Tiểu luận:PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ. potx - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
MÔN MARKETING TOÀN CẦU

ĐỀ TÀI SỐ 1.
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH
CỦA GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM GỖ
VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC
XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG
HOA KỲ.

Khoá 34
Giảng đường Marketing
GVHD: Th.S Quách Thị Bửu Châu

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2011
Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


2.2.2. Vấn đề chung về Thuế và thuế nhập khẩu 7
2.2.3. Vấn đề chung về Chứng chỉ/ tiêu chuẩn Mỹ và quy tắc dán nhãn 8
2.3.Thị hiếu tiêu dùng hàng gỗ của Hoa Kì 9
2.4.Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì 11
3. Phân tích lợi thế cạnh tranh gỗ Việt Nam so với gỗ Trung Quốc tại thị trường Mỹ 13
3.1.Yếu tố thâm dụng 13
3.1.1 Yếu tố cơ bản 13
3.1.2 Yếu tố tăng cường 16
3.2 Yếu tố nhu cầu 20
3.3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan 27
3.3.1 Mô tả các ngành công nghiệp hỗ trợ 27
3.3.2 Một số tiến bộ của ngành công nghiệp hỗ trợ của hai nước 27
3.4 Năng lực cạnh tranh của chiến lược quốc gia 30
3.4.1 Chiến lược xuất khẩu quốc gia của ngành gỗ Việt Nam 30
3.4.2 Các công ty điển hình có khả năng đại diện thị trường 31
3.4.2.1 Công ty đại diện cho Việt Nam 31
3.4.2.2 Công ty đại diện cho Trung Quốc 37
3.5 Các yếu tố từ môi trường bên ngoài 40
3.5.1 Sự tác động của các cơ hội – nguy cơ 40
3.5.2 Sự tác động của chính phủ 43
PHỤ LỤC 45 Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam

1.Tình hình chung ngành gỗ xuất khẩu của thị trường Việt Nam
1.1 Tình hình xuất khẩu chung của ngành gỗ Việt Nam

Biểu đồ: Tổng sản lượng gỗ và các mặt hàng từ gỗ xuất khẩu thời kì 2008 – 2010
Không riêng gì với các ngành khác, ngành gỗ cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoang
kinh tế cuối năm 2007 đầu 2008. Trước khủng hoảng này, kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ có
dấu hiệu sụt giảm tương đối, từ 4,95% cuối năm 2007 giảm còn 4,51% cuôi năm 2008. Tuy
nhiên, trong thời kì nội và hậu khủng hoảng, kim ngạch xuất khẩu vẫn có bước phát triển rõ rệt
sau từng năm. Nhìn vào biểu đồ trên, có thể thấy tỉ trọng xuất khẩu của ngành gỗ so với tổng kim
ngạch xuất khẩu giai đoạn 2008 đến 2010
trong khoảng 4,5 – 5% và có xu hướng
tăng dần qua các năm, bất chấp sự sụt
giảm kim ngạch xuất khẩu toàn quốc
trong năm 2010. Sự tăng trưởng về tỉ
trọng xuất khẩu của gỗ và các mặt hàng
từ gỗ phần nào thể hiện rằng ngành gỗ và
đồ gỗ đóng vai trò không nhỏ trong chiến
lược gia tăng khả năng xuất khẩu của
Việt Nam.
Theo chiến lược Quốc gia 2006 – 2015,
ngành gỗ và đồ gỗ sẽ là 1 trong 10 ngành
xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam trong
giai đoạn này. Chiến lược của ngành
3,435,574
2,597,649
2,829,283
2,404,097
72,191,879
57,096,274
62,685,130



l


bình quân

M


1.392.557

1.100.184

1.063.990

948.473

39,99

Nh

t B

n

454.576

355.366


6,73

Hàn Qu

c

138.476

95.130

101.457

84.444

3,70

Đ

c

116.856

106.047

152.002

98.294

4,24


Mỹ

3Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
Ngoài 3 thị trường, Mỹ, Nhật và Trung Quốc, gỗ và đồ gỗ của Việt Nam còn khá đựoc thị trường
các nước Châu Âu chấp nhận, tiêu biểu là Anh và Đức với giá trị nhập khẩu đều không dưới 100
triệu USD mỗi năm.
1.2. Các mặt hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam
Theo định nghĩa của hiệp hội Lâm sản và gỗ Việt Nam thì gỗ và các mặt hàng từ gỗ nói chung và
dành cho xuất khẩu nói riêng được phân loại thành sản phẩm gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ
thành phẩm.
Gỗ nguyên liệu là những sản phẩm gỗ được xuất khẩu dưới hình thức:
- Gỗ tròn đặc: là cây gỗ tự nhiên được bóc tách lớp vỏ cây và lớp gần bên ngoài, vẫn còn
giữ được hình trụ tròn của khối gỗ.
- Gỗ xẻ đặc: là gỗ tự nhiên sau khi bóc tách lớp vỏ cây thì được xẻ thành dạng thanh dài,
mặt cắt hình vuông hay chữ nhật và có thể có độ dày mỏng khác nhau.
- Gỗ ghép: được sản xuất bằng cách tận thu gỗ vụn thải ra trong quá trình chế biến gỗ tự
nhiên, trên bề mặt có thể được dán lớp ván Veneer thì kiểu dáng và chất lượng có thể
tương đương gỗ đặc nhưng giá thành có thể rẻ hơn đến 40%
- Ván lạng Veneer: sản xuất từ cây gỗ tròn (gỗ địa phương hay các dòng gỗ tròn cao cấp
nhập khẩu) bằng phương pháp lạng mỏng, độ dày chỉ khoảng vài dem (1 dem = 0,1mm)
nhưng vẫn giữ lại được những đường nét vân gỗ tự nhiên.
- Ván nhân tạo/ ván ép: có cái loại phổ biến như: ván MDF – sử dụng cây cao su nghiền ra,
tẩm sấy và ép lại thành tấm; ván HDF cao cấp hơn, nguồn gốc từ gỗ tạp nghiền, độ ép
chặt hơn, gáy tấm ván trông mịn hơn so với ván MDF; ván Okal – sử dụng dăm gỗ tạp và
mạt cưa ép thành tấm nhưng kết cấu xốp chứ không kết chặt như 2 loại trên. Tát cả các
loại ván trên thường được dán lớp Veneer lên bề mặt để có được bề mặt gỗ tự nhiên. Việt
Nam có thể tự sản xuất hay nhập những loại ván nhân tạo này từ Trung Quốc (giá rẻ và

trồng và ván nhân tạo.
- Các nước từ Châu Đại Dương: Úc, New Zealand – là nguồn nhập gỗ rừng trồng như Keo,
Bạch Đàn.
- Các nước từ Châu Phi: Nam Phi – cung cấp gỗ rừng trồng, trong khi Ghana, Camerun
cung cấp gỗ rừng tự nhiên.
- Các nước Nam Mỹ: có Brazil, Chile cung cấp gỗ rừng trồng là Bạch Đàn.
- Trung Quốc: là nguồn chính cung cấp Ván nhân tạo cho Việt Nam.
- Từ các nước Bắc Mỹ, chúng ta nhập được nguồn gỗ có giá trị và chất lượng cao như Sồi,
Anh Đào.
Nguồn:http://www.vietnamforestry.org.vn/LinkedFiles/NFP/VIFOREST/90209%20Bao
%20cao%%20cong%20nghiep%20che%20bien%20go%20thach%20thuc%20va%20co%
20hoi%5B1%5D.pdf
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (FSC), trong khi đó tại các thị
trường khó tính như Châu Âu hay Mỹ lại ngày càng khắt khe về nguồn gốc sản phẩm cũng như
đặt ra yêu cầu phải đảm bảo trách nhiệm với môi trường tự nhiên khi muốn nhập khẩu vào. Do
đó, xu hướng nguyên liệu trong tương lai của Việt Nam sẽ chủ yếu là gỗ nhân tạo, gỗ có chứng
nhận FSC và gỗ tái chế.
Gỗ tại Việt Nam được phân thành 8 nhóm (từ nhóm I đến nhóm VIII) với gần 400 chủng loại gỗ
khác nhau. Với mỗi quốc gia khác nhau sẽ có cách riêng để phân loại gỗ khác nhau. Tại Việt
Nam, gỗ được phân theo chất lượng và độ quý hiếm của gỗ, ví dụ: gỗ nhóm 1, 2 là nhóm gỗ quý
như Cẩm Lai, Giáng Hương, Gõ, Căm Xe… nhóm 3, 4, 5 là nhóm gỗ thường và từ nhóm 6 trở đi
là những nhóm gỗ tạp như gỗ cây mít, cao su, bạch đàn. Trong đó, những loại gỗ thường được sử
dụng để phục vụ cho xuất khẩu hoặc chế biến xuất khẩu gần hơn 100 chủng loại. Có thể tham
khảo tại trang web sau đây:

5Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
http://www.ecvn.com/ROOTSYS/book/anyone/xuakhaudogo/PhanLoaiHomGoTaiVN.html# để

gỗ và ché biến được nhập khẩu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, một phần được chế biến để
xuất khẩu và tái xuất khẩu.

Đặc điểm nổi bật nhất của thị trường Mỹ là quy mô lớn, nhu cầu tăng thường xuyên và rất đa
dạng sản phẩm. Nhưng đây cũng là khó khăn cho nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có
Việt Nam vì các đơn hàng thường rất lớn nên khó đáp ứng được yêu cầu. Thị trường Mỹ cũng là
thị trường mở nên cạnh tranh rất ác liệt, cụ thể như sự cạnh tranh đến từ những quốc gia có
truyền thống nhập khẩu gỗ vào thị trường Mỹ từ trước đến nay: Brazil, Canada, Trung Quốc,
Indonesia, Malaysia…

2.2 Những luật định của thị trường Hoa Kì
2.2.1 Vấn đề chung về hải quan
Hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ nói chung được phân thành 3 loại chủ yếu: hàng hóa để sử dụng
ngay, hàng hóa được lưu giữ trong kho hàng và hàng quá cảnh. Yêu cầu nhập khẩu cho cả ba loại
hàng này như nhau, nhưng thời gian để hoàn tất các thủ tục hải quan cho mỗi loại khác nhau.

7Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam

Để nhập khẩu hàng hóa, nhà nhập khẩu (thường là người mua hàng hay nhà môi giới hải quan)
ngoài việc phải trả một khoản lệ phí hải quan, phải trình những giấy tờ khác, gồm: Vận đơn, hóa
đơn thương mại của nhà xuất khẩu, bản kê khai hàng hóa chở trên tàu (mẫu hải quan số 7533)
hoặc đơn xin và giấy phép đặc biệt cho giao hàng ngay (mẫu hải quan số 3461), phiếu đóng gói.

Theo quy định của Hải quan Mỹ, sau khi xuất trình các chứng từ trên, hàng hóa sẽ được thông
quan nếu không có vi phạm gì về pháp luật hoặc hành chính. Hồ sơ nhập khẩu sẽ được lưu và
thuế nhập khẩu ước tính phải được thanh toán trong vòng 10 ngày làm việc kể từ lúc giải phóng
hàng hóa ở trạm hải quan được chỉ định.
Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam

Một số công ty sản xuất gỗ lâm sản nhà đã phàn nàn về gánh nặng thuế phụ thu đánh vào các
nhà nhập khẩu, điều này sẽ làm tăng mức thuế nhập khẩu. Cụ thể:
 Phí xử lý hàng hóa (MPF) (0,21%) theo giá FOB, trị giá từ 25 USD đến 485 USD. Phí
này do Hải quan Mỹ và Puerto Rico thu.
 Thuế bảo quản cầu cảng (HMT) (0,125%) giá FOB
 Loại khác: phí thanh quản và tiền đặt cọc (bond) nộp cho Hải quan
Biểu thuế nhập khẩu của Mỹ được đăng trên mạng của Ủy ban Thương mại Quốc tế của
Mỹ là: www.usitc.gov

2.2.3 Vấn đề chung về Chứng chỉ/ tiêu chuẩn Mỹ và quy tắc dán nhãn:
Chứng nhận vệ sinh dịch tễ: Rơm hay đồ bao bọc bằng gỗ khi nhập vào Mỹ phải có giấy chứng
nhận vệ sinh dịch tễ. Giấy chứng nhận này có thể do nhà xuất khẩu cung cấp. Giấy chứng nhận
cần xác nhận rằng các sản phẩm không bị nhiễm bệnh hay dịch của gỗ. Quy định này do Văn
phòng điều tra sức khỏe động thực vật ban hành tại các điều khoản của 7 CFR 300 và 7 CFR
319. Giấy chứng nhận xử lý nhiệt cũng được yêu cầu đối với việc nhập khẩu các nguyên liệu
đóng gói bằng gỗ.

Một số đạo luật đặc biệt được Mỹ áp dụng nhằm thúc đẩy chương trình khai thác tài nguyên
rừng bền vững trên khắp thế giới, như: chứng chỉ FSC – CoC và đạo luật Lacey.
Chứng chỉ FSC – CoC là chứng chỉ quốc tế về chuỗi hành trình sản phẩm, do Hội đồng quản trị
rừng thế giới xác nhận. nhằm thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt
môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và kinh tế. Hiện nay đã có khoảng 55% doanh nghiệp Việt
Nam được cấp chứng chỉ này.
Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ quy định doanh nghiệp khi xuất khẩu đồ gỗ, lâm sản vào Hoa Kì thì
cần phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của nguồn nguyên liệu làm ra sản phẩm đó. Cho
đến nay thì các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam đều vượt qua “rào cản” này khi nhập khẩu

và Hải quan về việc thông báo hàng đến và giám định tại cảng đến (nếu thuộc loại quý
hiếm).
7. Nhập khẩu gỗ cây phải xin giấy phép của APHIS thuộc USDA.
8. Nhập khẩu gỗ quý hiếm phải ghi nhãn (Marking) rõ ràng bê ngoài container tên và địa
chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu, mô tả chính xác chủng loại gỗ.
HTS 94: Đồ nội thất: Bao gồm các loại ghế, đồ đạc dụng cụ trong bệnh viện; các đồ đạc trong
nhà, văn phòng, giường tủ, bàn ghế, đệm; đèn và các tám ngăn xây dựng làm sẵn… Các đồ dùng
này có thể làm hoàn toàn bằng kim loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vải hoặc các vật liệu
khác.

Đối với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:
1. Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban an toàn tiêu dùng (CPSC) về
an toàn tiêu dùng
2. Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory (UL), do CPSC quản
lý.
3. Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA về xác định nguồn
gốc vải.

2.3 Thị hiếu tiêu dùng hàng gỗ của Hoa Kì:
Gỗ nguyên liệu tại Mỹ được phân loại như sau:
 Gỗ cứng: là gỗ từ các cây hạt kín, hoặc loài cây lá rộng. Vd: Gỗ Thích, gỗ Mun, gỗ Sồi,
gỗ Dương, Tếch, Phi Lao…
 Gỗ mềm: là gỗ từ các cây hạt trần, hoặc loài cây lá kim. Vd như Thông, Bách Hương,
Bạch Quả
 Trong đó, gỗ nguyên liệu được sử dụng cùng là các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ ép, ván ép
nhân tạo và ván Veneer.

10
gian giao hàng. Nếu một lô hàng sản xuất mất hai thang, thì thời gian từ khi đặt hàng đến tay
người nhận và tung ra thị trường mất khoảng từ 4-5 tháng là quá lâu, nhiều doanh nhân Mỹ yêu
cầu rút ngắn thời gian sản xuất một lô hàng xuống còn 20-25 ngày.

Người tiêu dùng Mỹ cũng thích đồ gỗ làm từ nguyên liệu gỗ cứng, tốt nhất là gỗ của Bắc Mỹ
hơn đồ gỗ được làm từ các loại gỗ mềm. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của một số doanh nghiệp
chế biến đồ gỗ Việt Nam thì người tiêu dùng Mỹ có vẻ ưa chuộng vẻ đẹp bên ngoài, họ không
thích “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” mà ngược lại “tốt nước sơn hơn tốt gỗ”. Họ không cần các sản
phẩm được làm bằng các loại gỗ tốt như lim, gụ… mà chỉ cần gỗ cao su, gỗ thầu đâu, thậm chí là
MDF (ván gỗ ép) nhưng nước sơn phủ bên ngoài phải thật đẹp, bắt mắt và kiểu dáng phải đẹp.

11Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
Để đạt được nước sơn phủ lên các sản phẩm đồ gỗ xuất sang Mỹ khá phức tạp, khó hơn nhiều so
với yêu cầu của các thị trường EU, thường để hoàn tất chu trình sơn một sản phẩm hoàn hảo cho
thị trường Mỹ có khi phải sơn đến 10 lần. 2.4 Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì:
(Đơn vị tính: USD)
Rate

Country

8/2009


7/2010


China

106,476,741

119,457,017

-
10,87

4

Canada

93,248,302

102,361,643

-
8,9

5

Mexico

45,478,798

40,412,812

12,54

23,14

9

Indonesia

11,408,507

11,676,800

-
2,3

10

Vietnam

9,100,590

4,700,911

93,59

11

Italy

7,768,792

8,723,028

4,205,983

-
26,47

15

Netherlands

2,939,987

6,729,616

-
53,18

16

Taiwan

2,406,211

4,829,938

-
50,18

17

Bolivia


Honduras

1,056,490

1,795,822

-
41,17

21

Germany

770,738

1,900,383

-
59,43

22

Nicaragua

734,119

844,038

-


-
49,86Other

5,405,080

11,601,018

-
53,41Top 25 qu

c gia cung c

p ngu

n g


nguyên li

u
l

n nh

Nam vừa trở thành thành viên của WTO. 13Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
3 Phân tích lợi thế cạnh tranh của gỗ Việt Nam so với gỗ Trung Quốc
tại thị trường Mỹ.
3.2 Yếu tố thâm dụng:
3.1.1 Yếu tố cơ bản:

Vi

t Nam

Trung Qu

c

Đi

u ki

n t


nhiên

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, với diện tích

mùa rõ rệt, mùa đông lạnh giá, mùa hè nóng nực. Do đất
nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên
khí hậu cũng đa dạng theo. Từ Nam lên Bắc lần lượt là các
vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới, Trung ôn đới, Hàn ôn đới.
Trung Quốc hiện có tổng cộng 233,97 triệu ha rừng, chiếm
16,55% tổng diện tích đất quốc gia. Vùng rừng chủ yếu của
Trung Quốc là: Vùng rừng miền đông bắc, gồm Núi Đại
Hưng An, Núi Tiểu Hưng An và vùng rừng Trường Bạch
Sơn, là vùng rừng thiên nhiên lớn nhất Trung Quốc. Vùng
rừng ở miền tây nam, gồm vùng núi Hoành Đoạn, chân núi
Hy-ma-lay-a, vùng rừng ở chỗ ngoặt sông Ya-lu-chang-pu,
là vùng rừng thiên nhiên lớn thứ hai Trung Quốc. Vùng
rừng ở miền đông nam, gồm vùng đồi núi ở phía nam dải
núi Tần Lĩnh-sông Hoài Hà và phía đông vùng cao nguyên
Vân Quý, là vùng rừng nhân tạo chủ yếu nhất Trung Quốc.
Sự trải dài qua các đới khí hậu cộng với các khu vực rừng
có diện tích rộng lớn đã khiến cho Trung Quốc có một ưu
thế tuyệt đối để trồng trọt các giống cây sống trong khí hậu
từ Hàn đới đến Nhiệt đới với sản lượng khá lớn hàng năm.
Tuy nhiên ngành gỗ Trung Quốc cũng thường xuyên phải
đối mặt với nhiều thảm họa do thiên tai. Theo thông tin của
hãng đánh giá rủi ro Maple, Trung Quốc nằm trong top 3
những những có rủi ro và vô cùng nhạy cảm trước thiên tai.
104,322,4
24
41,931,99
7
9,447,065
560,155
2,787,150

Tràm.
Việt Nam cũng thường xuyên đối mặt với các đợt thiên tai
từ nhẹ đến nghiêm trọng hàng năm. Nhưng loại thiên tai ảnh
hưởng nhiều nhất đến ngành lâm nghiệp Việt Nam chính là
hạn hán. Hạn hán là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc cháy
rừng. Trong khi theo thống kê, Việt Nam có 6 triệu hecta
rừng dễ cháy như rừng Thông, Bạch đàn, Tràm…, trung
bình mỗi năm Việt Nam mất đi 16.000 ha rừng do cháy.

Nhìn sơ qua lịch sử những trận thiên tai của Trung Quốc,
như bão lũ ở miền Trung và Nam Trung Quốc, hạn hán ở
miền Bắc, động đất ở khu vực phía Tây Nam đều để lại
những hậu quả nặng nề cả về con người, kinh tế và đặc biệt
làm ảnh hưởng đến các cánh rừng cũng như ngành công
nghiệp gỗ của Trung Quốc. Cụ thể như thảm họa tuyết vào
năm 2008 tại phía Nam Trung quốc đã khiến cho 279 triệu
mẫu rừng ở 19 tỉnh, huyện, thành phố (Hồ Nam, Quý Châu,
Giang Tây, Hồ Bắc, An Huy, Quảng Tây và Triết Giang…)
bị ảnh hưởng, 1781 trang trại bị phá hủy nghiêm trọng, hầu
hết các rừng trẻ và trung niên trong khu vực bị phá hủy.
Ngu

n lao đ

ng

Hiện nay, tình hình lao động của ngành là một vấn đề cần
có biện pháp tăng cả chất lượng và số lượng. Thời báo kinh
tế Việt Nam cho biết, trong khoảng 170 000 lao động ngành
gỗ, lao động trình độ đại học chỉ chiếm 3% công nhân kỹ


15 tu

i tr


lên đang làm vi

c t

i th

i đi

m 1/7
hàng năm phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế, ngành
Nông Lâm nghiệp chiếm 48.2% khoảng 23 022 nghìn người.
(Nguồn: Tổng cục thống kê, số liệu hết năm 2009)
Năng suất của các doanh nghiệp được tìm hiểu khá thấp. So
sánh ngành chế biến gỗ Việt Nam trung bình chỉ tạo ra giá
trị xuất khẩu dưới 10.000 USD/công nhân/năm, trong khi tại
Trung Quốc là 16.000 USD/công nhân/năm, tại Malaysia là
17.500 USD/công nhân/năm, tại Đức khoảng 70.000
USD/công nhân/năm). Số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ thu
nhập từ lâm nghiệp trong cơ cấu thu nhập của hộ nông dân
còn thấp: toàn quốc là 4,8%, vùng Đông Bắc 11,7%, Tây
Bắc 23%, Bắc Trung bộ 7,2%, Nam Trung bộ 5,2%, Tây
Nguyên 7,4%, Đông Nam bộ 2%, Đồng bằng sông Cửu
Long 2,1% và Đồng bằng sông Hồng 0,2%.


thấy rằng có thể có sự thiếu hụt lao động có trình độ. Trong
đáp ứng sự thiếu hụt công nhân có trình độ, một số tỉnh
xem xét tăng tiền lương tối thiểu để thu hút thêm lao động.
Nhìn chung thì lực lượng nhân công rẻ và trình độ tay nghể
của người lao động Trung Quốc vẫn cao hơn Việt Nam.
Tuy nhiên, cả Việt Nam và Trung Quốc đều phải đối mặt
với một vấn đề lớn là sản phẩm vẫn chưa có thiết kế hay
thương hiệu riêng cũng như chất lượng sản phẩm chưa có
thể cạnh tranh với các nước như Canada, EU, Mỹ

3.1.2 Yếu tố tăng cường:
Vi

t Nam

Trung Qu

c

V

n kinh nghi

mHiện tại nước ta ó 4 trung tâm sản xuất đồ gỗ chính: Đồng
bằng sông Hồng, tỉnh Bình Dương, Tây Nguyên (Gia Lai,
Đak Lak) và Miền Nam Việt Nam (Bình Dương, Tp.
HCM, Đồng Nai và Long An). Tại đồng bằng sông Hồng


Số lượng các nhà máy là rất lớn trong khi các công ty nổi
tiếng thì hiếm. Hầu hết các nhà máy này đều sản xuất theo
quy trình thủ công, mức độ nghiên cứu và phát triển chiếm tỉ
lệ thấp do các nhà máy Trung Quốc chủ yếu vẫn bắt chước
các thiết kế.

Sự am hiểu thị trường: Trung Quốc vẫn là quốc gia đứng đầu
về xuất khẩu gỗ thành phẩm và thị trường chủ yếu vẫn là
Mỹ, do đó có thể nói Trung Quốc khá am hiểu về thị trường
Mỹ.
Ti

m l

c tài
chínhCác công ty chế biến gỗ có vốn đầu tư nước ngoài đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành công
nghiệp gỗ Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực xuất khẩu
mà còn trong lĩnh vực trình độ công nghệ, đào tạo nhân
lực, đa dạng hoá sản phẩm và thậm chí là nâng cao hình
ảnh về ngành công nghiệp gỗ trên thị trưòng thế giới.

Đây là thời cơ rất tốt để thúc đẩy sản xuất ở Việt Nam khi
các doanh nghiệp Đài Loan xây dựng và mở rộng quy mô
nhà máy tại đây, đặc biệt là tại Tp.HCM vì họ đang tăng
tốc để đối đầu với Trung Quốc trong cuộc chạy đua xuất

nhân địa phương.

Tỉnh Bình Dương, nơi chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước, hiện nay có 542 doanh nghiệp chế biến
gỗ, bao gồm 200 công ty có vốn đầu tư nước ngoài với
tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 700 triệu đô la. Cũng vậy,
dựa vào số liệu thống kê của một công ty tư vấn tại thành
phố Hồ Chí Minh chuyên về xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ vào
thị trường Mỹ, khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ
của Việt Nam vào thị trường Mỹ là từ các công ty có vốn
đầu tư của Đài Loan và Trung Quốc tại thành phố Hồ Chí
Minh, Bình Dương, Đồng Nai cũng như các nhà buôn
khác từ nước thứ ba.

Việt Nam có chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh
nghiệp thuộc ngành gỗ với mục tiêu như sau:
STT Hạng mục 06 – 10 11 - 20 Total %
A
Chi phí đầu

31,946.17 68,413.63 100,359.80 94
1
Quản lý bền
vững rừng và
chương trình
phát triển
16,214.55 28,220.80 44,435.35 44.3
2
Bảo vệ rừng,
bảo tồn đa

546.96 848.82 1,359.80 1.3
5
Chương trình
đổi mới thể
chế, chính
sách, kế hoạch
và giám sát
lâm nghiệp
885.57 2,418.91 3,304.48 3.3
B
Chi phí thông
thường
1,939.17 4,460.09 6,399.26 6.0

Tổng số vốn
cần thiết
33,885.34 72,873.72 106,759.06 100
20Lợi thế cạnh tranh Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
3.2 Yếu tố nhu cầu:
Vi


sạn ba sao và 4 sao thì cứ khoảng 5 năm họ phải tiến hành
thay mới các sản phẩm đồ gỗ để thu hút người ở. Kết quả
khảo sát này chỉ ra rằng số lượng khách sạn và nhà nghỉ
được xây mới hàng năm ở Việt Nam cũng đang có nhu cầu
và tiêu thụ một lượng sản phẩm gỗ có giá trị rất lớn.
Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp đồ gỗ trong nước vẫn
chưa quan tâm đúng mức đến thị trường nội địa, mặc dù
nhu cầu của thị trường này là rất lớn.
Doanh nghiệp gỗ Việt Nam đã quen với việc làm theo đơn
hàng nên không có sự đầu tư cần thiết trong việc nghiên
cứu thị trường nhỏ lẻ trong nước.
THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Trung Quốc là một thị trường có nhu cầu rất lớn về gỗ. Các nhà
máy của nước này sẽ còn rất lâu mới đáp ứng được nhu cầu tiêu
thụ gia tăng trong nước và kết quả là khối lượng nhập khẩu đã
tăng mạnh trong 5 năm qua, từ mức chỉ có 2 triệu m
3
trong năm
2006 lên 9,4 triệu m
3
trong năm 2010. Trong 2 tháng đầu năm
2011, nhập khẩu đã bất ngờ tăng 32% so với cùng kỳ năm 2010.
Biểu đồ cơ cấu sản phẩm gỗ của Trung Quốc.

20% trong giai đoạn 2009-2012, lý do là số gia đình tăng
lên và mức thu nhập được cải thiện của tầng lớp trung lưu.
Theo kết quả của nghiên cứu “Phân tích thị trường bán lẻ
Việt Nam (2008-2012)”,.
Quá trình đô thị hóa nhanh, các dự án quy hoạch đô thị
đang triển khai – sẽ kéo theo nhu cầu cao đối với các
sản phẩm đồ gỗ
Tới năm 2020, dự đoán tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam sẽ
tăng 45,2%/năm so với tốc độ 27% hiện nay. Trong giai
đoạn 2010-2020, Việt Nam sẽ cần phát triển 364 triệu m2
nhà ở tại các thành phố, tương đương với gần 36 triệu
m2/năm. Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng này sẽ kích
thích mạnh mẽ tới thị trường nhà ở, do đó thị trường đồ gỗ
ở Việt Nam sẽ thực sự bước vào giai đoạn phát triển ngoạn
mục

Lĩnh vực nhà ở
Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt chương trình cải tạo hạ
tầng đô thị cho giai đoạn tới năm 2020 với tổng vốn đầu tư
90 tỷ đôla Mỹ, với mục tiêu nâng cấp các thành phố, xây
dựng lại các khu dân cư cũ và các trung tâm đô thị

Lĩnh vực thương mại
Trên 95% diện tích của các khu văn phòng cho thuê tại cả
Hà Nội và Tp. HCM đã được sử dụng. Trong 5 năm tới, tại
Tp. HCM sẽ có thêm 500.000m2 văn phòng mới được đưa
vào sử dụng, tăng tổng diện tích văn phòng hiện nay lên
160%. Đồng thời, rất nhiều khu thương mại mới và khu

MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA

thành phố lớn ngày càng sẵn sàng chi trả nhiều hơn
cho căn bếp của mình
- Đồ nội thất phải “xanh” – đây là kết quả của một
cuộc nghiên cứu sau những chương trình kế hoạch
nâng cao nhận thức về bảo vệ mội trường của Chính
phủ Trung Quốc tại các thành phố lớn. Do đó, các
doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng chú trọng hơn
đến việc chọn lựa nguồn nguyên liệu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status