TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA M. PORTER
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH XUẤT KHẨU
CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Vũ Hoàng Việt
Sinh viên thực hiện: Dương Thị Nhật Anh
0951010352
Vũ Thị Minh Lộc
0951010495
Lê Viết Thanh
0951010205
Nguyễn Thị Kim Thoa
0951010571
Nguyễn Thành Linh 0951010137
Hoàng Hoàng Tuân 0951010240
Lớp: TMA301.1
Hà Nội, Tháng 11 -2011
MỤC LỤC
2
Lời mở đầu
Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, mỗi năm đem về
cho nước ta hơn 1 tỷ USD. Trên bình diện Thế giới, Việt Nam là nước đứng thứ hai về
xuất khẩu cà phê và đứng đầu về xuất khẩu cà phê Robusta. Những năm gần đây, ngành
cà phê nước ta đã có nhiều khởi sắc, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương
Mại Thế giới WTO thì sản lượng xuất khẩu đã tăng mạnh. Cà phê Việt Nam đang phát
triển mạnh mẽ và đã có những ảnh hưởng nhất định đến thị trường cà phê thế giới. Ngành
hàng cà phê cũng được Chính Phủ quan tâm đầu tư về nhiều mặt.
Cơ hội
Khối kim cương của M. Porter
Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các
ngành hoặc ở hầu hết các ngành. Các quốc gia chỉ thành công trên thương trường kinh
doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Ông phê
phán các quan điểm chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh.
4
Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà
nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu
thế vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều
doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong
cạnh tranh.
II. Tổng quan ngành cà phê Việt Nam
Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1870. Ngành
cà phê thực sự phát triển từ sau năm 1975, đến nay cả nước có khoảng 540.000 ha diện
tích trồng cà phê. Trong những năm gần đây, sản lượng cà phê của Việt Nam luôn đạt
mức trên 1 triệu tấn/ năm, giá trị tổng sản lượng chiếm khoảng 2% GDP. Ngành cà phê đã
có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời góp phần giải
quyết việc làm cho khoảng 700.000 lao động. Kim ngạch xuất khẩu cà phê năm nhiều
năm liền đạt trên 1,5 tỷ USD, năm 2010 đạt 1,763 tỷ USD, xếp thứ hai trong số các mặt
hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam (sau gạo).
Xét trên bình diện thế giới, Việt Nam đứng thứ hai sau Braxin về sản xuất và xuất
khẩu cà phê. Hiện nay, cà phê Việt Nam đã có mặt tại 75 quốc gia trên thế giới, thị phần
đạt 12% sản lượng thế giới (số liệu năm 2010, nguồn ICO – International Coffee
Organization). Riêng đối với cà phê Robusta - cà phê vối (thích hợp với khí hậu vùng
nhiệt đới), Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng cà phê Robusta của thế
giới, đạt khoảng 35% năm 2010. Tuy vậy cà phê Robusta là loại có chất lượng và giá
thành kém hơn so với cà phê Arabica – cà phê chè (thích hợp với khí hậu mát mẻ, độ cao
trên 600m) vốn là thế mạnh của Braxin.
5
xuất mặt hàng cà phê vô cùng thuận lợi, trong đó các yếu tố sản xuất cơ bản giữ vai trò
tiên quyết tạo ra lợi thế này. Các yếu tố đó bao gồm tài nguyên, khí hậu vị trí địa lí, lao
động giản đơn và nguồn vốn tài chính.
1.1.1. Tài nguyên
Đất trồng cà phê tốt là đất đỏ bazan, ngoài ra cũng có thể trồng cà phê trên đất
đỏ đá vôi, cả trên đất đá hoa cương hay phiến thạch. Đất trồng cà phê cần tương đối bằng
phẳng, tốt nhất là độ dốc dưới 8 độ. Về tính chất hoá học, cà phê thích nghi với độ chua
6
khá rộng, pH từ 4, 5 đến 6, 5. Hàm lượng chất hữu cơ cao thường giữ cho đất tơi xốp và
có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cao.
Nước ta có hơn 3 triệu hecta đất bazan màu mỡ thích hợp trồng cây cà phê,
riêng ở khu vực Tây Nguyên có hơn 2 triệu hecta, chiếm hơn 60% diện tích đất bazan cả
nước. Việt Nam hiện có 536.959 ha đất canh tác cà phê, trong đó gần 90% diện tích cà
phê ở khu vực Tây Nguyên.
1.1.2. Khí hậu
Cà phê vối phát triển rất tốt ở khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ trung bình 22 -26 độ
C, lượng mưa 1800 - 2000 mm và phân bố không đều trong 9 – 10 tháng của năm, độ ẩm
không khí gần như bão hoà.
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chủ yếu phân thành
hai mùa mưa, mùa khô rõ rệt. Đặc biệt khu vực Tây Nguyên với khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều tạo điều kiện thuân lợi để cây cà phê phát triển, đảm bảo đầy đủ nhu cầu nước tưới
tiêu. Mùa khô kéo dài thuận lợi cho việc phơi sấy bảo quản sản phẩm. Nhưng mặt khác,
mùa khô kéo dài cũng gây nên tình trạng thiếu nước tưới.
Cà phê chè thường được trồng ở các vùng có độ cao trên mực nước biển từ
1300-1800 m và có 1 mùa khô từ 4-5 tháng, lượng mưa trung bình từ 1500 – 1800 mm,
nhiệt độ trung bình từ 22 – 25 độ C. Tuy nhiên ở các vùng Sơn La, Điện Biên của nước ta,
người ta vẫn trồng được cà phê chè vì cùng này có vị trí vĩ độ rất cao (22 – 23 vĩ độ Bắc).
Điều kiện của địa hình và vĩ độ đã điều chỉnh những điều kiện bất thuận làm cho cây cà
phê chè có thể phát triển.
1.1.3. Vị trí địa lí
còn lại dành cho thu mua để xuất khẩu, trồng và chăm sóc, chế biến cà phê.
Đầu vào nâng cao
1.1.6. Cơ sở hạ tầng
Các công trình giao thông, truyền thông, thủy lợi, điện… được nhà nước đầu tư
xây dựng. Mạng lưới giao thông vận tải được nâng cấp, tạo thuận lợi cho công tác chuyên
chở sản phẩm từ vùng sản xuất đến nơi tiêu thụ, cũng như vận chuyển nguyên liệu, phân
bón, máy móc đến nơi canh tác… Hệ thống thủy lợi cũng được xây dựng đáp ứng nhu cầu
tưới tiêu, canh tác của bà con trồng cà phê.Hệ thống thông tin liên lạc, truyền thông,
truyền hình, cung cấp nguồn năng lượng… cũng được chú trọng phát triển.
1.1.7. Khoa học kĩ thuật
Cùng với việc tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm
canh như: chọn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán…đã làm năng suất và sản lượng cà
phê tăng mạnh. Đồng thời, công nghiệp sơ chế cà phê ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ.
Nhiều thiết bị mới chất lượng tốt đã được trang bị trong chế biến. Những năm 1990, năng
suất bình quân 1 ha cà phê kinh doanh chỉ đạt từ 8- 9 tạ nhân, đến năm 1994 năng suất
bình quân đạt 18, 5 tạ/ha, hiện nay bình quân đạt 25- 28 tạ/ha; cá biệt ở một số vùng sản
xuất đã cho năng suất bình quân đạt 35- 40 tạ/ha, vườn cà phê một số hộ gia đình đạt trên
50 tạ/ha.
1.1.8. Lao động trình độ cao
Đây là vấn đề rất nan giải đối với việc phát triển cây cà phê của nước ta, do lao
động nước ta phần lớn là trình độ thấp và chưa qua đào tạo. Tuy vậy chất lượng lao động
đang ngày được nâng cao song song với việc đầu tư công nghệ mới. Yếu tố kinh nghiệm
lâu lăm cũng là một thế mạnh của lao động nước ta.
2. Điều kiện nhu cầu trong nước
Quy mô và mức độ tăng trưởng
9
Là một trong những nước dẫn đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê lại là
quốc gia có dân số đông thứ 13 thế giới nhưng lượng tiêu thụ cà phê trong nước của Việt
Nam lại khá khiêm tốn so với các nước sản xuất cà phê khác.
Theo báo cáo của Tổ chức Cà phê Quốc tế ICO, lượng cà phê tiêu thụ trên đầu
tuổi và nhãn hiệu. Thống kê đo lường tại 6 thành phố lớn (chỉ tính sản phẩm có nhãn
hiệu) cho thấy thị phần cà phê hoà tan chiếm 62% về số lượng và 65% về giá trị, so với
38% về số lượng và 35% về giá trị của cà phê rang xay có nhãn hiệu. Mức tăng trưởng
tiêu thụ hàng năm của cà phê hoà tan lớn hơn cà phê rang xay. Như vậy có thể thấy người
tiêu dùng Việt Nam đang ngày càng hướng nhiều hơn đến cà phê hòa tan, vốn thuận tiện
hơn trong việc thưởng thức, tạo nhu cầu thúc đây sản xuất cà phê hoà tan phát triển.
Các nhãn hiệu cà phê trên thị trường Việt Nam cũng đang ngày càng đa dạng hơn,
chủng loại sản phẩm được đa dạng hóa để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Bên cạnh các
doanh nghiệp nổi tiếng trong nước như Trung Nguyên, Vinacafe, Nestlé, người tiêu dùng
Việt Nam cũng bắt đầu làm quen với các chuỗi cửa hàng cà phê thương hiệu nước ngoài
như Gloria Jeans, Illy’s.
Xét trên khía cạnh khác, theo kết quả điều tra từ 540 gia đình, 60 người uống cà
phê tại quán và 40 quán cà phê tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh do Viện Chính sách
và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn thực hiện năm 2009, khách hàng ở độ tuổi
thanh niên và vị thành niên có mức tăng tiêu thụ cà phê nhanh nhất, cả về cà phê bột và cà
phê hòa tan. Nhóm thanh niên và trung niên có mức độ tiêu dùng cà phê cao nhất. Nhóm
tuổi già tăng mức tiêu thụ rất ít và chỉ tăng lượng tiêu thụ cà phê bột. Xét về ngành nghề,
những người làm việc nhiều về trí óc và có kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật viên tiêu thụ cà
phê nhiều nhất. Mức tiêu thụ cũng tăng mạnh ở lao động giản đơn. Điều tra ở trên cho
thấy tiềm năng phát triển sản xuất cà phê có chất lượng, mẫu mã phù hợp với giới trẻ, với
11
lao động có trí óc, bên cạnh đó là các loại cà phê giá rẻ, phù hợp khẩu vị của nhóm thu
nhập thấp, trình độ học vấn thấp.
3. Các ngành hỗ trợ và có liên quan
Phần này chúng em tập trung vào các ngành hỗ trợ và liên quan đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu cà phê.
Các ngành hỗ trợ: gieo trồng, thu mua cà phê, cung ứng bao bì, máy móc đóng gói
Đối với mỗi doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, các ngành hỗ trợ là những ngành cung
ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh như ngành cơ khí thì chế tạo và
lắp ráp máy móc để phục vụ chế biến và đóng gói, hay ngành lâm nghiệp trồng cây cà phê
và giữ uy tín với đối tác. Ở Việt Nam, vận tải bộ đang còn là mỗi lo ngại đối với các
doanh nghiệp do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập, tuy nhiên vận tải thủy đã và đang
dần khẳng định vị thế của mình so với các nước khác.
Kho bãi lưu trữ đặt xếp hàng cũng khá quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp xuất
khẩu cà phê. Tự mỗi doanh nghiệp có thể xây dựng kho bãi lưu trữ hoặc thuê, tuy nhiên,
bằng biện pháp hỗ trợ thuế, ngành cà phê đã được ưu đãi nhiều trong vấn đề kho bãi lưu
hàng.
Ngành công nghệ sinh học cũng là một ngành liên quan, vì những giống cà phê
năng suất vẫn luôn được nghiên cứu và phát triển không ngừng nhờ có tiến bộ trong
nghiên cứu sinh học, bên cạnh đó, những yếu tố như phân bón, kỹ thuật nuôi trồng cây cà
phê, kỹ thuật thu hoạch,… cũng được nghiên cứu và phát triển liên tục. Ở nhiều địa
phương trên cả nước, các phòng nghiên cứu và phát triển giống cây trồng nông lâm sản đã
được xây dựng và đi vào hoạt động có hiệu quả từ nhiều năm trước đây. Bằng cách đó,
cách doanh nghiệp sản xuất cà phê sẽ thu được phần lợi nhuận do tiến bộ khoa học kỹ
thuật mang lại, và chính cả những người trồng cà phê cũng thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Dự án sản xuất giống cà phê, ca cao giai đoạn 2011-2015 của Viện Khoa học kỹ
thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên với tổng vốn đầu tư 66,2 tỷ đồng đã được Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Theo đó, mỗi năm, các hoạt động từ dự án sẽ
cung cấp 20 tấn hạt lai đa dòng cà phê vối, 3 tấn hạt giống cà phê chè chất lượng cao,
đồng thời cung ứng 2 triệu chồi ghép phục vụ nhu cầu tái canh và trồng mới mỗi năm
13
20.000-22.000 ha cà phê. Đây là yếu tố tích cực góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong nước
xây dựng vùng nguyên liệu cà phê.
Các ngành liên quan đóng vai trò như một kênh trực tiếp tác động đến định hướng
và mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê. Thông qua các
ngành liên quan mà các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nắm bắt được cơ hội để lựa chọn
sản phẩm ưu thế để sản xuất và có sự tác động trở lại đối với các ngành liên quan.
4. Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh
Mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, yếu tố nền tảng của khả năng cạnh tranh
những nơi khác nhau như uống ở các quán cóc, quán cà phê, uống tại nhà, nhân viên văn
phòng…
Lấy ví dụ cà phê Trung Nguyên, để đáp ứng nhu cần thưởng thức cà phê của các
nhóm khách hàng khác nhau, Trung Nguyên đã tạo ra một chuỗi sản phẩm đa dạng thể
hiện ở 3 dòng sản phẩm riêng biệt là sản phẩm phổ thông, trung cấp và cao cấp.
+ Sản phẩm phổ thông: gồm 3 loại Nâu- Sức sống, I-khát vọng, S-Chinh phục
+ Sản phẩm trung cấp: gồm các sản phẩm: Passiona, Cà phê Sáng tạo, Gourmet Blent,
House Blent, Cà phê chế phin, Hạt rang xay…
+ Sản phẩm cao cấp: gồm Weasel (Cà phê chồn), Diamond Collection, Legendee, Classic
Blend
Chính sự đa dạng hoá này đã khiến sản phẩm cà phê của Trung Nguyên đến
được với mọi phân khúc thị trường, tăng cường sức mạnh thương hiệu doanh nghiệp, một
điều mà không nhiều doanh nghiệp thực hiện được. Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm này
cũng thể hiện chiến lược về giá của doanh nghiệp.
Chiến lược liên kết trong ngành: các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê
cần xây dựng mối liên kết với người trồng cà phê cũng như giữa các doanh nghiệp với
nhau để nâng cao sức cạnh tranh. Tổng công ty cà phê Việt Nam VINACAFE không chỉ
chú trọng khâu thu mua, chế biến mà còn chú trọng đến sản xuất nông nghiệp, hướng tới
phát triển nông nghiệp bền vững trên diện tích 37000 ha với các loại giống cà phê cho
15
năng suất cao, trong 5 năm tới tập trung tái canh khoảng 11000 ha để thay thế các vườn cà
phê già cỗi tại các đơn vị trực thuộc.
Chiến lược quảng cáo, phân phối: khâu quảng cáo, phân phối sản phẩm là
khâu vô cùng quan trọng và cũng được các doanh nghiệp rất chú trọng. Các công ty cà
phê Việt Nam luôn hỗ trợ các đại lý phân phối sản phẩm của mình về cơ sở vật chất, kỹ
thuật, kinh nghiệm phân phối cũng như đầu tư vào quảng cáo trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Tuy nhiên chưa có nhiều doanh nghiệp có được chiến lược quảng cáo, phân
phối thực sự độc đáo. Xét về hướng đi riêng thì phải kể đến việc phân phối thông qua
nhượng quyền thương mại của cà phê Trung Nguyên. Năm 1998, cà phê Trung Nguyên
xuất hiện ở thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2000 hiện diện tại Hà Nội và lần đầu tiên
bàn.
Cạnh tranh ngành
Hiện tại, các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu cà phê của Việt Nam có
số lượng không nhỏ, khá đa dạng về sản phẩm, quy mô, tạo sức ép cạnh tranh trong nước,
mang lại lợi ích cho ngành.
Mặt khác, với việc mở cửa thị trường, các doanh nghiệp nước ngoài với nguồn vốn
tài chính hùng hậu đầu tư kinh doanh vào Việt Nam càng xuất hiện nhiều, sức ép cạnh
tranh từ các doanh nghiệp này là rất lớn đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải liên kết
lại với nhau. Theo xu thế ấy, 20 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê chủ lực là thành viên Hiệp
hội Cà phê và Ca cao Việt Nam VICOFA đã liên kết thành lập Câu lạc bộ các doanh
nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam nhằm liên kết chặt chẽ hơn trong việc trao
đổi kinh nghiệm, phối hợp thống nhất hành động bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, người
trồng cà phê. Những liên kết như thế này cần phát triển hơn nữa về số lượng và mức độ
nhằm nâng cao thế cạnh tranh của cà phê Việt Nam.
5. Chính phủ:
Theo mô hình kim cương, Chính phủ là yếu tố có thể tác động đến lợi thế cạnh tranh
quốc gia thông qua 4 nhóm nhân tố xác định lợi thế cạnh tranh đã được bàn đến ở trên.
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng vai trò điều hành của mình, có
17
nhiều tác động nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê nước ta, có thể kể đến như
sau:
- Định hướng phát triển ngành: Chính phủ và bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề ra
mục tiêu cho từng thời kỳ. Trước thực tiễn cà phê chè được thị trường thế giới ưa chuộng
hơn, mức giá cao hơn nhưng lại không phổ biến ở Việt Nam, Chính phủ đề ra chiến lược
đầu tư mở rộng trồng cà phê chè, chuyển dịch dần cơ cấu cây cà phê. Tuy nhiên việc thực
hiện dự án trồng cà phê chè tại các tỉnh phía Bắc đã không đạt được kết quả như mong
muốn.
- Ban hành và thực hiện các cơ chế chính sách:
Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày
25/10/2010 về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thuỷ sản.
cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp kinh doanh cà phê, các hộ nông dân trồng cà
phê.
Như vậy có thể thấy Chính phủ vẫn thiếu những chính sách đồng bộ quản lý ngành
cà phê, như thiếu các chính sách mua tạm trữ cà phê, phát triển hệ thống kho tàng bảo
quản cà phê khi sản lượng vào mùa tăng cao, giá giảm; thiếu các chính sách hỗ trợ cho
vay mua cà phê theo mùa vụ cho các doanh nghiệp; đặc biệt là chính sách hỗ trợ các
doanh nghiệp phát triển chế biến cà phê tinh, cà phê hòa tan, các sản phẩm từ cà phê…
Chính phủ cũng cần có 1 chính sách quản lý rủi ro giá cà phê thích hợp để bảo vệ cho
người trông cà phê trước sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nhiệp tư nhân và
nước ngoài, tránh các bẫy đầu cơ. Chính phủ các nước Brazil, Columbia, Guatemala,
Costa Rica, Ấn Độ, Nicaragua và Tanzania đều có các chính sách để quản lý rủi ro giá cà
phê, hỗ trợ cho nông dân những kiến thức căn bản để phòng hộ trước các biến động xấu
của thị trường.
Từ cuối năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dưới sự chỉ đạo của
Chính phủ đã tiến hành xây dựng dự thảo cơ chế, chính sách nhằm tăng khả năng dự trữ
cà phê, đảm bảo xuất khẩu có lợi cho nền kinh tế; kiểm soát giá xuất khẩu cà phê, nhất là
đối với giá các hợp đồng, giao hàng tương lai và kỳ hạn; kiểm soát, ngăn ngừa hiện tượng
ép giá thu mua, hạ giá khi xuất khẩu làm thiệt hại thu nhập của người trồng cà phê và lợi
19
ích đất nước; hỗ trợ được trực tiếp cho người trồng cà phê khi có rủi ro về thị trường và
giá cả. Dự thảo tiếp tục được lấy ý kiến bổ sung cuối tháng 3/2011 và trình lên Chính phủ.
Với các điều khoản hợp lý, quyết định này khi được ban hành sẽ đem lại những tác động
tích cực đến lợi thế cạnh tranh về mặt hàng cà phê của Việt Nam.
6. Cơ hội
Vì sản xuất cà phê lấy nguyên liệu từ ngành nông nghiệp, nên yếu tố thời tiết thường
xuyên ảnh hưởng đến sản lượng và giá cả. Năm 2010, mưa trái mùa khiến cây cà phê ra
hoa sớm, sau đó lại là thời kỳ khô hạn kéo dài khiến hạt cà phê bị hư hại. Thời tiết cũng
ảnh hưởng tới tiến độ thu hoạch. Thu hoạch niên vụ 2009/2010 bị ngưng trệ do ảnh hưởng
của cơn bão kinh hoàng Ketsana quét qua Đông Nam Á và tàn phá miền Trung Việt Nam
vào cuối tháng 9 năm 2009. Cơn bão đã trút xuống những trận mưa dữ dội khiến cho quả
Nam đang trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới khi sản lượng cũng như chất
lượng cà phê ngày càng được cải thiện, kim ngạch xuất khẩu tăng lên nhờ ưu thế về các
yếu tố sản xuất, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, chiến lược, cơ cấu, các chính
sách của chính phủ và các cơ hội. Tuy nhiên, cà phê Việt Nam vẫn chưa tận dụng được
hết những ưu thế nội tại của mình để trở nên cạnh tranh cao hơn nữa trên thị trường quốc
tế: cầu trong nước còn thấp trong khi Việt Nam là một nước đông dân; cà phê xuất khẩu
chủ yếu là loại Robusta (có giá trị thấp) và chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô hoặc mới qua
sơ chế; một số các ngành hỗ trợ và liên quan phát triển còn chậm chạp và yếu kém; Chính
Phủ vẫn còn thiếu các chính sách hợp lý thúc đẩy ngành sản xuất cà phê hoặc các chính
sách đưa ra chậm…
Cà phê là một ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, vì vậy, Chính Phủ và
Hiệp hội Cà phê Việt Nam cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê cần có những
hành động thích hợp để đưa cà phê Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn và có những thương
hiệu nối tiếng trên thị trường thế giới thay vì chỉ xuất khẩu cà phê dưới dạng thô và sơ
chế.
22
Tài liệu tham khảo
1. GS. TS Bùi Xuân Lưu (2009), Giáo trình Kinh tế Ngoại Thương, Nhà xuất bản Thông tin
và Truyền Thông, Hà Nội.
2. Micheal E. Porter (2008), Lợi thế Cạnh tranh Quốc gia, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí
Minh.
3. Ngân Hàng Thế Giới, Ban Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2004), Báo cáo Nghiên
cứu Ngành Cà phê,
4. FAS (USDA), Coffee: World Markets and Trade, Circular Series June 2010
5. USDA, Vietnam 2011 Coffee Annual, Global Agricultural Information Network Report
6. Trang diễn đàn cà phê Y5cafe: giacaphe.com
7. Cổng thông tin điện tử Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam: vicofa.org.vn
8. Sở Giao dịch Hàng Hóa Việt Nam: www.vnx.com.vn
9. Cổng thông tin Điện tử Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn www.agroviet.gov.vn
23