Đề Tài: PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ. - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
MÔN MARKETING TOÀN CẦU

ĐỀ TÀI SỐ 1.
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH
CỦA GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM GỖ
VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC
XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG
HOA KỲ.

Khoá 34
Giảng đường Marketing
GVHD: Th.S Quách Thị Bửu Châu

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2011




LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
THÀNH VIÊN NHÓM 2B

STT HỌ VÀ TÊN LỚP ĐÁNH GIÁ
1 Thái Kim Thanh Mar 1
2 Lê Ngọc Trâm Mar 1
3 Mai Hoàng Sơn Mar 2
4 Nguyễn Thị Hồng Hạnh Mar 2


LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 


LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam

PHỤ LỤC 45 


LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế nước nhà đã và đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới. Tỉ trọng xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ vẫn có những bước phát
triển rõ rệt, đóng góp không nhỏ vào sự gia tăng khả năng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên,
ngành gỗ còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là sự cạnh tranh với các quốc gia khác. Trong đó
cóTrung Quốc, một quốc gia lớn và mạnh trong ngành hàng này.
Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ hàng đầu thế giới. Năm 2010, giá
trị nhập khẩu đạt trên 80 tỷ USD. Với đặc trưng là quy mô lớn, nhu cầu cao và những đòi hỏi
khắt khe của thị trường này, liệu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam có đủ sức cạnh tranh trên
trường quốc tế hay không?
Nhóm nghiên cứu về thực trạng xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam, những đặc trưng của
thị trường Hoa Kỳ. Qua đó, áp dụng mô hình kim cương của Micheal Porter để phân tích lợi thế
cạnh tranh gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam so với Trung Quốc tại thị trường Hoa Kỳ.
Với lượng thông tin, phân tích, đánh giá còn hạn chế. Bên cạnh đó là áp lực về thời gian
cũng như những khó khăn về mặt ngôn ngữ Việt, Hoa, Anh nên bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót.
Nhóm hi vọng nhân được sự nhận xét và đóng góp từ cô để nhóm ngày càng hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

.

ngành gỗ và đồ gỗ sẽ là 1 trong 10 ngành
xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam trong
giai đoạn này. Chiến lược của ngành
3,435,574
2,597,649
2,829,283
2,404,097
72,191,879
57,096,274
62,685,130
48,561,354
4.76 4.55 4.51 4.95
T12/2010 T12/2009 T12/2008 T12/2007
Gỗ vàcácmặthàngtừ gỗ
Tổngkimngạchxuấtkhẩu
Tỉ trọng xuất khẩu gỗ so với tổng sản lượng xuất khẩu(%)
Lithcn

2

htranhGv
à
cũng đư
a
tỉ USD.
Năm 20
1
hàng xu

So với

N
Năm 2
0
Năm 2
0
Năm 2
0
Năm 2
0
à
cácsnph

a
ra mục tiê
u
1
0, với kim
n

t khẩu chủ
l
c
ác quốc g
a
,… thì giá
t
u
vực (theo
b
S

h
t
r
ị xuất khẩ
u
,
27%. Thị t
r
n
, nhưng từ
N
hật Bản với
02
0
0
10
0
09
0
08
0
07

mgVitN
a
u
phát triển:
n
gạch hơn 3
,

6
.856
1
4
35.574
2
c
ác
m
ặt hà
n
h
àng từ gỗ q
u
u
của ngàn
h
r
ường Trun
g
năm 2010
t
giá t
r
ị nhậ
p
0
0,000 400,0
0
a

1
06.047
2
.597.649
n
g nông sản
,
u
an t
r
ọng v
à
h
. Đứng ở v
i
g
Quốc, nă
m

tr
ở đi tỉ lệ
đ
p
khẩu năm
2
0
0 600,000
g
iá t
r


i
trí thứ 2,
N
m
2008 nhập
đ
ã thay đổi
2
010 trên 40
800,000 1,00
0
k
hẩu sẽ đạt
h
gỗ bước lê
n
k
hu vực Đ
ô
gỗ của Việt
n
iture Indus
t
n
nhất (đơn v

8
Năm 2
0

vị trí thứ 6
ô
ng Nam
Á
Nam chỉ m

t
ries Counci
l

: USD)
0
07 Tỉ lệ
3
39,9
9
6
13,2
7
3
7,88
2
6,73
3,70
4,24
9
7
m
, Mỹ còn l
à

9

7

à
thị trườn
g
n
h quân gầ
n

u với tỉ lệ
k
k
hoảng 1/2 s
h
ập khẩu c

6
00,000
Đ
H
A
T
N
M

0
là 7
8

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Ngoài 3 thị trường, Mỹ, Nhật và Trung Quốc, gỗ và đồ gỗ của Việt Nam còn khá đựoc thị trường
các nước Châu Âu chấp nhận, tiêu biểu là Anh và Đức với giá trị nhập khẩu đều không dưới 100
triệu USD mỗi năm.
1.2. Các mặt hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam
Theo định nghĩa của hiệp hội Lâm sản và gỗ Việt Nam thì gỗ và các mặt hàng từ gỗ nói chung và
dành cho xuất khẩu nói riêng được phân loại thành sản phẩm gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ
thành phẩm.
Gỗ nguyên liệu là những sản phẩm gỗ được xuất khẩu dưới hình thức:
‐ Gỗ tròn đặc: là cây gỗ tự nhiên được bóc tách lớp vỏ cây và lớp gần bên ngoài, vẫn còn
giữ được hình trụ tròn của khối gỗ.
‐ Gỗ xẻ đặc: là gỗ tự nhiên sau khi bóc tách lớp vỏ cây thì được xẻ thành dạng thanh dài,
mặt cắt hình vuông hay chữ nhật và có thể có độ dày mỏng khác nhau.
‐ Gỗ ghép: được sản xuất bằng cách tận thu gỗ vụn thải ra trong quá trình chế biến gỗ tự
nhiên, trên bề mặt có thể được dán lớp ván Veneer thì kiểu dáng và chất lượng có thể
tương đương gỗ đặc nhưng giá thành có thể rẻ hơn đến 40%
‐ Ván lạng Veneer: sản xuất từ cây gỗ tròn (gỗ địa phương hay các dòng gỗ tròn cao cấp
nhập khẩu) bằng phương pháp lạng mỏng, độ dày chỉ khoảng vài dem (1 dem = 0,1mm)
nhưng vẫn giữ lại được những đường nét vân gỗ tự nhiên.
‐ Ván nhân tạo/ ván ép: có cái loại phổ biến như: ván MDF – sử dụng cây cao su nghiền ra,
tẩm sấy và ép lại thành tấm; ván HDF cao cấp hơn, nguồn gốc từ gỗ tạp nghiền, độ ép
chặt hơn, gáy tấm ván trông mịn hơn so với ván MDF; ván Okal – sử dụng dăm gỗ tạp và
mạt cưa ép thành tấm nhưng kết cấu xốp chứ không kết chặt như 2 loại trên. Tát cả các
loại ván trên thường được dán lớp Veneer lên bề mặt để có được bề mặt gỗ tự nhiên. Việt
Nam có thể tự sản xuất hay nhập những loại ván nhân tạo này từ Trung Quốc (giá rẻ và
chất lượng cũng kém bền do lớp Veneer quá mỏng), hay Thái, Malaysia (giá đắt hơn 40%
với lớp Veneer dày hơn từ 3 – 6 lần)
Trong khi đó, gỗ thành phẩm là gỗ đã qua quá trình gia công: tẩm, sấy, trang trí bề mặt (chạm,
khắc, khảm…) Do đó, các sản phẩm gỗ thành phẩm khi xuất khẩu sẽ đem lại giá trị cao hơn do
gia trị gia tăng từ công nghệ và lao động. Các mặt hàng gỗ thành phẩm được chia là 4 nhóm mặt

‐ Các nước Nam Mỹ: có Brazil, Chile cung cấp gỗ rừng trồng là Bạch Đàn.
‐ Trung Quốc: là nguồn chính cung cấp Ván nhân tạo cho Việt Nam.
‐ Từ các nước Bắc Mỹ, chúng ta nhập được nguồn gỗ có giá trị và chất lượng cao như Sồi,
Anh Đào.
Nguồn:http://www.vietnamforestry.org.vn/LinkedFiles/NFP/VIFOREST/90209%20Bao
%20cao%%20cong%20nghiep%20che%20bien%20go%20thach%20thuc%20va%20co%
20hoi%5B1%5D.pdf
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (FSC), trong khi đó tại các thị
trường khó tính như Châu Âu hay Mỹ lại ngày càng khắt khe về nguồn gốc sản phẩm cũng như
đặt ra yêu cầu phải đảm bảo trách nhiệm với môi trường tự nhiên khi muốn nhập khẩu vào. Do
đó, xu hướng nguyên liệu trong tương lai của Việt Nam sẽ chủ yếu là gỗ nhân tạo, gỗ có chứng
nhận FSC và gỗ tái chế.
Gỗ tại Việt Nam được phân thành 8 nhóm (từ nhóm I đến nhóm VIII) với gần 400 chủng loại gỗ
khác nhau. Với mỗi quốc gia khác nhau sẽ có cách riêng để phân loại gỗ khác nhau. Tại Việt
Nam, gỗ được phân theo chất lượng và độ quý hiếm của gỗ, ví dụ: gỗ nhóm 1, 2 là nhóm gỗ quý
như Cẩm Lai, Giáng Hương, Gõ, Căm Xe… nhóm 3, 4, 5 là nhóm gỗ thường và từ nhóm 6 trở đi
là những nhóm gỗ tạp như gỗ cây mít, cao su, bạch đàn. Trong đó, những loại gỗ thường được sử
dụng để phục vụ cho xuất khẩu hoặc chế biến xuất khẩu gần hơn 100 chủng loại. Có thể tham
khảo tại trang web sau đây:

5

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
http://www.ecvn.com/ROOTSYS/book/anyone/xuakhaudogo/PhanLoaiHomGoTaiVN.html# để
biết thêm các chủng loài gỗ tại Việt Nam được và không được phép khai thác xuất khẩu.


6

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam

thị trường mở nên cạnh tranh rất ác liệt, cụ thể như sự cạnh tranh đến từ những quốc gia có
truyền thống nhập khẩu gỗ vào thị trường Mỹ từ trước đến nay: Brazil, Canada, Trung Quốc,
Indonesia, Malaysia…

2.2 Những luật định của thị trường Hoa Kì
2.2.1 Vấn đề chung về hải quan
Hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ nói chung được phân thành 3 loại chủ yếu: hàng hóa để sử dụng
ngay, hàng hóa được lưu giữ trong kho hàng và hàng quá cảnh. Yêu cầu nhập khẩu cho cả ba loại
hàng này như nhau, nhưng thời gian để hoàn tất các thủ tục hải quan cho mỗi loại khác nhau.

7

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam

Để nhập khẩu hàng hóa, nhà nhập khẩu (thường là người mua hàng hay nhà môi giới hải quan)
ngoài việc phải trả một khoản lệ phí hải quan, phải trình những giấy tờ khác, gồm: Vận đơn, hóa
đơn thương mại của nhà xuất khẩu, bản kê khai hàng hóa chở trên tàu (mẫu hải quan số 7533)
hoặc đơn xin và giấy phép đặc biệt cho giao hàng ngay (mẫu hải quan số 3461), phiếu đóng gói.

Theo quy định của Hải quan Mỹ, sau khi xu
ất trình các chứng từ trên, hàng hóa sẽ được thông
quan nếu không có vi phạm gì về pháp luật hoặc hành chính. Hồ sơ nhập khẩu sẽ được lưu và
thuế nhập khẩu ước tính phải được thanh toán trong vòng 10 ngày làm việc kể từ lúc giải phóng
hàng hóa ở trạm hải quan được chỉ định.

Đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ (HST44), các thủ tục rời bến được cho là quá nhiều khó
khăn cho các nhà xuất kh
ẩu. Hải quan Mỹ đã thay đổi phân loại gỗ dán (HS 4412) và nhiều loại
đã bị tăng thuế từ 0% lên 8%. Còn với hàng gỗ nội thất (HS 94), thủ tục hải quan không quá khó
khăn. Việc nhập khẩu hàng gỗ và gỗ nội thất phụ thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định

 Phí xử lý hàng hóa (MPF) (0,21%) theo giá FOB, trị giá từ 25 USD đến 485 USD. Phí
này do Hải quan Mỹ và Puerto Rico thu.
 Thuế bảo quản cầu cảng (HMT) (0,125%) giá FOB
 Loại khác: phí thanh quản và tiền đặt cọc (bond) nộp cho Hải quan
Biểu thuế nhập khẩu của Mỹ được đăng trên mạng của Ủy ban Thương mại Quốc tế của
Mỹ là: www.usitc.gov

2.2.3 Vấn đề chung về Chứng chỉ/ tiêu chuẩn Mỹ và quy tắc dán nhãn:
Chứng nhận vệ sinh dịch tễ: Rơm hay đồ bao bọc bằng gỗ khi nhập vào Mỹ phải có giấy chứng
nhận vệ sinh dịch tễ. Giấy chứng nhận này có thể do nhà xuất khẩu cung cấp. Giấy chứng nhận
cần xác nhận rằng các sản phẩm không bị nhiễm bệnh hay dịch của gỗ. Quy định này do Văn
phòng điều tra sức khỏe động thực vật ban hành tại các điều khoản của 7 CFR 300 và 7 CFR
319. Giấy chứng nhận xử lý nhiệt cũng được yêu cầu đối với việc nhập khẩu các nguyên liệu
đóng gói bằng gỗ.

Một số đạo luật đặc biệt được Mỹ áp dụng nhằm thúc đẩy chương trình khai thác tài nguyên
rừng bền vững trên khắp thế giới, như: chứng chỉ FSC – CoC và đạo luật Lacey.
Chứng chỉ FSC – CoC là chứng chỉ quốc tế về chuỗi hành trình sản phẩm, do Hội đồng quản trị
rừng thế giới xác nhận. nhằm thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt
môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và kinh tế. Hiện nay đã có khoảng 55% doanh nghiệp Việt
Nam được cấp chứng chỉ này.
Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ quy định doanh nghiệp khi xuất khẩu đồ gỗ, lâm sản vào Hoa Kì thì
cần phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của nguồn nguyên liệu làm ra sản phẩm đó. Cho
đến nay thì các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam đều vượt qua “rào cản” này khi nhập khẩu
vào thị trường Mỹ.

Quy định về việc dán nhãn:
Hàng gỗ nội thất cần được dán nhãn theo đúng Luật dán nhãn và đóng gói hợp lý -15 CFR, mục
500-503.
Luật dán nhãn và đóng gói hợp lý yêu cầu mỗi kiện hàng hóa tiêu dùng dành cho hộ gia đình

này có thể làm hoàn toàn bằng kim loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vải hoặc các vật liệu
khác.

Đối với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:
1. Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban an toàn tiêu dùng (CPSC) về
an toàn tiêu dùng
2. Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory (UL), do CPSC quản
lý.
3. Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA về xác định nguồn
gốc vải.

2.3 Thị hiếu tiêu dùng hàng gỗ của Hoa Kì:
Gỗ nguyên liệu tại Mỹ được phân loại như sau:
• Gỗ cứng: là gỗ từ các cây hạt kín, hoặc loài cây lá rộng. Vd: Gỗ Thích, gỗ Mun, gỗ Sồi,
gỗ Dương, Tếch, Phi Lao…
• Gỗ mềm: là gỗ từ các cây hạt trần, hoặc loài cây lá kim. Vd như Thông, Bách Hương,
Bạch Quả
• Trong đó, gỗ nguyên liệu được sử dụng cùng là các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ ép, ván ép
nhân tạ
o và ván Veneer.

10

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Các chủng loại gỗ nguyên liệu được thị trường Hoa Kì nhập khẩu nhiều nhất lần lượt là Gỗ xẻ
bản lớn thuộc dòng gỗ cứng (Hardwood lumber/ sandwood), gỗ tròn thuộc dòng gỗ mềm
(Softwood log/ roundwood), kế đến là gỗ tròn thuộc cả dòng gỗ cứng và mềm. Ngoài ra còn các
sản phẩm từ gỗ: ván ép nhân tạo(Vaneer) và cả dăm gỗ (woodchips) để chế biến ván ép nhân tạo.
Năm 2010, nhu cầu đối với gỗ xẻ mềm tại Mỹ tăng 18% sau khi đạt mức thấp nhất trong vòng 50
năm vào năm 2009. Sư gia tăng nhu cầu đã đẩy giá gỗ ở tại Mỹ, Châu Á và Châu Âu tăng lên

n đồ gỗ được làm từ các loại gỗ mềm. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của một số doanh nghiệp
chế biến đồ gỗ Việt Nam thì người tiêu dùng Mỹ có vẻ ưa chuộng vẻ đẹp bên ngoài, họ không
thích “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” mà ngược lại “tốt nước sơn hơn tốt gỗ”. Họ không cần các sản
phẩm được làm bằng các loại gỗ tốt như lim, gụ… mà chỉ cần gỗ cao su, gỗ thầu đâu, thậm chí là
MDF (ván gỗ ép) nhưng nước sơn phủ bên ngoài phải thật đẹp, bắt mắt và kiểu dáng phải đẹp.

11

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Để đạt được nước sơn phủ lên các sản phẩm đồ gỗ xuất sang Mỹ khá phức tạp, khó hơn nhiều so
với yêu cầu của các thị trường EU, thường để hoàn tất chu trình sơn một sản phẩm hoàn hảo cho
thị trường Mỹ có khi phải sơn đến 10 lần. 2.4 Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì:
(Đơn vị tính: USD)
Rate Country 8/2009 – 7/2010 8/2008 – 7/2009 Change
(%)
1 Brazil
238,155,180 204,183,322 16,64
2 Chile
142,627,876 147,700,381 -3,43
3 China 106,476,741 119,457,017 -10,87
4 Canada
93,248,302 102,361,643 -8,9
5 Mexico
45,478,798 40,412,812 12,54
6 New Zealand
26,737,254 22,406,598 19,33
7 Malaysia

23 Finland
706,786 162,174 335,82
24 France
689,077 2,588,610 -73,38
25 Belgium
677,488 1,351,289 -49,86
Other
5,405,080 11,601,018 -53,41
Top 25 quốc gia cung cấp nguồn gỗ nguyên liệu lớn nhất của Hoa Kì
Nguồn: Wood Import Report – www.Zepol.comMỹ nhập khẩu gỗ nhiều nhất từ Brazil – quốc gia ngay trong khu vực Châu Mỹ gần kề và có trữ
lượng tài nguyên gỗ tự nhiên cực lớn từ rừng Amazon. Giá trị nhập khẩu gỗ từ Việt Nam của
Hoa Kì chỉ mới đạt đến mức 9,1 triệu USD/năm. Hiện Việt Nam có khá nhiều đối thủ cạnh tranh
trong Khu vực, như: Malaysia, Indonesia và năng ký nhất là Trung Quốc.

12

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu gỗ của Việt Nam có sức tăng trưởng khá mạnh so với những đối thủ
trong cùng khu vực nói trên. Chỉ trong vòng 1 năm, Việt Nam đã tăng cường xuất khẩu gần
100%. Đây là dấu hiệu khả quan, thể hiện sức bật của ngành gỗ Việt Nam tại thị trường Hoa Kì
trong những năm sắp tới.
Tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, kim ngạch nhập khẩu đồ gỗ nội thất của Hoa Kì từ Việt Nam
là 1,2 tỷ USD (trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ nói từ Việt Nam là 1,7 tỷ USD), chiếm
trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam.
Theo môt báo cáo của International Trade Administration (http://ita.doc.gov/)về tình hình nhập
khẩu gỗ và các đồ dùng bằng gỗ của Hoa Kỳ năm 2007, Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu gỗ và
đồ dùng gỗ vào Hoa Kì lớn nhất – chiếm 54,4% kim ngạch nhập khẩu của ngành. Các quốc gia

lớn, miền Bắc – khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt;
miền Nam do ít bị ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt
đới khá điều hòa với 2 mùa khô và mùa mưa. Bên cạnh đó,
do cấu tạo địa hình bị chia cắt nên Việt Nam còn nhiều
vùng tiểu đới khí hậu có khí hậu ôn đới như Sapa, Lào Cai,
Lâm Đông, vùng khí hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La. Với
một tổng thể điều kiện tự nhiên đa dạng, Việt Nam có nhiều
khu vực rừng có trữ lượng cao và chất lượng quý như :
‐ Vùng rừng Tây Bắc
: với các loại cây Du, Thông 3
lá, Pơmu, Chò chỉ…
Trung Quốc là quốc gia có diện tích lớn thứ 4 trên thế giới,
gấp 29 lần so với Việt Nam, khoảng 233,97 triệu km2.

Địa hình Trung Quốc bao gồm nửa phía Đông là vùng bình
nguyên phì nhiêu, đồi núi, sa mạc và các thảo nguyên cận
nhiệt đới. Cùng với nửa phía Tây là một vùng rộng lớn các
lưu vực chìm trong các cao nguyên, khối núi. Khí hậu Trung
Quốc phức tạp , đa dạng, đa số nằm trong khu vực bắc ôn
đới, thuộc khí hậu gió mùa lục địa, đa số các vùng có bốn
mùa rõ rệt, mùa đông lạnh giá, mùa hè nóng nực. Do đất
nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên
khí hậu cũng đa dạng theo. Từ Nam lên Bắc lần lượt là các
vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới, Trung ôn đới, Hàn ôn đới.
Trung Quốc hiện có tổng cộng 233,97 triệu ha rừng, chiếm
16,55% tổng diện tích đất quốc gia. Vùng rừng chủ yếu của
Trung Quốc là: Vùng rừng miền đông bắc, gồm Núi Đại
Hưng An, Núi Tiểu Hưng An và vùng rừng Trường Bạch
Sơn, là vùng rừng thiên nhiên lớn nhất Trung Quốc. Vùng
rừng ở miền tây nam, gồm vùng núi Hoành Đoạn, chân núi

métkhối

14

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
‐ Vùng rừng Trung Tâm: với Keo, Bồ đề, Bạch đàn,
Luồng…
‐ Vùng rừng Đông Bắc
: với Lim xanh, Dẻ, Nghiến,
Thông nhựa, Vầu…
‐ Vùng rừng Bắc Trung Bộ: với các loài Lim, Sến,
Trai, Nghiến, mun, Thông nhựa…
‐ Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: với đất đai nghèo
dinh dưỡng thích hợp với các khu rừng cao su,
‐ Vùng rừng Tây Nguyên với các loài Thông, Dẻ,
Bằng Lăng, các cây họ Dầu
‐ Vùng rừng Đông Nam bộ: với Cao su, Bạch đàn
‐ Vùng đồng bằng song Cửu Long với đặc trưng các
khu rừng ngập mặn và đặc biệt giàu có những rừng
Tràm.
Việt Nam cũng thường xuyên đối mặt với các đợt thiên tai
từ nhẹ đến nghiêm trọng hàng năm. Nhưng loại thiên tai ảnh
hưởng nhiều nhất đến ngành lâm nghiệp Việt Nam chính là
hạn hán. Hạn hán là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc cháy
rừng. Trong khi theo thống kê, Việt Nam có 6 triệu hecta
rừng dễ cháy như rừng Thông, Bạch đàn, Tràm…, trung
bình mỗi năm Việt Nam mất đi 16.000 ha rừng do cháy.

Nhìn sơ qua lịch sử những trận thiên tai của Trung Quốc,
như bão lũ ở miền Trung và Nam Trung Quốc, hạn hán ở


Biểu đồ phân bố dân cư của Trung Quốc

Dân số Trung Quốc hiện nay khoảng 1,331 tỷ người (năm
2009-nguồn Ngân hàng Thế Giới).
Dân cư Trung Quốc phân bố không đồng đều, tập trung chủ

15

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7
hàng năm phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế, ngành
Nông Lâm nghiệp chiếm 48.2% khoảng 23 022 nghìn người.
(Nguồn: Tổng cục thống kê, số liệu hết năm 2009)
Năng suất của các doanh nghiệp được tìm hiểu khá thấp. So
sánh ngành chế biến gỗ Việt Nam trung bình chỉ tạo ra giá
trị xuất khẩu dưới 10.000 USD/công nhân/năm, trong khi tại
Trung Quốc là 16.000 USD/công nhân/năm, tại Malaysia là
17.500 USD/công nhân/năm, tại Đức khoảng 70.000
USD/công nhân/năm). Số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ thu
nhập từ lâm nghiệp trong cơ cấu thu nhập của hộ nông dân
còn thấp: toàn quốc là 4,8%, vùng Đông Bắc 11,7%, Tây
Bắc 23%, Bắc Trung bộ 7,2%, Nam Trung bộ 5,2%, Tây
Nguyên 7,4%, Đông Nam bộ 2%, Đồng bằng sông Cửu
Long 2,1% và Đồng bằng sông Hồng 0,2%.

yếu ở Phía Đông Trung Quốc. Nhìn vào bảng phân bố mật
độ dân cư cho thấy phần lớn người dân Trung Quốc tập
trung sinh sống nhiều ở khu vực Đông Bắc, Đông Nam và
Tây Nam.

16

htranhGv
à
n
ước ta ó 4
t
g
Hồng, tỉn
h
k
) và Miền

ng Nai và
L
â
y, Bắc Nin
h
s
ản xuất đồ
m
nổi tiếng
à
cácsnph


3.1.2
Việt Na
m
t

ại đồng bằ
n
là những tr
u
ểu truyền t
h

ng Kỵ (Bắ
c
a
m
ng
cường:
Vốn
k

chính: Đồ
n
u
yên (Gia L
a
h
Dương, T
p
n
g sông Hồ
n
u
ng tâm hà
n

í lao động
ằng có thể
c

ng sự thiế
u
x
ét tăng tiề
n
ệm
rất t

thấp là lợi
t
.
T
c
ó sự thiếu
h
u
hụt công
n
n
lương tối t
h
Trung

t
t
hế quan trọ

phát triển
k
hả năng.
.
n
g cho
Trong
s
ố tỉnh
động.

17

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Điểm (Hà Tây), Vân Hà (Hà Nội)… Còn có rất nhiều
làng nghề sản xuất đồ gỗ tại các tỉnh Hải Dương, Vĩnh
Phúc, Nam Định, Hưng Yên.
Æ Việt Nam có truyền thống sản xuất đồ thủ công mỹ
nghệ lâu đời và đối với nhu cầu của ngành gỗ hiện nay thì
những kĩ thuật sản xuất truyền thống được lưu truyền và
phát triển là một nguồn vốn kiến thức quốc gia vô
giá,đem lại lợi thế cạnh tranh lớn cho ngành gỗ mỹ nghệ
Việt Nam khi xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

phẩm gỗ của Trung Quốc vẫn dựa trên lợi thế giá rẻ
Số lượng các nhà máy là rất lớn trong khi các công ty nổi
tiếng thì hiếm. Hầu hết các nhà máy này đều sản xuất theo
quy trình thủ công, mức độ nghiên cứu và phát triển chiếm tỉ
lệ thấp do các nhà máy Trung Quốc chủ yếu vẫn bắt chước
các thiết kế.

nhập lớn diễn ra trong ngành. Điều này góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng của toàn ngành do các doanh nghiệp có đủ tiềm
lực tài chính để để đầu tư nhiều máy móc, thiết bị cũng như
là tạo ra những sản phẩm có chất lượng, thương hiệu riêng


18

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
Theo số liệu của Bộ NN& PTNT, có khoảng 2562 doanh
nghiệp chuyên về sản xuất kinh doanh đồ gỗ trên cả nước.
Trong số đó có 374 công ty nhà nước, 421 công ty có vốn
đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 1,2 tỉ đô la Mỹ
(tính đến 14/12/2006) và còn lại là các doanh nghiệp tư
nhân địa phương.
Tỉnh Bình Dương, nơi chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước, hiện nay có 542 doanh nghiệp chế biến
gỗ, bao gồm 200 công ty có vốn đầu tư nước ngoài với
tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 700 triệu đô la. Cũng vậy,
dựa vào số liệu thống kê của một công ty tư vấn tại thành
phố Hồ Chí Minh chuyên về xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ vào
thị trường Mỹ, khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ
của Việt Nam vào thị trường Mỹ là từ các công ty có vốn
đầu tư của Đài Loan và Trung Quốc tại thành phố Hồ Chí
Minh, Bình Dương, Đồng Nai cũng như các nhà buôn
khác từ nước thứ ba.
Việt Nam có chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh
nghiệp thuộc ngành gỗ với mục tiêu như sau:
STT Hạng mục 06 – 10 11 - 20 Total %
A

19

LithcnhtranhGvàcácsnphmgVitNam
sản phẩm từ
rừng
4
Chương trình
nghiên cứu,
đào tạo, giáo
dục khuyến
lâm
546.96 848.82 1,359.80 1.3
5
Chương trình
đổi mới thể
chế, chính
sách, kế hoạch
và giám sát
lâm nghiệp
885.57 2,418.91 3,304.48 3.3
B
Chi phí thông
thường
1,939.17 4,460.09 6,399.26 6.0

Tổng số vốn
cần thiết
33,885.34 72,873.72 106,759.06 100
đồng/căn phòng, khách sạn 4 sao sử dụng từ 50 đến 80
triệu đồng/cho một căn phòng. Theo ý kiến của các khách
sạn ba sao và 4 sao thì cứ khoảng 5 năm họ phải tiến hành
thay mới các sản phẩm đồ gỗ để thu hút người ở. Kết quả
khảo sát này chỉ ra rằng số lượng khách sạn và nhà nghỉ
đượ
c xây mới hàng năm ở Việt Nam cũng đang có nhu cầu
và tiêu thụ một lượng sản phẩm gỗ có giá trị rất lớn.
Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp đồ gỗ trong nước vẫn
chưa quan tâm đúng mức đến thị trường nội địa, mặc dù
nhu cầu của thị trường này là rất lớn.
Doanh nghiệp gỗ Việt Nam đã quen với việc làm theo đơn
hàng nên không có sự đầu tư cần thiết trong việc nghiên
cứu thị trường nhỏ lẻ trong nước.
THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Trung Quốc là một thị trường có nhu cầu rất lớn về gỗ. Các nhà
máy của nước này sẽ còn rất lâu mới đáp ứng được nhu cầu tiêu
thụ gia tăng trong nước và kết quả là khối lượng nhập khẩu đã
tăng mạnh trong 5 năm qua, từ mức chỉ có 2 triệu m
3
trong năm
2006 lên 9,4 triệu m
3
trong năm 2010. Trong 2 tháng đầu năm
2011, nhập khẩu đã bất ngờ tăng 32% so với cùng kỳ năm 2010.
Biểu đồ cơ cấu sản phẩm gỗ của Trung Quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status