1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra một cách mạnh
mẽ, tác động đến mọi quốc gia, các lĩnh vực và các ngành. Theo xu thế đó, các
quốc gia đã và đang tiến hành các hoạt động mở cửa, hội nhập vào xu hướng này.
Việt Nam thực sự đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật đặc biệt là thành tựu về
xuất khẩu. Việt Nam đã xác định cho mình những mặt hàng chủ lực như gạo, cà
phê, may mặc, đồ gỗ Trong đó sản phẩm đồ gỗ ngày càng có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ góp phần tạo ra công ăn việc làm cho
một số lượng lớn lao động mà giá trị xuất khẩu của ngành còn chiếm tỉ lệ lớn
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt tại một số thị trường lớn
như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã có được một chỗ
đứng, vị thế quan trọng trên thị trường, chiếm một tỷ lệ thị phần đáng kể đặc biệt
là thị trường Nhật Bản với tốc độ tăng thị phần khá nhanh, với kim ngạch xuất
khẩu ngày càng tăng qua các năm, sản phẩm chủng loại khá đa dạng.
Tuy đã đạt được những thành tựu nổi bật về xuất khẩu nhưng nếu so sánh
với các đối thủ trên thị trường có cùng mặt hàng xuất khẩu thì kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn. Thị phần chiếm lĩnh so với các đối
thủ còn quá nhỏ. Nguyên nhân chính là do năng lực cạnh tranh hàng Việt Nam
trên thị trường thế giới còn chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa tạo được niềm tin
với khách hàng, thị trường không ổn định mặt hàng sản phẩm đồ gỗ cũng
không phải là một ngoại lệ, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về khả năng cạnh
tranh với các đối thủ khác trên thị trường mà điển hình ở đây là thị trường Nhật
Bản - một thị trường lớn, tiềm năng. Vì vậy em đã chọn đề tài " Nâng cao năng
lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản" để
nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Phân tích thực trạng năng lực cạnh
tranh của sản phẩm đồ gỗViệt Nam trên thị trường xuất khẩu ( Nhật Bản ) để từ
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
2
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA SẢN PHẨM ĐỒ GỖ VIỆT NAM
1.1. Tổng quan chung về cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm, phân loại và vai trò của cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế khách quan, là quan hệ kinh tế giữa
những người cùng sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, nó vừa là môi trường,
vừa là động lực phát triển kinh tế.
Trong kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là sự giành giật thị trường để
tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Theo C.Mác: "cạnh tranh là sự ganh
đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được những lợi nhuận siêu
ngạch". Đây là định nghĩa khái quát nhất về cạnh tranh, nó đã nói lên được mục
đích của cạnh tranh, nhưng chưa nói lên cách thức để giành thắng lợi trong cạnh
tranh.
Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa những
người sản xuất hàng hóa dựa trên thực lực kinh tế của họ. Cơ sở của cạnh tranh là
chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Chế độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn
ép lẫn nhau, " cá lớn nuốt cá bé". Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ
góc độ tiêu cực. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh
tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế-xã hội. Do vậy cạnh tranh có thể được hiểu như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa
những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó
nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều
biệt (vượt trội) về chất lượng, số lượng, giá cả, mẫu mã, độc đáo hay kiểu dáng,
tính tiện dụng, hình thức phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng, dịch vụ
sau bán hàng, lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm… so với sản phẩm của
đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm.
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
4
5
Năng lực cạnh tranh còn thể hiện qua mức độ chiếm lĩnh thị trường (thị phần của
nó) tốc độ tăng thị phần, khả năng gây ấn tượng đối với người sử dụng…
Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm.
Việc phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến
hành đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính
năng, chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã ); (2) đánh giá trực tiếp thị trường
(doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối ); (3) điều tra
xã hội học - chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự
nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu ). Sau đó so sánh các tiêu
chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường tại cùng thời
điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác
động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt
trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực
cạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của
nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực
cạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu). Nói cách khác: nâng cao sức
cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục
những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng
thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứ
không phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so
với thị phần của đối thủ cạnh tranh của nó.
tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuât.
Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Đây là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong nội bộ ngành, cùng sản xuất
ra một loại hàng hóa nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợi
nhuận siêu ngạch. Để cạnh tranh cùng với đối thủ cùng ngành, các doanh nghiệp
phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, nâng
cao năng xuất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa doanh nghiệp
sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
6
7
- Cạnh tranh giữa các ngành:
Đây là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau,
nhằm giành nơi đầu tư có lợi nhất. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp
bị hấp dẫn bởi khách hàng nên đã chyển vốn đầu tư từ ngành ít lợi nhuận sang
ngành lợi nhuận cao. Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành
nên sự phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất và hình thành tỷ suất lợi nhuận
bình quân giữa các nghành.
Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và
người mua độc lập với nhau, không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởng
tới giá cả. Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự
khác biệt về quy cánh phẩm chất mẫu mã. Tất cả người mua và bán đều có hiểu
biết đầy đủ về thông tin liên quan đến việc trao đổi. Thị trường cạnh tranh hoàn
hảo đòi hỏi tất cả người mua và người bán đều có liên hệ với tất cả những người
trao đổi tiềm năng, biết tất cả các đặc trưng của các mặt hàng trao đổi, biết tất cả
giá người bán đòi bán và giá người mua trả. Không có gì ngăn cản việc gia nhập
và rút khỏi thị trường. Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng
Đây là một khái niệm phức tạp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng
thời cũng bao gồm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước. Khả
năng cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư ,bảo đảm ổn định kinh tế xã hội,
nâng cao đời sống của người dân. Một số tổ chức quốc tế (như diễn đàn kinh tế
thế giới (WEF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), viện phát triển
quản lý (IMD) ở Lausanne, Thụy Sĩ ) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng
khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới. Các xếp hạng đó áp dụng các
phương pháp luận tương tự như nhau và đi đến kết quả giống nhau về xu thế, tuy
không hoàn toàn giống nhau về xếp hạng do có những khác biệt trong phương
pháp luận (thí dụ như về trọng số cho từng yếu tố, về cơ sở dữ liệu ). Các nhà
đầu tư quốc tế thường tham khảo các xếp hạng này như một căn cứ để lựa chọn
địa điểm đầu tư, vì vậy, các xếp hạng đó có ý nghĩa quan trọng đối với các chính
phủ và doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
8
9
trong nước và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều
sản phẩm và dịch vụ, vì vậy cần phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
với khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ thường được đo bằng thị phần
của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường. Giữa ba cấp độ khả năng cạnh
tranh có mối quan hệ mật thiết qua lại với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định
và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh quốc gia cao phải
có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho
doanh nghiệp có điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh thì môi trường kinh
trao đổi nội địa, kết quả trao đổi:
Hàng hóa Hoa Kỳ Nhật Bản
Số tần gạo 3 3
Xe hơi 3 3
Như vậy lý thuyết của Adam smith đã sử dụng yếu tố năng xuất lao động
để định nghĩa lợi thế cạnh tranh,theo ông thì một quốc gia nên lựa chọn những
ngành sản xuất mà có lợi thế so sánh về năng suất lao động thì sẽ có được lợi thế
cạnh tranh trên thị trường và thu được hiệu quả cao nhất.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh thuyết truyền thống của David Ricardo và
lý thuyết của hai nhà kinh tế học Scandinavian, Heckscher và Ohlin. Cả hai
người, đều dựa trên một loạt các giả định được minh hoạ dưới đây.
Giả sử chỉ có hai nước (Phần Lan và Ấn Độ) và hai mặt hàng (dệt và giấy).
Lấy K=vốn ($); L=lao động(giờ); r=giá thuê vốn ($); và w=giá đơn vị lao động
hoặc mức lương ($/giờ). Tương tự, lấy L
hàng dệt
= số giờ lao động cần để sản xuất
ra 1 m hàng dệt và L
giấy
=số giờ cần để sản xuất ra 1 tấn giấy.
Mô Hình Lợi Thế Giá Cạnh Tranh Truyền Thống: Như đã so sánh với Ấn
Độ và xem xét lý thuyết giá trị của lao động truyền thống, Phần Lan có lợi thế
giá trị cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn Độ về ngành dệt nếu:
Phần Lan > Ấn Độ
hoặc
>
Thậm chí nếu Phần Lan có hiệu quả hơn đối với mỗi mặt hàng mà, theo nghĩa:
L
dệt
Phần Lan L
dệt
đổi thương mại diễn ra, Phần Lan nên xuất khẩu giấy sang ấn Độ và nhập khẩu
hàng dệt.
*Cả hai đều cần được minh hoạ bằng mô hình giá cả hàng hoá như bảng
dưới đây. Từ đó, có thể thấy rằng cứ mỗi 4 tấn giấy Phần Lan xuất bằng đường
biển sang ấn Độ, họ sẽ thu về hơn 1m vải (và có thể gần 2m), trong khi đó, nếu
không trao đổi cứ mỗi 4 tấn giấy được dùng trong nước sẽ chỉ mua được 1m vải.
Tương tự, cứ mỗi m vải ấn Độ xuất sang Phần Lan sẽ thu về được 2 tấn giấy (có
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
11
12
thể lên tới 4 tấn) mà nếu không trao đổi mỗi mét vải bán đi chỉ thu về được 2 tấn
giấy.
Giá cạnh tranh của hàng dệt may và giấy ở Phần Lan và ấn Độ trước khi
có trao đổi thương mại
Phần
Lan
Ấn Độ
Hàng dệt may (m) FM 80 Rs.200
Giấy (tấn) FM 20 Rs.100
Giá trước khi trao đổi của 1m hàng dệt tính
theo tấn giấy
1m vải
có giá bằng
4 tấn giấy
1m vải
chỉ bằng 2 tấn
giấy
Nhận xét: trước khi đem trao đổi, vải giá cao hơn ở Phần Lan so với giá
của nó ở Ấn Độ, tức là Phần Lan có lợi thế cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn
Độ về sản xuất hàng dệt may
1.3.1. Các tiêu chí thuộc sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả, sự tiện
ích, mẫu mã )
- Tính năng của sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu của khách hàng hay
không: Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách
hàng sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn.
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối thủ
cạnh tranh. Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường xem
xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của
mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm.
- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh. Rõ
ràng giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnh
tranh của sản phẩm. Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản
phẩm nào có giá thấp hơn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của marketing và
quá trình khác biệt hoá sản phẩm hiện nay hầu như không thể tìm thấy hai sản
phẩm hoàn toàn giống nhau trên thị trường. Tuy nhiên doanh nghiệp hoàn toàn
có thể định giá cho sản phẩm của mình tùy theo mục đích kinh doanh cụ thể.
Doanh nghiệp có thể đi theo chiến lược giá cao hoặc theo chiến lược giá
thấp chỉ cần mức giá đó bù đắp được chi phí, bù đắp được chi phí, đạt được mục
đích đặt ra và doanh nghiệp vẫn có thể có lãi. Nếu sự định giá cho sản phẩm tạo
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
13
14
ra sự chênh lệch cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đồng thời
đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì sản
phẩm sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn trên thị trường, sản phẩm sẽ ngày càng chiếm
được lòng tin của người tiêu dùng, thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng
doanh số bán hàng và sẽ có được thị trường lớn trên thị trường.
Hay để có thể cạnh tranh bằng chiến lược giá thấp thì doanh nghiệp cần
phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị mình. Doanh nghiệp càng có
nhiều khả năng hạ giá thì sẽ có nhiều lợi thế hơn so với đối thủ cạnh tranh, tất
Doanh thu = số lượng hàng hóa tiêu thụ * giá cả hàng hóa ( trong một
khoảng thời gian nhất định )
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường: Thị phần của một hàng hóa trên
thị trường là tỷ lệ phần trăm mà một mặt hàng chiếm lĩnh được trên thị trường đó.
Thị phần của hàng hóa A trên thị trường = mA / M
mA: Số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M: Tổng số lượng được tiêu thụ trên thị trường
Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên mức độ chiếm lĩnh thị trường của một sản
phẩm. Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá mức độ cạnh tranh của một sản
phẩm so với sản phẩm cùng loại khác.
Tuỳ theo loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thể
xem xét năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị
phần của sản phẩm đó. Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh cao trên
thị trường khi chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại được bán trên
thị trường. Tuy nhiên, cũng phải vận dụng chỉ tiêu này một cách linh hoạt. Với
một số sản phẩm mới ra đời, chưa chiếm lĩnh được thị trường thì không thể sử
dụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị
trường vì khi đó phân tích sẽ có sự sai lệch nhất định. Đây cũng chính là cơ sở để
hình thành chỉ tiêu thứ 2 nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm là tốc
độ tăng thị phần của sản phẩm.
- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm đó có thể so sánh theo tính lịch sử, tức
là năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
15
16
Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh
cao. Và ngược lại nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sản
phẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh tranh.
- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì thị
phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn. Hệ thống phân phối được thiết kế hợp
phẩm này có năng lực cạnh tranh cao.
- Các cơ hội cung: Một số nhân tố quyết định các điều kiện cung và năng
lực cạnh tranh sản phẩm là năng lực của các ngành phụ trợ, khả năng tiếp cận
nguyên liệu thô, công nghệ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh nội địa v.v.
Các điều kiện cung và năng lực cạnh tranh càng cao thì tiềm năng xuất khẩu càng
cao, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
- Ưu tiên quốc gia: Chính phủ các nước đều đề ra các ưu tiên trong hầu hết
các chiến lược xuất khẩu của mình. Những ưu tiên này phần nào phản ánh những
nhận định kinh tế, như tốc độ tăng trưởng, hình thái cầu thế giới và tình hình
cung sản phẩm đó trên thị trường. Tuy nhiên, những ưu tiên này cũng phản ánh
những mối quan tâm khác như an ninh lương thực, cung của thị trường nội địa,
tạo việc làm, ưu tiên vùng, tiến bộ công nghệ v.v. Đối với những sản phẩm mà
Chính phủ ưu tiên, Chính phủ cũng sẽ có những hình thức hỗ trợ đặc biệt như các
chính sách khuyến khích, ưu tiên đầu tư. Do đó, nếu những yếu tố khác không
đổi, khi sản phẩm càng được ưu tiên thì năng lực xuất khẩu càng lớn.
- Chất lượng môi trường và xã hội của sản phẩm xuất khẩu: Giá trị của sản
phẩm xuất khẩu có thể được phản ánh không chính xác nếu chỉ xét trên yếu tố
kinh tế vì nó còn có những tác động phụ và/hay những tác động ngoại lai tích cực
hoặc tiêu cực. Những ví dụ rõ rệt nhất là những tác động ngoại lai liên quan đến
môi trường, sản phẩm xuất khẩu có thể có những tác động tiêu cực lớn hoặc nhỏ
đối với môi trường tuỳ theo công nghệ được áp dụng. Những chi phí này xã hội
phải gánh chịu, chứ không phải là người nhập khẩu hay thị trường. Những tác
động tích cực bao gồm tạo việc làm, trực tiếp hỗ trợ những nhóm người nghèo,
nâng cao hơn sự tham gia và tầm quan trọng của phụ nữ. Do đó, xuất khẩu sản
phẩm có tiềm năng tạo ra nhiều việc làm, không gây ra hoặc chỉ gây ra những
hậu quả thấp đối với môi trường, mang lại những lợi ích đặc biệt cho phụ nữ và
người nghèo, đặc biệt ở vùng nông thôn, cần được chú ý nhiều hơn, với điều kiện
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
17
18
18
19
mua hàng theo dịch vụ internet thì việc cung cấp trên mạng và dịch vụ mang
hàng đến tận nhà có thể trở thành phương thức tiêu thụ tốt hơn…
Qua sự phân tích nói trên có thể thấy rằng, có rất nhiều yếu tố chi phối đến
năng lực cạnh tranh của sản phẩm-hàng hoá-dịch vụ như: giá cả; chất lượng; nhu
cầu thị trường; lao động; công nghệ; môi trường kinh doanh…Vì thế, muốn nâng
cao năng lực cạnh tranh bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải kết hợp tất cả
những yếu tố nói trên trong điều kiện có thể. Đồng thời, phải thực hiện hàng loạt
các biện pháp và duy trì ở mức tối ưu các mối quan hệ đa tầng và đa chiều. Tuy
nhiên, xem xét tất cả những yếu tố và điều kiện nói trên, chúng ta có thể nhận
thấy rằng việc áp dụng chúng đều hướng tới mục tiêu: nâng cao chất lượng và hạ
thấp giá thành sản phẩm nhằm mở rộng thị trường. Ngược lại khi sản phẩm-hàng
hoá-dịch vụ có năng lực cạnh tranh tốt thì mới có khả năng vật chất và kỹ thuật
để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành.
Chất lượng sản phẩm và giá cả hàng hoá là hai yếu tố quan trọng hàng đầu.
Hai yếu tố này gắn liền với những thuộc tính vốn có của hàng hoá góp phần tạo
nên giá trị của sản phẩm. Đây có thể nói là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến năng
lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt là trong điều kiện tự do hoá thương mại.
Quá trình tự do hoá thương mại đang tiến lại rất gần thì vấn đề còn lại của các
sản phẩm xuất khẩu là: chất lượng và giá cả, khả. Nhưng giá cả sản phẩm cũng
phụ thuộc vào các yếu tố công nghệ, mẫu mã, chi phí đầu vào, cơ sở hạ tầng…
Phân tích trên cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của sản phẩm. Trong đó, ngoài các yếu tố được coi là căn bản và cổ điển
như chất lượng, giá cả… còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của sản phẩm như năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh quốc gia.
1.4.1. Các nhân tố thuộc ngành
a. Các nhân tố bên trong
- Các yếu tố sản xuất, đó là những yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình
sản xuất. Nó bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên, vốn, cơ cấu, cơ sở hạ tầng…
Internet, những người mua hàng di động, phải có năng lực quan sát và đáp ứng
xu hướng thị trường
- Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế bao gồm
những nhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy ra ở cấp độ khu vực hơn
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
20
21
là cả nước. Khả năng duy trì các liên kết quốc tế có tầm quan trọng ngày càng
lớn đối với các nước đang phát triển (UNCTAD, 1999). Do quá trình toàn cầu
hoá, tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vị
thế cạnh tranh của các sản phẩm của các nước đang phát triển ngày càng xoay
quanh khả năng thiết lập các liên kết quốc tế của các doanh nghiệp và các ngành,
- Môi trường cạnh tranh. Sự phát triển của năng lực cạnh tranh của sản
phẩm chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của chính phủ. Chính phủ đóng vai trò
then chốt trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh, tính cạnh tranh. Cụ thể là tác
động đến nội dung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố về
môi trường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia Các chính sách
và biện pháp của chính phủ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các nước đang
phát triển. Cần xác xây dựng các chương trình và sử dụng các công cụ nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm
của mình. Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phải xem xét
các điều kiện và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cách kiểm soát ảnh hưởng của
các nhân tố như ổn định kinh tế vĩ mô, sự cởi mở trong chính sách thương mại và
chế độ đầu tư.
- Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân tích thông tin của
các cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm cỡ
quốc gia. Các chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗ
trợ sản phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trình
tín dụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp trong xúc tiến thương mại- tìm kiếm
khách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nước ngoài.
mạnh tác động đến cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường. Và thông qua năm
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
22
23
nhóm nhân tố này chúng ta có thể đánh giá được thực trạng sức cạnh tranh hàng
Mô hình 1.1. Mô hình cạnh tranh 5 nhân tố của M.Porter
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những công ty, doanh nghiệp đang hoạt
động sản xuất kinh doanh trong một ngành nhất định, những công ty, doanh
nghiệp này đã vượt qua những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãng
muốn rút lui nhưng chưa có cơ hội.
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại của trong ngành quyết định mức độ và tính
chất tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữ
vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo có thể có được mức lợi nhuận cao
nhất. Chúng ta có thể đánh giá sức cạnh tranh hàng hóa của doanh nghiệp qua đối
thủ cạnh tranh hiện tại bằng cách so sánh tương quan giữa doanh nghiệp ta và đối
thủ hiện tại về thị phần hàng hóa chiếm lĩnh hiện tại, về môi trường sản xuất, về
tiềm năng Nếu mọi yếu tố trên mà đối thủ cạnh tranh hiện tại tốt hơn thì sản
phẩm của doanh nghiệp kém sức cạnh tranh hơn và ngược lại
Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá
chính xác mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng và chiến lược hiện tại
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
Sản phẩm thay thế
Nhà cung ứng Các đối thủ cạnh
tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh
tiềm ẩn
Khách hàng
23
24
thuẫn với nhau. Khách hàng mong muốn có được những chủng loại hàng hóa và
dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả thấp nhất. Còn nhà sản xuất lại mong
muốn khách hàng trả cho hàng hóa của họ mức giá cao.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng càng trở nên
quan trọng và cần được ưu tiên hơn. Một doanh nghiệp không thể thỏa mãn được
tất cả nhu cầu của các loại khách hàng cho nên nhất thiết các doanh nghiệp phải
phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau. Trên cơ sở đó mới tiến hành
Lưu Đình Đại Lớp: KTQT 45B
25