VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA M.PORTER ĐỂ PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU GẠO THÁI LAN - Pdf 10

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
o0o
Đề tài:
VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA
M.PORTER ĐỂ PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU GẠO THÁI
LAN
Nhóm thực hiện: 5
Văn Công Mùi
Phạm Thị Ngọc Lâm
Phạm Thị Kiều Oanh
Phan Hà Vi
Phạm Thị Hiền
Chanthamaly Bounsong
Paliya Sengaloun
Lớp: TMA301(1-1112).1_LT
Giảng viên hướng dẫn: THS. Vũ Hoàng Việt

Hà Nội, ngày 8 tháng 11 năm 2011
Bảng phân công nhiệm vụ
STT Họ và tên
MSV
Nhiệm vụ
1 Văn Công Mùi
09510105906
- Làm phần chiến lược, cơ cấu và môi
trường cạnh tranh ngành.
- Bổ sung và hoàn thiện phần chính phủ
và cơ hội.
2 Phạm Thị Ngọc Lâm

I. Khái quát chung 5
1. Cơ sở lý thuyết 5
2. Tổng quát về Thái Lan 6
3. Đôi nét về tình hình sản xuất chế biến và xuất khẩu gạo
của Thái Lan 7
II. Các nhóm yếu tố trong mô hình kim cương của M.Porter 7
1. Điều kiện yếu tố sản xuất 7
2. Nhu cầu trong nước 11
3. Các ngành hỗ trợ và liên quan 12
4. Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh 14
5. Vai trò của Chính phủ 16
6. Cơ hội 18
III. Mối quan hệ giữa các yếu tố trong mô hình kim cương 18
1. Mối quan hệ giữa chiến lược, cơ cấu và môi trường
cạnh tranh ngành với điều kiện các yếu tố sản xuất 19
2. Mối quan hệ giữa chiến lược, cơ cấu và môi trường
cạnh tranh ngành với điều kiện cầu 19
3. Mối quan hệ giữa chiến lược, cơ cấu và môi trường
cạnh tranh ngành với các ngành hỗ trợ và có liên quan 20
4. Mối quan hệ giữa điều kiện các yếu tố sản xuất
với điều kiện cầu 20
5. Mối quan hệ giữa điều kiện yếu tố sản xuất với các
ngành hỗ trợ và có liên quan 21
6. Mối quan hệ giữa điều kiện cầu
với các ngành hỗ trợ và có liên quan 21
7. Mối quan hệ giữa chính phủ và cơ hội với các yếu tố còn lại 22
IV. Bài học cho Việt Nam 23
3
MỞ ĐẦU
Hiện nay, tính cạnh tranh của một quốc gia, một ngành kinh tế, hay một

1. Cơ sở lý thuyết
Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc
gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế
tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực
tiếp. Lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “Quyền lực thị
trường” để thành công trong kinh doanh và trong cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh
quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh. Thực chất lợi thế so sánh chỉ
là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó của một quốc gia
hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tự nhiên, tài
nguyên hay con người. Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường được coi
là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển. Tuy nhiên đây mới chỉ là cơ sở
cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho
sự thành công trên thị trường quốc tế. Lợi thế cạnh tranh phải là khả năng cung
cấp giá trị gia tăng cho các đối tượng có liên quan như: khách hàng, nhà đầu tư
hoặc các đối tác kinh doanh và tạo giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp.
Lý thuyết cạnh tranh quốc gia giải thích tại sao một số quốc gia lại có
được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm( có lợi thế cạnh tranh
một số sản phẩm). Lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở lập luận rằng
khả năng cạnh tranh của một nền công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả
năng sáng tạo và đổi mới của ngành.Theo ông, khi thế giới cạnh tranh mang tính
chất toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối
hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia
được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương
trường quốc tế. Theo lý thuyết này lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở
sự liên kết của bốn nhóm yếu tố , tao thành mô hình kim cương ( diamond) theo
như sơ đồ sau:

5
Trong đó, bốn yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả
năng cạnh tranh quốc gia bao gồm: điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về

Lan
- Về sản xuất: Thái Lan có 3,7 triệu hộ gia đình, chiếm 66% của 5,6 triệu hộ
nông dân trồng lúa trong cả nước; với diện tích trồng lúa khoảng 62-66 triệu
rai, đạt sản lượng là 24 – 27,2 triệu tấn thóc/năm, chiếm 4% sản lượng thế
giới. 80% diện tích trồng lúa nằm ở khu vực có mưa.
- Về chế biến: Thái Lan có khoảng 40.000 nhà máy xay sát thuộc cỡ vừa và
nhỏ nằm rải rác ở các vùng nông thôn.
- Về thị trường trong nước: Mỗi năm Thái Lan tiêu dùng nội địa khoảng 13,6-
14,2 triệu tấn thóc, trong đó 10-10,3 triệu tấn dùng trong tiêu dùng trực tiếp,
1-1,1 triệu tấn làm giống và chế biến thức ăn gia súc, còn lại để chế biến
khác.
- Thị trường nước ngoài: Thái Lan có thu nhập từ việc xuất khẩu gạo là 70-80
tỷ Baht ( tương đương 1,583 triệu USD), đứng thứ nhất trên thế giới, chiếm
27% thị phần gạo trên thế giới. Mỗi năm Thái Lan xuất khẩu 5,6-7,5 triệu tấn
gạo, trong đó gạo có chất lượng tốt chiếm 56,7%, chất lượng trung bình
chiếm 6,6%, gạo chất lượng thấp 18,5%, gạo sấy 28,1%. Dự kiến năm 2004
Thái Lan sẽ xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn gạo.
II. Các nhóm yếu tố trong mô hình kim cương của M. Porter
1. Điều kiện các yếu tố sản xuất.
Dựa vào lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M. Porter,ta có thể
giải thích tại sao Thái Lan lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất gạo
đồng thời là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo thông qua việc phân tích
nhân tố thứ nhất trong khối kim cương của M.Porter là điều kiện các yếu tố sản
xuất.
Sự phong phú dồi dào của các yếu tố sản xuất có vai trò nhất định đối với
lợi thế cạnh tranh quốc gia, Thái Lan có lợi thế hơn khi sản xuất và xuất khẩu
7
lúa gạo sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào mà quốc gia có nhiều. Trước hết phải
kể đến nhóm các yếu tố cơ bản bao gồm: đất đai, khí hậu, thủy lợi, giống lúa,
phân bón, lao động giản đơn.

Khí hậu Thái Lan là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết nóng với nhiệt
độ trung bình hàng năm là 28,1
o
C ( từ 9,9 – 39,9
o
C). Lượng mưa trung bình
hàng năm tại Bangkok là 1418 mm (từ 870 – 2072 mm), 85,8% tập trung từ
tháng 5 đến tháng 10. Thái lan có bốn mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 1
đến tháng 2, mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng
10, mùa mát từ tháng 11 đến tháng 12. Trong đó mưa nhiều nhất (90%) xảy ra
vào mùa mưa. Nhiệt độ trung bình của thời tiết Thái Lan cao hơn Việt Nam,
nhiệt độ thường từ 32
o
C vào tháng 12 và lên tới 35
o
C vào tháng 4 hàng năm.
Đây là khí hậu đặc trưng của Đông Nam Á giúp Thái Lan phát triển nông
nghiệp các cây nhiệt đới, đặc biệt sản xuất lúa gạo có lợi thế cạnh tranh cao.
• Thủy lợi
Hai hệ thống sông chính của Thái Lan là Chao Phraya và Mê Kông.Hai
con sông này cũng hỗ trợ thủy lợi cho nền kinh tế nông nghiệp của Thái Lan.
Ngoài hai hệ thống sông lớn còn có một số hệ thống sông và các sông khác từ
các vùng đất trong phạm vi biên giới của Thái Lan vào Vịnh Thái Lan và biển
Andama.Các lưu vực sông Chao Phraya là con sông có hệ thống thủy lợi lớn
nhất ở Thái Lan, bao gồm khoảng 35% đất của quốc gia, và thoát nước có diện
tích 157.924 km ². Sông Mê Kông là con sông dài thứ 11 trên thế giới và lớn
thứ 12 theo thể tích (xả 475 km
3
nước hàng năm). Chiều dài ước tính của sông là
4880 km và tưới tiêu cho gần 810 000 km

được lợi thế cạnh tranh trình độ cao, đó là lợi thế cạnh tranh dựa vào tính chất
độc đáo sản phẩm và công nghệ.
• Hệ thống hạ tầng
Thái Lan khuyến khích nông dân gieo trồng lúa vụ 3 trong năm trên diện
tích canh tác có thể thực hiện được, áp dụng các máy móc trang thiết bị khoa
học tiên tiến hiện đại thay thế lao động chân tay để góp phần chuyên môn hóa
sản xuất làm tăng năng suất lúa trên cùng một diện tích canh tác. Nhà nước Thai
Lan có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi
phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất
canh tác trên toàn quốc góp phần nâng cao năng suất lúa và cây trồng trong sản
xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các
thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp trên cả nước. Nhằm mục tiêu
phát triển dài hạn, Chính phủ Thái Lan có kế hoạch hiện đại hóa ngành nông
nghiệp, đồng thời thúc đẩy sản xuất lương thực thự phẩm (đặc biệt là lúa gạo),
10
các nguồn năng lượng thay thế và áp dụng các chính sách mới để cải thiện hiệu
quả sự dụng đất trong cả nước.
• Lao động có tay nghề
Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng
một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của
từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn
trong. lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội
cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro
và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân. Vì vậy, nông dân chuyên
nghiệp tăng 19,5% trong tổng số nông dân trong năm 2004
Tóm lại xét về khía cạnh điều kiện các yếu tố sản xuất thì Thái Lan không
chỉ tận dụng tốt những ưu đãi của tự nhiên như là những yếu tố cơ bản mà còn
tự trang bị, nâng cao những yếu tố đầu vào cao cấp. Điều này một phần lý giải
cho những lợi thế của ngành lúa gạo Thái Lan trên trường quốc tế.

mọi mặt đã được thiết lập.
Hiện nay, công tác chọn tạo giống lúa là một trong những nhiệm vụ chính của
Phòng Nghiên cứu & Phát triển Lúa và 27 Trung tâm Nghiên cứu Lúa trực
thuộc. Phòng Nghiên cứu & Phát triển Lúa cũng chịu trách nhiệm sản xuất 2500
tấn hạt giống lúa nguyên chủng hàng năm
Quy trình sản xuất lúa giống để cung cấp cho người nông dân như sau:
12
•Thủy lợi và phân bón
Theo bộ trưởng nông nghiệp Thai Lan Somsak Thepsuthin: “mở rộng hệ
thống tưới tiêu và phục hối độ màu mỡ của đất là phương tiên then chốt để đạt
được những mục tiêu trên”. Bộ nông nghiệp Thái Lan đã quyết định chi 2 tỉ baht
cho những dự án tưới tiêu nhằm đẩy mạnh sản lượng lúa ở những vùng thiếu
nước và cho nông dân vay 10 tỉ để nuôi gia cầm. Việc nuôi gia cầm có thể giảm
giá thành sản xuất lúa vì phân gia cầm có thể thay thế phân hóa học.
• Công nghiệp chế biến, công nghiệp dich vụ và sản xuất đồ gia
dụng
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã tập
trung phát triển các ngành mũi nhọn, như: thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế
biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Một trong những chính
sách đem lại thành công cho ngành công, nông nghiệp nông thôn của Thái Lan
đó là, Thái Lan đã chủ động mở cửa thị trường khi thích hợp. Thái Lan đã có
13
KHU VỰC NHÀ NƯỚC KHU VỰC TƯ NHÂN
- Phòng Nghiên cứu
& phát triển lúa
- Các trường ĐH
-Các viện Nghiên
cứu
Phòng Nghiên cứu
& Phát triển lúa

G
NÔNG
DÂN
TỰ
ĐỂ
DÀNH
nhiều chương trình xúc tiến đầu tư, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào liên
doanh với các nhà sản xuất trong nước, để phát triển ngành công nghiệp chế
biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào
đầu tư kinh doanh tại Thái Lan. Chính phủ Thái Lan là người đại diện, thương
lượng với các nước, để các doanh nghiệp của họ đạt được những lợi thế cạnh
tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến. Bên cạnh đó, Thái Lan còn có chính
sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào cơ sở hạ
tầng như: cảng kho lạnh, sàn đấu giá, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc
tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không những thế
ngành công nghiệp dịch vụ như vận tải, đóng gói bao bì và bảo hiểm cũng góp
phần thúc đẩy xuất khẩu gạo ra thị trường nước ngoài để sản phẩm đến tay
người tiêu dùng mà vẫn giữ được chất lượng tốt, hơn nữa còn giúp các doanh
nghiệp gánh được những tổn thất khi sự cố phát sinh trong quá trình vận chuyển
nhờ mua bảo hiểm cho phương tiện vận tải và hàng hóa. Những đồ gia dụng
không thể thiếu đem lại bát cơm ngon trong mỗi gia đình phải kể đến là nồi cơm
điện và bát đĩa. Đây là những mặt hàng liên quan và thúc đẩy sự phát triển của
ngành nông nghiệp sản xuất lúa gạo ở Thái Lan. Không chỉ vậy mặt hàng đồ gia
dụng cũng được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước ưa chuộng nhờ mẫu
mã đẹp, nhiều tính năng hiện đại và sử dụng được lâu năm.
4. Chiến lược, môi trường cạnh tranh
Thái Lan liên tục dẫn đầu thế giới về lượng gạo xuất khẩu. Song, các nhà
xuất khẩu Thái Lan vẫn đang xây dựng nhiều chiến lược cạnh tranh với các
nước xuất khẩu gạo khác trong đó có Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan Bằng cách
tìm giải pháp nhằm hạ chi phí, giảm giá thành sản xuất lúa , sản xuất với năng

trồng lúa. Một số nước khác đầu tư tiền bạc để mua nhiều đất trồng lúa hơn. Vì
thế Thái Lan duy trì vị trí nước đứng hàng đầu xuất khẩu gạo trên thị trường thế
giới bằng cách cải thiện và phát triển chất lượng lúa gạo ngày càng tốt hơn.
Thái Lan tăng cường đa dạng hóa các sản phẩm gạo và mẫu mã bao bì đóng gói.
Thái Lan thường xuất khẩu rất đa dạng các mặt hàng gạo sau đây: gạo thơm
trắng Thái Lan (Hommali, Jasmine rice), gạo trắng Thái, gạo tấm trắng Thái,
gạo nếp trắng Thái, gạo nếp đen Thái, gạo đỏ Thái, gạo đồ Thái (Thai Parboiled
Rice), gạo lức Thái, gạo lức thơm Thái. Trong đó, gạo trắng hạt dài Thái Lan
thường có các phẩm cấp gạo sau đây: 100% phẩm cấp B, 5%, 10%, 15%, 25%,
35% tấm, 100% tấm A 1 cực siêu hạng, và 100% tấm A 1 siêu hạng. Loại gạo
hạt dài gồm các sản phẩm như: loại 100% gạo không chọn lựa hạt (không dùng
15
máy để tách hạt khác màu), 5%, 10% và loại 15% tấm không chọn lựa hạt
• Giảm chi phí
Việc giảm chi phí nói chung giúp các nhà xuất khẩu gạo của Thái Lan dễ
dàng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thái Lan luôn đổi mới và gia tăng hiệu
quả xuất khẩu vì họ ý thức rằng các nước khác cũng phát triển chiến lược để
cạnh tranh với gạo Thái Lan trên thị trường thế giới. Trong những năm gần đây,
cuộc khủng hoảng lương thực dẫn đến sản xuất lương thực thế giới không ổn
định và giá gạo tăng cao hơn trước đây. Kết quả là nhiều nước khác cũng muốn
gia tăng gieo trồng lúa gạo cho xuất khẩu. Vì thế Thái Lan nhấn mạnh sự phát
triển một cách nghiêm ngặt chiến lược của mình để duy trì vị trí nước xuất khẩu
gạo hàng đầu thế giới.
• Mở rộng thị trường
Chính phủ Thái cũng nỗ lực mở rộng thị trường tiêu thụ gạo của mình
bằng cách cử các phái đoàn thương mại sang những thị trường mới như Senegal,
Ghana, Tunisia, các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất và Trung Quốc. Các thị
trường này rất tin tưởng vào tiêu chuẩn và chất lượng gạo Thái, và hầu hết họ
đều đã tăng nhập khẩu gạo Thái Lan.
• Nghiên cứu chọn giống, quy hoạch vùng gieo trồng

cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi, bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết diện tích đất
canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa. Chương trình điệm
khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển
khai rộng khắp cả nước.
Chính phủ khuyến khích, hỗ trợ thành lập các trung tâm nghiên cứu, ứng
dụng các tiến bộ về khoa học-kỹ thuật trong nông nghiệp, đặc biệt chú trọng đến
việc chuyển đổi giống cây trồng nhất là các lạo giống lúa mới có ưu thế, phù
hợp với từng vùng thổ nhưỡng. Kiên trì tuyên truyền, vận động người dân học
hỏi, nâng cao kiến thức, kỹ năng trong sản xuất lúa; tăng cường công tác bảo
hiểm xã hội, giải quyết tốt vấn đề về vốn và nợ, thiết lập các hệ thống đảm bảo
rủi ro cho nông dân để nông dân yên tâm sản xuất mà không phải mang nỗi lo
thường trực vì “ được mùa mất giá, được giá mất mùa” hoặc đầu ra không ổn
định.
Gạo của Thái Lan có uy tín trên thị trường xuất khẩu, do nông dân chỉ
trồng một số giống lúa có chất lượng, được đăng ký rõ ràng, dù năng suất không
17
cao. Để bảo hộ gạo trong nước, Bộ Thương mại Thái Lan có quy trình kiểm tra
rất khắt khe chất lượng gạo trước khi nhập kho, hầu tránh tình trạng thương lái
mua gạo ở nước khác giá rẻ, mua về để bán giá cao lấy chênh lệch.
Để đạt được mục tiêu nói trên, Bộ Thương mại Thái Lan đã thành lập 4
tiểu ban chuyên trách, gồm Tiểu ban về tiêu chí thóc gạo; Tiểu ban
quảng bá và thúc đẩy tiếp thị; Tiểu ban thông tin về gạo và Tiểu ban
chiến lược thị trường.
Hiện nay Chính phủ của đảng Pheu Thái đã áp dụng chương trình can thiệp
mua lúa gạo từ các nhà sản xuất tại 31 tỉnh thành từ ngày 7/10 . Những
người trực tiếp sản xuất ra lúa gạo ở vùng nông thôn Thái Lan vui mừng
trước chính sách mới. Những người nông dân Thái Lan không chỉ ủng hộ
việc tăng thu nhập mà cả chính sách thúc đẩy kinh tế, họ tin rằng những
chính sách này là phần thưởng đối với giới lao động chân chính và mang
lại lợi ích không nhỏ cho thị trường lao động của nước nhà.

Ngày nay, một số nước như Malaysia, Ấn Độ, Việt Nam đang cố gắng sản
xuất nhiều lúa gạo hơn bằng cách dựa vào các yếu tố sản xuất nổi bật của nước
mình để cạnh tranh ngôi vị đứng đầu xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới. Tuy
nhiên, với chiến lược đa dạng hóa, tập trung vào chất lượng, Thái Lan không áp
dụng cách tăng diện tích trồng lúa như Malaysia hay đầu tư tiền bạc để mua
nhiều đất trồng lúa hơn mà tập chung chủ yếu vào cải thiện và phát triển chất
lượng yếu tố đầu vào là giống lúa giúp nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nhờ
việc cung cấp nhiều mặt hàng lúa gạo. Cụ thể là Thái Lan đã chú trọng chọn tạo
ra các giống lúa thơm ngon như: gạo thơm trắng Thái Lan (Hommali, Jasmine
rice), gạo trắng Thái, gạo tấm trắng Thái, gạo nếp trắng Thái, gạo nếp đen Thái,
gạo đỏ Thái, gạo đồ Thái (Thai Parboiled Rice), gạo lức Thái, gạo lức thơm
Thái. Bên cạnh đó, Hiệp Hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan cũng thường
xuyên đề xuất và kiến nghị với Chính phủ giải quyết những vấn đề còn tồn tại về
các yếu tố sản xuất như phân bón, thủy lợi, cơ sở hạ tầng giúp tăng năng suất
cây trồng.
2. Mối quan hệ giữa chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành
với điều kiện cầu
Hiểu rõ được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước luôn ở mức độ cao
cũng như mong muốn của người Thái được ăn những loại gạo ngon hơn với đầy
đủ hàm lượng dinh dưỡng, Chính phủ Thái Lan đã không ngừng triển khai các
chiến lược nghiên cứu tìm ra các loại giống lúa mới ngon hơn, đạt hiệu quả cao
hơn để áp dụng trong trồng trọt, sản xuất. Người tiêu dùng trong nước luôn được
19
ưu tiên sử dụng các loại gạo có chất lượng hàng đầu và khi nhu cầu trong nước
đã được đáp ứng đầy đủ thì Chính phủ mới tiến tới mở rộng thị trường xuất khẩu
lúa gạo dư thừa ra thị trường nước ngoài. Phải nói rằng sản lượng lúa gạo ở Thái
Lan là vô cùng lớn, không chỉ cung cấp đầy đủ nguồn lương thực cho khoảng 64
triệu người mà Thái Lan còn hướng việc cung cấp lúa gạo ra thế giới ra thị
trường Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á với số lượng 5,6 – 5,7 triệu tấn gạo mỗi
năm trong đó chất lượng tốt chiếm 56,7 %, chất lượng trung bình chiếm 6,6%.

tay nghề, biết kết hợp cá kiến thức trong sách vở với các kinh nghiệm thực tế về
trồng trọt để có được phương pháp thâm canh tốt nhất cho diện tích lúa lớn.
5. Mối quan hệ giữa điều kiện yếu tố sản xuất với các ngành hỗ trợ và có
liên quan
Sự thuận lợi về vị trí địa lý, đất đai và khí hậu là một điều kiện quan trọng
mà thiên nhiên đã ưu đãi ban tăng cho Thái lan để đất nước này có thể phát triển
nền văn minh lúa nước. Nếu chỉ dừng lại ở các yếu tố tự nhiên đó thì ngành sản
xuất lúa gạo sẽ không phát triển được như ngày nay bởi lẽ cho dù đất đai có màu
mỡ đến đâu thì trải qua nhiều lần thâm canh sẽ trở nên cằn cỗi, lúa gạo có sản
xuất nhiều đển mấy mà không được tiêu thụ cũng sẽ trở nên dư thừa. Để khắc
phục được điều đó phải cần đến các ngành hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Cụ thể
là các ngành nghiên cứu khoa học để tìm ra các loại giống mới phù hợp với điều
kiện khí hậu và thổ nhưỡng, tạo ra các loại phân bón hữu cơ chứa hàm lượng
khoáng chất đầy đủ thay thế phân hóa học giúp cho cây sinh trưởng tốt mà
không làm ảnh hưởng đến môi trường đồng thời cũng tạo ra các loại thuốc giúp
cây chống đỡ lại dich bệnh và sâu hại, hơn nữa công nghiệp chế biến phát triển
cũng góp phần đưa mặt hàng lúa gạo tiếp cận với thị trường nước ngoài. Từ đó
có thể thấy được vai trò quan trọng của các ngành hỗ trợ như ngành chọn tạo
giống, ngành công nghiệp sản xuất phân bón, ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm đã tạo ra các yếu tố đầu vào góp phần thúc đẩy sản xuất. Nhờ có nguồn
tiêu thụ nhiều như vậy mà các ngành hỗ trợ mới có thể mở rộng được quy mô
sản xuất, tạo ra được nhiều sảm phẩm đồng nghĩa với doanh thu tăng lợi nhuận
đem về rất lới góp phần thúc đẩy nền kinh tế.
6. Mối quan hệ giữa điều kiện cầu với các ngành hỗ trợ và có liên quan
Khác với các nước phương Tây, ở Thái Lan cơm được xem là thức ăn quan
trọng không thể thiếu trong mỗi bữa cơm gia đình. Vì vậy hàng năm 23 Trung
tâm Lúa giống của Thái Lan phải chịu trách nhiệm sản xuất khoảng 100.000 tấn
lúa giống để đáp ứng nhu cầu sử dụng lúa gạo cho người tiêu dùng trong nước.
21
Người nông dân không chỉ cần giống lúa để gieo trồng mà họ cần có thêm phân

toàn thế giới.
Hiện nay, mặt hàng lúa gạo của Thái Lan đã có uy tín trên thị trường xuất
khẩu, do nông dân chỉ trồng một số giống lúa có chất lượng, được đăng ký rõ
22
ràng, dù năng suất không cao. Bộ Thương mại có quy trình kiểm tra rất khắt khe
chất lượng gạo trước khi nhập kho, hầu hết tránh được tình trạng thương lái mua
gạo ở nước khác giá rẻ, mua về để bán giá cao lấy chênh lệch. Vì vậy, việc mở
rộng thị trường ra các nước trong khu vực cũng như ngoài khu vực trở nên dễ
dàng hơn. Đây là cơ hội thuận lợi để Thái Lan có thể quảng bá sâu rộng thương
hiệu lúa gạo của mình đồng thời tiếp cận với các thị trường tiềm năng như Mỹ
và thị trường châu ÂU.
IV. Bài học cho Việt Nam
Như chúng ta đã biết trong vài thập kỷ qua, Chính phủ Thái Lan đã ra sức
“chấn hưng” nền nông nghiệp của đất nước và hướng đến mục tiêu sản xuất
nông nghiệp bền vững với những chính sách hết sức cởi mở cho nông dân cũng
như bất cứ nhà đầu tư nào trong và ngoài nước muốn tham gia vào lĩnh vực
trồng trọt, chăn nuôi. Đây là một đại diện mà Việt Nam nên học hỏi và rút ra
kinh nghiệm trong quá trình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo.
Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và là một trong những
nhà sản xuất hiệu quả nhất. Chính sách lúa gạo ở Thái Lan luôn luôn được coi
trọng chứ không phải chỉ vì định hướng cho xuất khẩu. Trong khi Chính phủ
Thái Lan không xuất khẩu gạo ở mức giá xuống dưới 450 USD/tấn mà chỉ xuất
khi giá lên 550 USD/tấn nhưng vẫn thu mua của nông dân với mức giá 550
USD/tấn thì Việt Nam lại thu mua lúa của nông dân với giá rẻ làm thiệt hại cho
họ. Vấn đề đặt ra ở đây là Việt Nam nên từ bỏ cách xuất khẩu chạy theo thành
tích thông qua con số triệu tấn và nên chú trọng đến số lượng USD thu được.
Bài toán mà Việt Nam vấp phải là bài toán về giá trị không phải là số lượng.
Bên cạnh đó nhà nước Thái Lan đã có những chính sách hỗ trợ để tăng
sức cạnh tranh, với nhiều hình thức, như: Tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông
nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị Ngoài ra, Nhà nước Thái Lan còn tính toán,

nông dân tự lo. Nhà nước chưa đầu tư kho dự trữ lớn, nhà khoa học thường dừng
lại ở nghiên cứu hoặc chậm triển khai, nhà doanh nghiệp thì chỉ chăm chút cho
quyền lợi trước mắt của riêng mình, trong khi nhà nông tự nhân giống hoặc tự
tìm giống, sản xuất ra thì không có kho dự trữ, phải bán lúa ngay để lấy tiền trả
nợ, đầu tư làm vụ kế tiếp nên buộc phải bán theo giá của doanh nghiệp đặt ra.
Vì vậy chính phủ Việt Nam cần phải khuyến khích, hỗ trợ thành lập các
trung tâm nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ về khoa học-kỹ thuật trong nông
nghiệp, đặc biệt chú trọng đến việc chuyển đổi giống cây trồng nhất là các lạo
giống lúa mới có ưu thế, phù hợp với từng vùng thổ nhưỡng. Kiên trì tuyên
truyền, vận động người dân học hỏi, nâng cao kiến thức, kỹ năng trong sản xuất
lúa; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội, giải quyết tốt vấn đề về vốn và nợ,
thiết lập các hệ thống đảm bảo rủi ro cho nông dân để nông dân yên tâm sản
24
xuất mà không phải mang nỗi lo thường trực vì “ được mùa mất giá, được giá
mất mùa” hoặc đầu ra không ổn định,
KẾT LUẬN
Lý thuyết cạnh tranh quốc gia của Michael Porter đã được viết thành sách
với hơn mười lần tái bản và được dịch ra mười hai thứ tiếng, cuốn sách đã thay
đổi hoàn toàn quan niệm của chúng ta về quá trình tạo dựng và duy trì sự thịnh
vượng trong nền kinh tế toàn cầu hiện đại. Nghiên cứu đột phá của Porter về
cạnh tranh quốc tế đã định hình chính sách quốc gia cho nhiều nước trên thế
giới. Nó cũng làm thay đổi suy nghĩ và hành động ở các bang, các thành phố,
các công ty và thậm chí là toàn bộ khu vực như Trung Mỹ. Nắm bắt được điều
này, các nhà sản xuất mặt hàng gạo Thái Lan đã vận dụng khá tốt lý thuyết này
với sự phát huy mối liên hệ giữa các yếu tố trong mô hình và đạt được những
hiệu quả nhất định, ngày càng nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng trên thị
trường quốc tế.
Kinh tế nông nghiệp của Thái Lan đang phát triển hết sức mạnh mẽ và
theo hướng bền vững. Nông nghiệp được nhà nước hỗ trợ thông qua các dự án
của chính phủ hoặc của hoàng gia trong việc nghiên cứu giống, thổ nhưỡng, tưới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status