Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép việt nam sang thị trường nhật bản - Pdf 26

1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
 BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: “Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất
khẩu sản phẩm giày dép Việt Nam sang thị trường
Nhật Bản. GVHD: Th.S Quách Thị Bửu Châu Thành viên nghiên cứu:
1. Lương Thị Huyền Trâm TM01
2. Trần Thị Lê Nga TM01
3. Ngô Thị Như Hoa TM02
4. Nguyễn Thị Thêm TM02
5. Phan Dương Hùng Vĩ TM04
6. Nguyễn Thị Thanh An TM03 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012


2.4 Các chiến lược, cấu trúc và tính cạnh tranh của các công ty 57
2.5 Cơ hội 62
2.6 Chính phủ 68
IV. KẾT LUẬN VỀ NHỮNG ĐIỀM MẠNH VÀ ĐIỀM YẾU TRONG VIỆC XUẤT KHẨU GIÀY
DÉP CỦA VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC THÔNG QUA MÔ HÌNH KIM CƯƠNG
CỦA MICHAEL PORTER 74

3

LỜI MỞ ĐẦU

Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam đang diễn ra một
cách nhanh chóng. Hội nhập và toàn cầu hóa đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh
nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nó cũng đem đến nhiều đe dọa và thách thức, cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài,
giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau ngày càng khốc liệt. Các doanh nghiệp Việt
Nam được biết đến trên trường quốc tế như là một niềm tự hào của nền kinh tế Việt Nam
tuy nhiên đó chỉ là một con số ít ỏi trong số những ngành nghề kinh doanh cũng như
những doanh nghiệp tạo được vị thế trên thị trường. Ngành da giày Việt Nam cũng không
nằm ngoài sự cạnh tranh đó, bên cạnh đó đây cũng được coi là một ngành có kim ngạch
xuất khẩu cao trong mấy năm gần đây và được quan tâm đầu tư, mở rộng sản xuất. Việt
Nam hiện nay đang là một trong mười nước xuất khẩu hàng đầu thế giới trong ngành da
giày. Trong đó giầy dép được xem là một trong những sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn của
Việt Nam. Sản phẩm giầy dép của Việt Nam có chất lượng cao, rất có uy tín trên thị
trường quốc tế.
Vì vậy, nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này mong muốn đem lại cho các bạn cái
nhìn tổng quan nhất về ngành da giày Việt Nam nói chung cũng như sản phẩm giày dép

 Giai đoạn từ khi hình thành đến 1950
Nổi bật thời kỳ này là việc hình thành làng nghề Da – Giầy Phú Yên tại xã
Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ). Đây là làng nghề chuyên sản
xuất giầy được hình thành hơn 100 năm. Ban đầu làng nghề chỉ sản xuất dép da, sau
5

đó mở rộng sản xuất giầy da. Những năm từ 1986 – 1992, hoạt động của làng nghề
tạm chìm lắng do những khó khăn từ nhiều phía, nhiều người bỏ làng đi làm ăn nơi
khác. Đến năm 1993, nhiều người quay về và tập hợp lực lượng xây dựng lại làng
nghề, trong thời gian cao điểm làng có gần 400 hộ sản xuất kinh doanh giầy và sử
dụng trên 1.000 lao động tại chỗ và khoảng 2.000 lao động từ các địa phương khác
hoặc nhận gia công lại. Hiện nay, làng nghề vẫn duy trì và phát triển hoạt động với
những sản phẩm trung và thấp cấp, chủ yếu tiêu thụ trong nước. Làng nghề Da –
Giầy Phú Yên có thể được xem là một làng nghề điển hình của Việt Nam
 Giai đoạn 1950 – 1990.
Giai đoạn này thể hiện thông qua sự phát triển của ngành Da – giầy khu vực
phía Nam, đặc biệt là tại quận 4 và khu vực Phú Thọ thuộc thành phố Hồ Chí Minh
(trước đây là tỉnh Gia Định). Nổi bật nhất là sự phát triển của khu vực thuộc da thủ
công tại Phú Thọ, đây là nơi cung cấp da cho tất cả các Xưởng làm giầy dép ở miền
Nam. Bên cạnh đó các cơ sở làm giầy dép tại quận 4, quận 11 là nơi cung cấp hầu
hết giầy dép cho khu vực Sài Gòn, Gia Định và miền Nam. Phần lớn các cơ sở này
sản xuất giầy dép bằng phương pháp thủ công và nửa thủ công với sự trợ giúp của
một số thiết bị giản đơn như: máy may mũ các loại, máy may đế, máy may cóp đế
v.v
Sau ngày miền Nam giải phóng (năm 1975), tại Thành phố Hồ Chí Minh và
một số tỉnh như: Đồng Nai, Hải Phòng đã phát triển sản xuất mặt hàng hài, dép thêu
xuất khẩu cho Liên Xô (cũ), Ba Lan v.v, theo một số chuyên gia của Liên hiệp Xã
ngành Thảm thêu giầy dép thuộc Liên hiệp Xã Tiểu thủ công nghiệp Thành phố Hồ
Chí Minh, thì chỉ riêng tại Thành phố có lúc số lao động đạt trên 20.000 người tham
gia sản xuất mặt hàng này.Một số cơ sở sản xuất có tiếng lúc bấy giờ là: Hợp tác xã

cắt, may, gò đến các dây chuyền sản xuất chuyên dụng v.v. Bên cạnh đó là việc
thành lập hàng loạt các nhà máy sản xuất công cụ hỗ trợ như: nhà máy sản xuất
khuôn, phom giầy, dao chặt v.v, các nhà máy sản xuất đế cao su, EVA, TPR v.v.
7

Đặc biệt là từ khi có Bộ Luật đầu tư nước ngoài ra đời đã tạo khung pháp lý cho
hàng loạt các doanh nghiệp lớn từ Đài Loan, Hàn Quốc đầu tư sang Việt Nam, tên
tuổi của các nhà máy lớn sử dụng hàng nghìn lao động như: Teakwang VINA, Hwa
Sung, Pou Yuen, Chang Shin, Ching Lu, Kwang Nam v.v bắt đầu được biết đến.
Bên cạnh đó, cũng chính giai đoạn này những doanh nghiệp có tên tuổi của
ngành Da – Giầy Việt nam như: Biti’s, ThaiBinh Shoes, Bitas, An Lạc, Hiệp Hưng,
Thượng Đình, Thụy Khuê, Da Giầy Hải Phòng, Giầy Sài Gòn, Giầy Phú Lâm, Asia
Shoes, VINA Giầy v.v được nhiều khách hàng trong và ngoài nước biết đến.
Từ đầu những năm 2000 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều
chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước giúp cho các doanh nghiệp da
giày trong nước cơ hội phát triển, cộng với đầu tư của nhiều doanh nghiệp sản xuất
da giày từ Hàn Quốc, Đài Loan góp phần thay đổi nhanh chóng bộ mặt của ngành
da giày Việt Nam. Sản lượng sản xuất giầy dép các loại tăng nhanh qua các năm.
Năm 2007,ngành giày da Việt Nam đứng thứ tư trong số 8 nước xuất khẩu lớn nhất
thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hồng Kông và Italia . Năm 2010, ngành xuất khẩu da
giầy Việt Nam đã vượt lên đứng thứ 2 sau Trung Quốc
 Giai đoạn 2011 – 2012.
Giai đoạn 2011 – 2012 đánh giá sự phát triển mạnh mẽ của ngành giày gia
Việt Nam.
 Tổng quát về tình hình tiêu thụ giày da Việt Nam năm 2011.
 Xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đạt 6.523 triệu USD, tăng
27,3% so với năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của ngành túi xách – ba lô đạt
1.279 triệu la Mỹ, tăng 33,4% so với năm 2010. Tổng kim ngạch xuất khẩu của
toàn ngành đạt 7.802 triệu Đô la Mỹ.

do DN trong nước sản xuất và tiêu thụ nội địa đạt ở mức gần 70 triệu đôi,
chiếm tỷ trọng gần 50%.
Các loại cặp, túi xách, ba lô tiêu thụ nội địa ước khoảng 25 triệu chiếc
trong năm 2011, trong đó có khoảng 15 triệu chiếc được sản xuất từ các doanh
nghiệp Việt nam, chiếm tỷ trọng trên 60%.
Trong sản phẩm tiêu thụ nội địa, lượng da thuộc trong nước được đánh
giá là chiếm đến 70%.
 Tổng quan về tình hình tiêu thụ da giày trong 3 tháng đầu năm 2012.
Xuất khẩu giày dép sang các thị trường sụt giảm liên tục về kim ngạch
trong 2 tháng đầu năm 2012, nhưng sang tháng 3 đã có sự tăng trưởng nhẹ với
mức tăng 0,08%, đạt 477,93 triệu USD; tính chung cả quí I/2012 kim ngạch
xuất khẩu nhóm hàng này đạt 1,49 tỷ USD, tăng 13,61% so với cùng kỳ năm
9

2011. Kim ngạch xuất khẩu giày dép chiếm 6,01% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa của cả nước.
Theo Bộ Công Thương, doanh nghiệp (DN) da giày đang rất lo lắng vì
hiện tại mới ký hợp đồng xuất khẩu đến hết quý I. Chỉ có số ít DN ký được hợp
đồng đến hết quý II nhưng đơn hàng lại giảm 20%-30% so với cùng kỳ năm
trước. Cùng với sự cắt giảm chi tiêu, chính sách nhập khẩu của các thị trường
lớn như EU, Mỹ, Nhật đang có sự thay đổi trong cách thức mua hàng và yêu
cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, các tiêu chuẩn môi trường, trách
nhiệm xã hội của DN. Để bù đắp sự sụt giảm này, các DN da giày đang nỗ lực
chuyển sang tìm kiếm đơn hàng từ thị trường Nam Mỹ, nghiên cứu hợp tác đầu
tư sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu da giày với các nước có tiềm năng
như Ấn Độ, Brazil.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu nhóm hàng giày dép của Việt Nam là Hoa
Kỳ, Anh, Nhật Bản, Bỉ, Đức, Trung Quốc, Hà Lan. Tính trong cả quí I/2012,
Hoa Kỳ vẫn là thị trường chủ đạo, tiêu thụ lớn nhất nhóm hàng giày dép của
Việt Nam, với kim ngạch đạt 439,58 triệu USD, chiếm 29,48% trong tổng kim

1.491.338.458 +0,08 +13,61
Hoa Kỳ 158.412.643

439.578.760

+14,02 +15,80
Anh 33.103.636 102.395.959

+1,29 -3,27
Nh
ật Bản 28.757.982 90.140.368 -4,93 +14,73
Bỉ 25.909.973 88.136.724 -18,64 +25,67
Đức 20.058.190 84.516.383 +10,10 +2,44
Trung Quốc 22.462.215 82.686.326 -30,69 +61,77
Hà Lan 18.323.600 61.993.322 -6,04 -12,76
Brazil 19.254.300 52.775.653 +136,69 +51,96
Tây Ban Nha 17.772.630 52.341.790 +5,46 -2,71
Hàn Quốc 16.042.134 46.732.473 -14,59 +41,74
Pháp 14.302.241 46.674.054 -6,93 +13,06
Italia 11.926.732 45.023.678 -6,35 -6,75
Mêhicô 14.531.135 44.287.569 -9,59 +2,26
Panama 5.400.290 22.299.688 -27,48 -8,88
Canada 7.832.292 22.079.947 +23,04 +5,90
Hồng Kông 6.583.482 17.381.313 +2,22 +17,83
Ôxtrâylia 4.875.143 16.889.595 -33,18 +35,55
11

Đài Loan 7.057.281 14.484.076 +58,82 +22,57
Nga
2.225.557 14.071.054 -50,78 +17,90

12

Ucraina 127.974 1.443.333 -70,81 +1,78
Phần Lan 273.024 671.521 +25,98 -50,74
Cuba 345.057 539.835 * -2,11
Bồ Đào Nha 101.737 387.543 +61,48 -12,22
Nguồn: vinanet

1.1.3. Đặc điểm và vai trò của ngành da giày
 Đăc điểm
- Nguồn nhân công dồi dào có thể sử dụng được với chi phí thấp: Việt Nam hiện
có lực lượng lao động đông đúc, trẻ, khỏe khoảng 30 triệu người có tay nghề
đáp ứng được yêu cầu khi bắt đầu sử dụng công nghệ và máy móc thiết bị mới.
Toàn ngành giầy dép hiện nay có khoảng 350.000 lao động, trong đó 80% lao
động là nữ. Theo dự đoán số lượng lao động toàn ngành đến năm 2005 là
550.000 người, năm 2010 là 650.000 người, nhưng hầu hết các công nhân
không được đào tạo chính quy chỉ được đào tạo chủ yếu là kèm cặp trên dây
chuyền sản xuất. Cấp bậc kỹ thuật của công nhân bình quân là 2.5 trên 6 và
phần lớn số công nhân ở độ tuổi 20-35. Trong đó số lao động tốt nghiệp phổ
thông trung học chiếm 70%, số còn lại mới tốt nghiệp lớp 9. Chi phí nhân công
ở Việt Nam và đặc biệt trong ngành giầy da rất thấp. Điều này góp phần làm
giảm chi phí sản xuất song cũng dẫn đến tình trạng mức lương toàn ngành
thấp, phải thu hút lao động từ các vùng nông thôn, do đó số lao động này cần
cù chịu khó nhưng kỹ năng tay nghề, trình độ tinh xảo, tác phong công nghiệp
còn kém. Điều này rất khó khăn trong việc thực hiện những đơn hàng có giá trị
và đòi hỏi chất lượng cao. 13


14

về quản lý sản xuất và công nghệ, tiết kiệm được vốn đầu tư và tránh được rủi
ro về thị trường đầu ra, nó còn có các tác dộng tiêu cực như: phụ thuộc nặng nề
vào đối tác nước ngoài, không có cơ hội nắm bắt thị trường, bị động trong việc
tiếp nhận đơn hàng và triển khai kế hoạch sản xuất, lợi nhuận thấp và ít vốn
tích luỹ để tái đầu tư phát triển. Ngoài ra còn có một tác động do tâm lý chủ
quan như do dựa vào nguồn nguyên liệu nước ngoài không chú trọng đầu tư
phát triển nguồn nguyên liệu trong nước.
- Nguồn nguyên liệu đầu vào hạn chế: Khoảng từ 60% đến 80% đầu vào cho sản
xuất giầy dép ở Việt Nam là nhập khẩu, cụ thể tuỳ theo từng chủng loại sản
phẩm. Có khi một sản phẩm giầy được sản xuất tại Việt Nam nhưng phần lớn
nguyên phụ liệu của sản phẩm đó lại được nhập khẩu từ nơi khác. Thái Lan và
Hàn Quốc là hai quốc gia cung cấp nguyên liệu da và Trung Quốc là nhà cung
cấp các phụ liệu khác.
- Về tổ chức quản lý sản xuất: Ngành Da giầy Việt Nam cùng với sự chuyển đổi
cơ chế và chính sách của Nhà nước hiện nay được tồn tại dưới nhiều hình thức
sở hữu: doanh nghiệp nhà nước (76 doanh nghiệp), doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (80 doanh nghiệp), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (77 doanh
nghiệp) (Nguồn LEFASO-2001). Do vậy về hình thức tổ chức quản lý sản xuất
có nhiều điểm khác nhau.Sau năm 90, do có sự khuyến khích từ phía Chính
phủ Việt Nam, nhiều đối tác nước ngoài đã đến Việt Nam. Hiện nay có khoảng
80% các doanh nghiệp sản xuất giầy ở Việt Nam có quan hệ hợp đồng sản xuất
với các hãng nước ngoài. Trong tổ chức của một Công ty liên doanh điển hình
ở Việt Nam, phía nước ngoài chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật các hoạt động
của Công ty bao gồm: vận chuyển máy móc và vật liệu từ nước họ đến Việt
Nam, cung cấp hầu như toàn bộ các nguyên vật liệu sử dụng trong dây chuyền
sản xuất và tìm kiếm hợp đồng. Trong khi đó phía Việt Nam thường cung cấp
nguồn nhân lực, duy trì bảo dưỡng các thiết bị máy móc trong nhà máy và chịu
trách nhiệm về công tác quản trị hành chính của công ty. Tuy nhiên, đến năm

dép tăng nhanh cùng với mức tăng thu nhập của dân cư trong nước. Với năng
lực sản xuất hiện có, ngành công nghiệp giầy - dép đã đáp ứnSg được một phần
16

nhu cầu giầy dép trong nước, tuy nhiên Việt Nam vẫn còn nhập khẩu giầy dép
với số lượng lớn, vào khoảng 4 triệu đôi/năm chủ yếu là giầy dép Trung Quốc.
Trong những năm trở lại đây, các nhà máy da giầy trong nước đã nỗ lực bên
cạnh việc tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu đã chú trọng đến thị trường
trong nước, cải tiến mẫu mã chất lượng để phù hợp, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu
của người tiêu dùng nội địa. Có thể nêu ra vài ví dụ như công ty giầy Hà Nội,
công ty giầy Thượng Đình, công ty giầy Bình Tiên . v.v để chứng minh cho
điều này.
- Phát huy được lợi thế so sánh của đất nước: Công nghiệp da giầy đóng một
vai trò rất to lớn trong hoạt động công nghiệp chung của nước ta. Nó đã tận
dụng và phát triển được lợi thế so sánh trong việc sản xuất các loại sản phẩm
này nhờ có nguồn nhân lực rẻ mang tính cạnh tranh cao. Trong nền công
nghiệp da giầy của Việt Nam, giầy vẫn được sản xuất nhiều hơn là túi xách tay
và các sản phẩm khác.
- Góp phần làm tăng thu ngoại tệ: Đất nước ta trong giai đoạn đầu Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá rất cần nhiều ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị góp
phần xây dựng đất nước. Cùng với sự phát triển của ngành da giầy, sự tăng
trưởng trong việc xuất khẩu của ngành giầy dép trong thời gian qua cũng đem
lại một số lượng ngoại tệ lớn.

2. Tình hình xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào các quốc gia
2.1. Tổng quan tình hình xuất khẩu của Việt Nam
Tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua có nhiều khởi
sắc, đặc biệt từ khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, hàng
rào thuế quan dần được dỡ bỏ, cùng với các chính sách thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu
của Chính phủ. Bằng việc tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới, cải tiến các hoạt động xúc

2
Rau quả 439 460 628 21 4.85 168 36.42
3
Nhân điều 847 1,135 1,476 288 33.97 341 30.05
4
Cà phê 1,731 1,851 2,741 120 6.95 890 48.07
5
Chè các loại 180 200 201 20 11.10 1 0.69
6
Hạt tiêu 348 421 746 73 21.09 324 76.92
7
Gạo 2,664 3,248 3,643 584 21.92 395 12.17
8
Sắn & sp từ sắn 574 564 948 (10) (1.69) 384 68.07
9
Cao su 1,227 2,388 3,223 1,161 94.64 835 34.96
II
Nhóm nhiên liệu,
kh/sản
8,651 8,071 11,160 (580) (6.71) 3,090 38.28
1 Than đá 1,317 1,611 1,659 294 22.35 48 2.97
2 Dầu thô 6,195 4,958 7,236 (1,237)

(19.96)

2,278 45.94
3 Xăng dầu 1,005 1,346 2,068 341 33.97 721 53.57
4 Quặng và các 135 156 199 21 15.39 43 27.55
18


17 Sp từ sắt thép 604 828 1,146 224 37.11 318 38.43
18
Hàng đ/tử & LK
m/tính
2,763 3,590 4,198 827 29.93 608 16.92
19
Máy móc, thiết bị,
PT khác
2,059 3,066 4,124 1,007 48.92 1,058 34.49
20 Dây điện và cáp điện

885 1,311 1,518 426 48.15 207 15.77
19

21
Phương tiện vận tải
và phụ tùng
954 1,578 2,387 624 65.39 809 51.31
IV Hàng hoá khác 6,565 5,527 8,134 (1,038)

(15.81)

2,607 47.16
Nhận xét:
Nhìn vào bảng trên ta thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu đã
được mở rộng và tăng trưởng ở mức độ khá cao. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo
hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế
biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng
hàng xuất khẩu thô. Phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới như sản phẩm cơ khí,
thực phẩm chế biến, hoá phẩm tiêu dùng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ

kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng dần qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình
quân cả giai đoạn 2009-2011 vào khoảng 30%/năm.

2.2. Tình hình và các thị trường xuất khẩu giày dép của Việt Nam
Bảng số liệu về tình hình xuất khẩu giày dép của Việt Nam 2010, 2011,2012
Thị trường
2010 2011 1/2012-8/2012

Giày
dép
Tổng kim
ngạch
Giày
dép
Tổng kim
ngạch
Giày dép
EU 2.403,75

2720.05 3.110,80

3532.8 1740
America 1.407,31

1752.91 1.846,80

2307.8 1450
Japan 171,96 276.86 209,60 349.6 233
Các nước khác 1.138,62


Bản đạt 223 triệu USD, tăng 31%; sang Trung Quốc đạt 208 triệu USD, tăng
39,1%; so với cùng kỳ năm 2011.
Những thị trường tiêu thụ giày dép của Việt Nam qúi I/2012 (ĐV: USD)
Thị trường 3T/2012
%Tăng/giảm 3T/2012 so với
cùng kỳ
Tổng cộng 1.491.338.458 +13,61
Hoa Kỳ 439.578.760 +15,80
Anh 102.395.959 -3,27
Nhật Bản 90.140.368 +14,73
Bỉ 88.136.724 +25,67
Đức 84.516.383 +2,44
Trung Quốc 82.686.326 +61,77
Hà Lan 61.993.322 -12,76
Brazil 52.775.653 +51,96
22

Tây Ban Nha 52.341.790 -2,71
Hàn Quốc 46.732.473 +41,74
Pháp 46.674.054 +13,06
Italia 45.023.678 -6,75
Mêhicô 44.287.569 +2,26
Panama 22.299.688 -8,88
Canada 22.079.947 +5,90
Hồng Kông 17.381.313 +17,83
Ôxtrâylia 16.889.595 +35,55
Đài Loan 14.484.076 +22,57
Nga 14.071.054 +17,90
Nam Phi 12.611.431 +25,18
Áo 9.536.095 -9,29

I/2012 không đổi hoặc tăng không đáng kể ở các nước khu vực Châu Âu.
Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước còn phải đối mặt với nguy
cơ bị các đối thủ cạnh tranh như Brazil, Mexico, Argentina kiện tụng. Brazil vừa
chính thức khởi xướng điều tra chống lẩn tránh thuế đối với giày dép nhập khẩu từ
VN kể từ tháng 10-2011 là một ví dụ. Hiện các quốc gia này vẫn đang “theo dõi”
chặt chẽ các mặt hàng giày dép xuất khẩu từ VN, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng đưa
vào diện kiện tụng.
Trong khi đó thì với thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, kim ngạch
xuất khẩu giày của Việt Nam vẫn tăng đáng kể, đây cũng là một dấu hiệu đáng
mừng cho ngàng giày da trên các thị trường này.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào khu vực Châu Âu đang chựng lại
nhưng đây vẫn là thị trường nhập khẩu giày da lớn nhất của Việt Nam.

3. Tình hình xuất khẩu sản phẩm giày dép sang Nhật Bản
3.1. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm giày dép Việt Nam sang thị trường
Nhật Bản thời gian gần đây
Năm Kim ngạch (USD) %
Thứ hạng XK
vào Nhật Bản
2007 114,750,000

3
2008 137,350,000 20% 3
2009 122,473,697 -11% 3
2010 171,960,000 40% 3
2011 209,600,000 22% 3
24

Trung Quốc và dẫn đầu tại một số thị trường như: Mexico, Brazil…
Những chuyển biến tích cực ở thị trường nội địa cũng là một trong những
điểm nhấn của năm 2011, theo số liệu của Hiệp hội Da giày Việt Nam, tổng dung
lượng thị trường nội địa của sản phẩm giày dép ước khoảng 130-140 triệu đôi/năm,
đã đáp ứng được gần 70 triệu đôi, chiếm gần 50% tỷ trọng, sản phẩm túi xách, ba lô
đáp ứng được 25 triệu chiếc, chiếm 60% tỷ trọng và lượng da thuộc cũng được tiêu
thụ nội địa tới 70%.
Đặc biệt, năm 2011 là năm đáng nhớ trong công tác đối ngoại của ngành da
giày, với những thắng lợi trong vụ kiện chống bán phá giá giày nhập khẩu vào
Canada, EU quyết định chấm dứt việc áp thuế Anti dumping đối với một số mặt
hàng giày và mũ da xuất khẩu của Việt Nam, Việt Nam được công nhận là nước
xuất khẩu giày dép lớn thứ 2 sau Trung Quốc và là nước sản xuất giày dép lớn thứ 4
trên toàn thế giới tại Hội nghị WFC diễn ra tại Brazil… ngành da giày Việt Nam đã
không chỉ bảo vệ được quyền lợi của các doanh nghiệp trong ngành mà còn tô đậm
hơn tên mình trong bản đồ ngành da giày thế giới.
Kim ngạch xuất khẩu giày dép tăng vượt bậc là do trong những năm này Nhà
nước có những chính sách khuyến khích xuất khẩu giày dép vào Nhật Bản là thị
trường trọng điểm thứ 3 sau thị trường Hoa Kì và EU.

Trích đoạn Chính sách nhập khẩu của Nhật Bản Khái quát về mô hình kim cương của Michael Porter Điều kiện các yếu tố sản xuất Điều kiện về cầu Các ngành công nghiệp liên kết và bổ trợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status