm năng mà các công ty có thể khai thác để có
những lợi thế đáp ứng điều kiện mới và khác biệt. Như chúng ta đã biết các thành phần
của lợi thế cạnh tranh quốc gia sẽ cùng nhau tạo nên một hệ thống mạnh để duy trì lợi thế
cạnh tranh. Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, hệ thống này sẽ hướng theo một xu
hướng ngành nhất định. Do đó, cần phải có sự đột biến để đủ thay đổi những lợi thế. Mặt
khác, các thành phần của lợi thế quốc gia định hình môi trường trong các ngành cụ thể
Toyota và Honda…bị khách hàng trên toàn thế giới ít ưa chuộng hơn so với xe Mỹ. Đây
là một trong những cơ hội đã được các doanh nghiệp ô tô nước Mỹ áp dụng rất tốt tạo
nên lợi thế cạnh tranh quốc gia với các nước khác.
Vấn đề thứ ' mà chúng ta đề cập tới là sự tác động của giá dầu mỏ đến xuất khẩu ô tô ở mỹ:
Có thể nói thế giới đang tiêu thụ một lượng dầu rất lớn hằng ngày. Trong khi đó trữ
lượng dầu mỏ ở mỹ là rất lớn và mỹ có tác động vô cùng mạnh mẽ vào giá dầu mỏ. Có
thể thấy được là giá dầu mỏ tăng mạnh trong những năm gần đây làm các hạng xe sang
nước ngoài khốn đốn vì tiêu tốn quá nhiều nhiên liệu. Do đó, người tiêu dùng có xu
hướng chuyển sang tiêu dùng các dòng xe tiết kiệm nhiên liệu. Với sự nhạy cảm của
mình các ông lớn ô tô nước mỹ đã đón đầu được cơ hội từ việc sản xuất ra các dòng xe
tiết kiệm nhiên liệu đã được cả thế giới đón nhận. Cụ thể về những mẫu xe mới ra đời
được cho là có sự tiết kiệm nhiên liệu tốt nhất thế giới hiện nay:
'_'{&c{
Lượng nhiên liệu tiêu thụ: 8,4 lít/100 km nội thành và 6,2 lít/100 km xa lộ
'_{&c{3q&c
Lượng nhiên liệu tiêu thụ: 5,7 lít/100 km nội thành và 6,5 lít/100 km xa lộ
16
'_&\:\
Lượng nhiên liệu tiêu thụ: 2,5 lít/100 km
3 ví dụ điển hình trên cho thấy được rằng sự thay đổi bất ngờ về công nghệ luôn là một
trong những cơ hội để giúp ngành công nghiệp ô tô của Mỹ tạo lợi thế cạnh tranh với các
quốc gia khác.
Một mặt khác nữa chính là sự kém ổn định trong các nước cạnh tranh xuất khẩu ô tô với
Mỹ trong thời gian gần đây lại là một trong những điều kiện thuận lợi giúp Mỹ phát triển
xuất khẩu ô tô tăng mạnh. Đặc biệt, Nhật Bản và Trung Quốc gần đây đang chịu ảnh
hưởng từ thiên tai như sóng thần, bão, lũ lụt… đã gây ra rất nhiều bất lợi cho ngành ô tô
nước này. Cùng với đó là lượng xe xuất khẩu trì trệ và không đủ đáp ứng nhu cầu. Cũng
với điều kiện không thuận lợi vì sự khủng hoảng ở châu âu dẫn tời các nước thành viên bị
liên lụy. Thị trường chứng khoán châu âu liên tục giảm điểm khiến các doanh nghiệp
không có quá nhiều vốn, trong khi người tiêu dùng lại hoài nghi nhiều hơn…Và vì thế
phải nhờ vào khoản cứu trợ khẩn cấp nhiều tỷ USD của chính phủ Mỹ.
Kể từ đó, GM nổi lên như một công ty quốc doanh, khi Nhà Trắng nắm tới 61%
cổ phần, còn Chrysler tiến hành tái cơ cấu với sự hỗ trợ của Fiat (hãng chế tạo ô tô Italia
đã giành được 20% cổ phần của Chrysler).
Sau khi được chính phủ Mỹ tiếp sức thì GM đã trở lại mạnh mẽ và hoạt động có
lãi trở lại và được hỗ trợ thực hiện IPO . Việc chính phủ thực hiện cứu trợ ngành ô tô cho
thấy vai trò của nó với nền kinh tế và sự quan tâm của chính phủ tới ngành ô tô.
Những tác động của chính phủ là điều rất quan trọng và hầu như chính sách của chính
phủ quyết định đến thành bại của ngành.
} Một vài số liệu về kết quả xuất khẩu đã đạt được
Sau đây là một số kết quả về bán hàng trong nước cũng như xuất khẩu của các
hãng ô tô Mỹ:
@ mô tô.
GM đã bán được 2,2 triệu xe trong năm 2010, vượt gần 131.000 so với năm trước,
mặc dù nó đã thoát khỏi bốn thương hiệu để tập trung vào Chevrolet, Buick, Cadillac và
GMC. Tháng Mười Hai doanh số bán hàng của công ty tăng 7,5% do sự tăng trưởng
nóng của một số dòng xe như Chevrolet Equinox, một dòng SUV nhỏ hơn chỗ ngồi năm
18
người. Equinox doanh số bán hàng tăng 80%. : hy vọng doanh số bán hàng trong phạm vi
13-triệu vào năm 2011, đó sẽ là trở lại mức Mỹ đã thấy trong năm 2008
{&c2 Doanh số bán hàng của Ford tăng nhờ nhu cầu mạnh mẽ cho dòng xe bán
tải của nó, như các công ty xây dựng và doanh nghiệp nhỏ khác đã bắt đầu mua xe tải
một lần nữa. Xe bán tải F-150 là chiếc xe bán chạy nhất tại Mỹ năm ngoái.
Ford đã bán được 1,9 triệu chiếc xe hơi và xe tải và ăn cắp khách hàng từ các đối thủ bao
gồm cả GM và Toyota. Ford cho biết năm 2010 là năm thứ hai liên tiếp giành được chia
sẻ thị trường Mỹ, tăng back-to-back đầu tiên kể từ năm 1993. Tháng Mười Hai doanh số
bán hàng tăng 3%, mặc dù, một phần vì sẽ giảm được 40% trong doanh số bán hàng thấp
lợi nhuận cho công ty cho thuê xe.
&\&@&1 đã bán được 1,1 triệu xe trong năm 2010. Phần lớn sự gia
tăng vào đầu năm đến từ việc bán công ty cho thuê xe, nhưng xe mới thúc đẩy tăng
đã đọc bài của nhóm và chúng em mong nhận được sự góp ý tận tình của thầy để cả
nhóm có một cái nhìn đầy đủ hơn.
20
=V\W$0
Giáo trình:
• PGS – TS Bùi Xuân Lưu – PGS - TS Nguyễn Hữu Khải, Giáo trình : Kinh
Tế Ngoại Thương/ năm 2009/ NXB: Thông tin và Truyền thông.
• PGS – TS Nguyễn Trung Văn ( chủ biên), Giáo trình: Marketing Quốc Tế,
năm 2008/ NXB: Lao Động Xã Hội
Webside:
http://media.ford.com/article_display.cfm?article_id=33730/Ngàyxem: 2/11/2011
http://oica.net/category/production-statistics/ Ngày xem: 2/2011
http://ckcauto.com/news/detail/nhin-lai-nganh-cong-nghiep-oto-toan-cau-2010-
217.html Ngày: 2/11/2011
http://baodatviet.vn/Home/kinhte/gochanghieu/Tong-so-xe-hoi-toan-cau-vuot-
muc-1-ty-chiec/20118/163895.datviet Ngày xem: 2/11/2011
http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p_%C3%B4_t
%C3%B4 Ngày xem; 9/11/2011
http://www.vietnamepro.vn/press_detail.asp?cat=3&new=54 Ngày xem:2/11
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_economyinbrief_x.htlNgày:3/11/20
11
21