Mở đầu
Khi tham gia vào nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp phải có mục tiêu và
chiến lợc kinh doanh cụ thể. Tuy nhiên, sự sống còn của một doanh nghiệp
không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của bản thân doanh nghiệp mà còn bị ảnh h-
ởng nhiều bởi tình hình hoạt động của các doanh nghiệp khác. Rất khó có thể
thống kê đợc trên thế giới hiện nay có bao nhiêu doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ
đang tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh; ngay trong một ngành, một lĩnh
vực kinh tế cụ thể, số doanh nghiệp tham gia là bao nhiêu cũng khó có thể liệt kê
một cách rõ ràng. Để vợt qua và chiến thắng các đối thủ của mình trên thơng tr-
ờng, doanh nghiệp phải nghiên cứu và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm mà mình đem trao đổi, buôn bán trên thị trờng. Trong
nền kinh tế thị trờng của một quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung,
vấn đề cạnh tranh không phải là vấn đề mới nhng nó luôn là vấn đề mang tính
thời sự ; cạnh tranh khiến thơng trờng ngày càng trở nên nóng bỏng.
Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tế vì
những lợi ích mang lại từ hoạt động kinh tế này, nhng mức độ tham gia còn hạn
chế. Ngành may mặc của Việt Nam tuy đợc coi là một trong những ngành hàng
mũi nhọn trong chiến lợc sản xuất hớng về xuất khẩu, nhng lại cha thực sự
khẳng định đợc mình trên thị trờng thế giới. Lợng hàng xuất khẩu trực tiếp (bán
FOB) còn thấp vì chủ yếu là thực hiện gia công theo đơn đặt hàng của nớc ngoài.
Do vậy, tính cạnh tranh của sản phẩm may mặc trên thị trờng quốc tế cha đợc
quan tâm đầy đủ.
Công ty May Chiến Thắng (trực thuộc Tổng Công ty Dệt - May Việt Nam)
từ khi thành lập (1968) cho tới nay đã đợc hơn 30 năm, trải qua nhiều gian nan,
vất vả nhng cũng đạt đợc những thành tựu đáng kể. Cùng với sự phát triển của đất
nớc, Công ty May Chiến Thắng đang dần hoàn thiện mình và ngày càng cố gắng
góp phần khẳng định khả năng phát triển của ngành may xuất khẩu. Sản phẩm
của Công ty May Chiến Thắng gồm nhiều chủng loại, ngoài các sản phẩm may
mặc là một số sản phẩm khác nh thêu in, thảm len, nhng chất lợng, mẫu mã, giá
cả... của sản phẩm cùng cách thức tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất
Thời gian thực tập tại Công ty May Chiến Thắng đã cho em thêm nhiều
kiến thức thực tiễn trong công tác quản lý, sắp xếp và thực hiện các công việc về
xuất nhập khẩu. Qua đó, em có thể vận dụng những kiến thức đã đợc học vào
thực tế để nghiên cứu và hoàn thành bài chuyên đề tốt nghiệp. Tuy nhiên, do
những khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế là khó tránh khỏi, nên những ý kiến,
giải pháp đợc nêu trong bài có thể cha đầy đủ và chỉ mang tính định hớng. Em rất
mong đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn. Em xin chân
thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2002
2
Chơng I
Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và các nhân tố ảnh
hởng đến cạnh tranh trong thơng mại quốc tế
1.1 . Các hình thức và chiến lợc cạnh tranh trong hoạt động th-
ơng mại quốc tế
Các doanh nghiệp hiện nay không còn muốn bó hẹp hoạt động sản xuất, kinh
doanh của mình trong phạm vi một quốc gia, mà họ luôn tìm cách hớng ra thị tr-
ờng ngoài nớc vì những lợi ích do thơng mại quốc tế mang lại. Có nhiều mục
đích và động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ vào hoạt động th-
ơng mại quốc tế, có thể là để mở rộng khả năng cung ứng hay tiêu thụ hàng hoá,
để tìm kiếm các nguồn lực ở nớc ngoài, để đa dạng hoá hoạt động kinh doanh...
Tuy nhiên, tất cả đều nhằm một mục đích là tối đa hoá lợi nhuận hoặc ổn định lợi
nhuận. Vì vậy, sự thành công hay thất bại của các nhà kinh doanh quốc tế phụ
thuộc cơ bản vào nguồn lực ở nớc ngoài, vào mức tiêu thụ hàng hoá, vào giá cả
hàng hoá và quan trọng là khả năng cạnh tranh với các đối tác quốc tế.
Hoạt động thơng mại quốc tế hiện nay bao gồm thơng mại hàng hoá hữu hình
và thơng mại hàng hoá vô hình, hoạt động gia công thuê cho nớc ngoài và thuê n-
ớc ngoài gia công, hoạt động tái xuất khẩu, chuyển khẩu và xuất khẩu tại chỗ.
Tuỳ theo đặc điểm, tính chất từng loại hình thơng mại quốc tế mà các doanh
doanh nghiệp vì kinh doanh trong môi trờng quốc tế chịu ảnh hởng của rất nhiều
yếu tố khách quan.
Nền kinh tế thị trờng có 3 hình thái cạnh tranh sau.
Cạnh tranh hoàn hảo (cạnh tranh thuần tuý)
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trờng có rất nhiều ngời bán hàng và
không có ngời nào có u thế để cung ứng một số lợng sản phẩm quan trọng khả dĩ
ảnh hởng đến giá cả. Về phía ngời mua cũng không có ngời nào mua một số lợng
sản phẩm quan trọng đến nỗi ảnh hởng đến giá cả. Các sản phẩm bán ra đều đợc
ngời mua xem là đồng nhất (ít khác nhau về quy cách phẩm chất, mẫu mã hay
các phơng thức, dịch vụ mua bán). Các tin tức về thị trờng luôn có thể ứng dụng
cho mọi ngời mua và ngời bán, điều kiện tham gia hay rút lui khỏi thị trờng là dễ
dàng.
Trong thị trờng cạnh tranh hoàn hảo, đờng cầu của thị trờng là một đờng nằm
ngang (cầu co giãn hoàn toàn). Ngời bán và ngời mua là ngời chấp nhận giá. Nếu
ngời bán định giá sản phẩm cao hơn hay thấp hơn giá của thị trờng sẽ không có
ngời mua. Vì vậy, ngời kinh doanh trên thị trờng này chủ yếu tìm biện pháp giảm
thấp chi phí sản xuất một số lợng sản phẩm đến giới hạn mà chi phí biên bằng
doanh thu biên, họ không thể áp dụng chiến lợc cạnh tranh bằng giá cả ở thị tr-
ờng này. Nói chung, thị trờng cạnh tranh hoàn hảo khó tìm thấy trong điều kiện
hiện nay.
Cạnh tranh không hoàn hảo
4
Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh bình thờng vì
nó thực tế và phổ biến trong điều kiện hiện nay. Đây là thị trờng mà phần lớn các
sản phẩm là không đồng nhất. Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại,
nhiều chất lợng... Sản phẩm tơng tự có thể đợc bán ra với các nhãn hiệu khác
nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau, mặc dù sự khác
biệt giữa các sản phẩm không đáng kể (sự khác biệt mang ý nghĩa quan niệm,
tâm lý là chính); các điều kiện mua bán hàng cũng là khác nhau. Ngời bán có thể
Cạnh tranh bằng giá cả
Mặc dù, theo lý thuyết kinh tế, giá cả đợc hình thành bởi sự gặp gỡ của cung
và cầu, nhng doanh nghiệp hoàn toàn có thể định giá cho sản phẩm của mình tuỳ
theo mục đích kinh doanh cụ thể, chỉ cần mức giá đó bù đắp đợc chi phí sản xuất
và phải có lãi. Do vậy, doanh nghiệp có thể chọn giá cả làm công cụ cạnh tranh
của mình. Trong thơng mại nói chung và thơng mại quốc tế nói riêng - để giành
phần thắng trong cuộc chạy đua kinh tế thì các doanh nghiệp thờng đa ra một
mức giá thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm lôi cuốn khách hàng, qua
đó tiêu thụ nhiều hơn hàng hoá và dịch vụ. Các đối thủ cũng hoàn toàn có thể
phản ứng lại bằng cách hạ giá thấp hơn. Phơng thức cạnh tranh này khi đã trở nên
gay gắt thì nó sẽ biến thành cuộc chiến tranh về giá cả giữa các doanh nghiệp.
Cạnh tranh bằng chất lợng
Khi thu nhập và đời sống của dân c ngày càng cao thì phơng thức cạnh tranh
bằng giá cả xem ra không có hiệu quả. Chất lợng của sản phẩm và dịch vụ sẽ là
mối quan tâm của khách hàng, nên nếu nh hàng hoá có chất lợng thấp thì dù có
bán giá rẻ cũng không thể tiêu thụ đợc. Để nâng cao khả năng cạnh tranh bằng
hàng hoá và dịch vụ, doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải nâng cao
chất lợng sản phẩm và dịch vụ. Chất lợng đợc thể hiện qua nhiều yếu tố của sản
phẩm, nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện phát triển mọi yếu tố chất lợng thì
vẫn có thể đi sâu khai thác thế mạnh một hoặc một vài yếu tố nào đó.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật cũng nh sự
bành trớng của các công ty đa quốc gia, thì vấn đề cạnh tranh bằng chất lợng
càng trở nên gay gắt khi các sản phẩm đa ra thị trờng đều đảm bảo chất lợng cao.
Chính vì vậy, đối với các quốc gia có trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế sẽ rất
khó có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Cạnh tranh bằng dịch vụ
Ngoài phơng thức cạnh tranh bằng giá cả, cạnh tranh bằng chất lợng thì trên
thực tế các doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ. Đây là phơng
thức cạnh tranh hết sức phổ biến trên thị trờng quốc tế - đó có thể là dịch vụ trớc
khi bán, dịch vụ bán hàng tận nơi cho khách, dịch vụ sau khi bán... Các phơng
Trớc đây, các nhà kinh tế thờng nhấn mạnh một nhân tố nào đó liên quan đến chi
phí hoặc khác biệt hoá sản phẩm, nhng ngày nay ngời ta thờng chấp nhận lợi thế
cạnh tranh là kết quả của đa nhân tố.
Yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh
7
Lợi nhuận Doanh thu - Tổng chi phí Tổng chi phí
= = = 1 -
Doanh thu Doanh thu Doanh thu
(CP đ/vị SP * tổng khối lượng SP) Chi phí đ/vị SP
= 1 - = 1 -
Giá đ/vị SP * tổng khối lượng SP Giá đ/vị SP
Bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh bao gồm : Hiệu quả - Chất lợng - Đổi
mới - Nhạy cảm với khách hàng. Đây là các yếu tố chung xây dựng nên lợi thế
cạnh tranh, chúng biểu thị 4 cách cơ bản để giảm chi phí và đa dạng hoá mà bất
kỳ một doanh nghiệp ở một ngành nào sản xuất một sản phẩm hoặc một dịch vụ
nào cũng có thể áp dụng.
Hiệu quả : là đại lợng đợc đo bằng chi phí đầu vào cần thiết để sản xuất một
loại sản phẩm. Tăng hiệu quả có nghĩa là sẽ tạo ra thêm đợc một khối lợng sản
phẩm đầu ra nhiều hơn từ khối lợng đầu vào đã định. Trong hai yếu tố đầu vào cơ
bản, việc tăng hiệu quả sử dụng vốn thờng khó hơn nhiều so với việc tăng năng
suất lao động. Vì thế, nếu không tính đến các yếu tố khác thì doanh nghiệp có
năng suất lao động cao nhất sẽ là doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, do đó sẽ
đạt đợc chi phí thấp nhất.
Chất lợng : Sản phẩm có chất lợng là sản phẩm đáng tin cậy trong việc thực
hiện tốt các chức năng, công tác và công việc theo thiết kế. Sản phẩm có chất l-
ợng cao có tác dụng kép trong việc tạo lợi thế cạnh tranh. Thứ nhất, cung cấp các
sản phẩm có chất lợng cao thoả mãn nhu cầu và tạo ra tiếng tăm cho nhãn hiệu
hàng hoá. Thứ hai, có ảnh hởng tích cực đến việc tăng năng suất - chất lợng càng
cao thì càng tiết kiệm đợc chi phí và thời gian làm lại sản phẩm hỏng hóc.
phải có hoặc nguồn lực độc đáo và kỹ năng cần thiết để khai thác nguồn lực đó,
hoặc một khả năng quản lý hữu hiệu để quản lý các nguồn lực chung.
Tuy nhiên, khi đã có đợc lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ duy trì đợc lợi
thế trong bao lâu, nói cách khác là khi nào các đối thủ cạnh tranh cũng đạt đợc
lợi thế đó. Điều này phụ thuộc vào 3 yếu tố : độ cao của rào cản bắt chớc, khả
năng đổi mới của đối thủ cạnh tranh và sự vận động tổng thể của môi trờng
ngành.
Thờng thì nguồn lực dễ bị sao chép hơn là các kỹ năng, năng lực dựa trên cơ
sở hữu hình thờng dễ bị bắt chớc hơn các năng lực dựa trên cơ sở vô hình. Do đó,
để duy trì đợc lâu lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải tích cực nâng cao trình
độ quản lý, nâng cao uy tín của doanh nghiệp, giữ vững các bí quyết công nghệ
và chiến lợc marketing.
Khi một doanh nghiệp thực hiện một chiến lợc tức là ký một cam kết dài hạn
dựa trên cơ sở những nguồn lực và năng lực nhất định. Nh vậy, một khi các đối
thủ cạnh tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phơng thức kinh doanh
nào đó, thì các đối thủ này cũng chậm trong việc sao chép lợi thế cạnh tranh của
một doanh nghiệp đợc đổi mới.
Sự vận động tổng thể của môi trờng ngành thể hiện ở mức độ năng động của
ngành. Những ngành năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm
nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh
tranh là rất nhiều và môi trờng luôn năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do
đó lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên nhất thời.
1.1.2.2. Chiến lợc cạnh tranh
Sau khi tìm hiểu lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải phân tích, đánh giá và
lựa chọn chiến lợc cạnh tranh thích hợp, tuỳ từng hoàn cảnh và từng điều kiện cụ
thể. Sự phù hợp của một chiến lợc cạnh tranh có thể đợc xác định thông qua việc
9
kiểm tra tính nhất quán của các mục tiêu và chính sách đã đề xuất, sự phù hợp
với nguồn lực, với môi trờng, cùng khả năng khai thác, sử dụng và truyền đạt
Những mong muốn xã
hội rộng lớn hơn (chính
sách, mối quan tâm của
xã hội, những thay đổi
tập quán...)
Cơ hội và những mối đe
doạ của ngành (về kinh
tế và kỹ thuật)
Điểm mạnh và
điểm yếu của
doanh nghiệp
Mục tiêu
chiến lược
cạnh tranh
Nhân tố bên ngoài
doanh nghiệp
định, hoặc phải có những thuận lợi trong sản xuất và quản lý nguyên vật liệu.
Phân đoạn thị trờng thấp, hay có nhóm khách hàng ổn định sẽ giúp doanh nghiệp
tránh những khoản tăng lớn về chi phí đầu t nghiên cứu thị trờng, nhu cầu tiêu
dùng, đổi mới và thích nghi hoá sản phẩm...
Tuy nhiên, vì nhấn mạnh chi phí nên sản phẩm của doanh nghiệp thờng
không có mức độ khác biệt hoá cao, nó chỉ có thể không quá chênh lệch so với
mức của ngời khác biệt hoá. Do đó, chất lợng của sản phẩm thờng ở mức độ
trung bình, nhằm thoả mãn những nhu cầu tiêu dùng bình dân - nên chi phí thấp
chỉ có u thế cạnh tranh khi sản phẩm của doanh nghiệp đợc khách hàng chấp
nhận.
Trong môi trờng quốc tế, cần đánh giá chiến lợc này theo 2 phơng diện : ph-
ơng diện marketing và phơng diện sản xuất. Về phơng diện marketing, việc mở
rộng các thị trờng mới sẽ cho phép tăng cầu tiềm năng và đạt đợc mức sản xuất
Chiến lợc này chủ yếu định hớng phục vụ nhu cầu của một nhóm hữu hạn ng-
ời tiêu dùng hoặc một mảng thị trờng, dựa trên lợi thế cạnh tranh là tập trung các
nguồn lực cho phép phát huy tối đa năng lực của doanh nghiệp nhỏ để cạnh tranh
với các đối thủ có u thế. Chiến lợc này tạo cơ hội cho nhà kinh doanh tìm cách
lấp đầy khoảng trống nhu cầu cần thiết của khách hàng. Về bản chất, chiến lợc
tập trung hoá là chiến lợc cạnh tranh theo đuổi một khả năng riêng biệt nào đó
(hiệu quả, chất lợng, đổi mới, tính thích nghi với khách hàng) dựa trên một loạt
lợi thế chi phí thấp hoặc khác biệt hoá sản phẩm, hoặc cả hai.
Khi doanh nghiệp tấn công thị trờng thế giới, điều quan trọng trớc tiên là phải
tiến hành phân đoạn thị trờng để tìm kiếm thị trờng thích hợp - là thị trờng mà
doanh nghiệp có mức độ làm chủ hoàn toàn, để có thể tránh sự cạnh tranh bởi
doanh nghiệp dẫn đầu về chi phí hoặc doanh nghiệp khác biệt hoá. Về phơng
diện sản xuất, chiến lợc trọng tâm hoá vẫn theo đuổi logic chi phí tối thiểu. Ràng
buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ vững hình ảnh chuyên môn hoá và
hình ảnh nhãn hiệu của doanh nghiệp ở nớc ngoài.
Sau đây là những đúc kết của Micheal Porter về các yêu cầu phổ biến
liên quan đến các chiến lợc.
Chiến lợc Những yêu cầu chung về kỹ năng và
nguồn lực
Những yêu cầu chung về tổ chức
Chiến lợc
nhấn
mạnh chi
phí
-Đầu t vốn lâu dài và khả năng để có
vốn.
-Kỹ năng chế tạo, thiết kế.
-Tinh thần nhiệt tình của ngời lao động.
-Các sản phẩm đợc thiết kế dễ dàng cho
-Kiểm tra chặt chẽ chi phí.
kỹ thuật cao, các nhà khoa học, hoặc
những ngời có khả năng sáng tạo.
Chiến lợc
trọng tâm
hoá
Sự kết hợp giữa các yêu cầu trên hớng vào thị trờng cụ thể.
1.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của
sản phẩm
Vai trò của cạnh tranh trong thơng mại quốc tế
Việc khuyến khích và thúc đẩy một môi trờng cạnh tranh lành mạnh luôn là
vấn đề cần u tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế, thơng mại của các quốc
gia trên toàn thế giới. Lý luận kinh tế học đã chỉ rõ, cạnh tranh trong thơng mại
quốc tế nếu bị hạn chế sẽ gây lãng phí rất nhiều nguồn lực của nền kinh tế thế
giới. Hạn chế cạnh tranh là làm giảm tính năng động, sáng tạo của mỗi con ngời
cũng nh của toàn xã hội, nền sản xuất xã hội sẽ không còn có hiệu quả. Do đó,
cạnh tranh là một hiện tợng tự nhiên, là quy luật phổ biến của nền kinh tế thị tr-
ờng.
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế : thay thế ngời thiếu
khả năng bằng ngời có đầu óc, thay thế doanh nghiệp lãng phí các nguồn lực xã
hội bằng các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn, thay thế sự đáp ứng nhu cầu
xã hội không đầy đủ bằng sự đáp ứng ngày một tốt hơn. Mức độ cạnh tranh là sự
phản ánh rõ nét nhất về trình độ của một nền kinh tế nói riêng và nền kinh tế thế
giới nói chung.
Cạnh tranh trong kinh doanh quốc tế đợc định nghĩa là sự đua tranh giữa các
doanh nghiệp trên thị trờng quốc tế nhằm giành u thế trên cùng một loại sản
phẩm hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. Trong thơng mại nói chung
và trong thơng mại quốc tế nói riêng, cạnh tranh giữ vai trò làm cho giá cả hàng
hoá giảm xuống, chất lợng hàng hoá, dịch vụ ngày càng nâng cao. Chính vì vậy,
cạnh tranh trong thơng mại quốc tế là động lực phát triển nền kinh tế thế giới.
lý và một cách có hiệu quả chiến lợc cạnh tranh.
1.2 . Các nhân tố ảnh hởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm
1.2.1. Môi trờng kinh doanh
Theo Micheal Porter, chiến lợc cạnh tranh đợc xây dựng qua câu trả lời các
câu hỏi sau :
- Doanh nghiệp hiện đang làm gì ?
- Những gì đang diễn ra trong môi trờng hoạt động ?
14
- Doanh nghiệp nên làm gì
Nh vậy, việc nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hởng của môi trờng kinh
doanh có tác dụng trực tiếp tới hoạt động hoạch định chiến lợc kinh doanh nói
chung và chiến lợc cạnh tranh nói riêng.
Môi trờng kinh doanh là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh
nghiệp, có tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động của doanh nghiệp,
buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh linh hoạt mục đích, hình thức, biện pháp và
chức năng hoạt động của mình cho phù hợp, nhằm tận dụng đợc tối đa cơ hội,
giảm tối thiểu thách thức, đạt lợi nhuận cao nhất có thể. Môi trờng kinh doanh là
tất cả những vấn đề hiện hữu trong nền kinh tế thị trờng, nên có ảnh hởng rất lớn
tới sức cạnh tranh của sản phẩm. Điều này càng có ý nghĩa khi doanh nghiệp
kinh doanh trên thị trờng quốc tế. Các vấn đề chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý
tiêu dùng ở các nớc là khác nhau. Doanh nghiệp không thể áp đặt t tởng kinh
doanh của mình cho thị trờng nớc ngoài, mà phải biết chấp nhận nhng không thụ
động hiện trạng của từng môi trờng. Thứ nhất, nếu doanh nghiệp không tuân theo
sự vận động của môi trờng chính trị, luật pháp, văn hoá, cạnh tranh... tức là đi ng-
ợc lại xu hớng vận động chung, thì sản phẩm của doanh nghiệp chỉ tồn tại một
cách vô nghĩa giữa thị trờng. Thứ hai, dựa vào các kết quả phân tích, đánh giá
môi trờng kinh doanh, doanh nghiệp có thể tìm ra khả năng cạnh tranh mới của
sản phẩm, bởi mọi sự thích hợp chỉ mang tính nhất thời và điểm mạnh, điểm yếu
của sản phẩm là khác nhau qua thời gian.
có tổ chức đa quốc gia, xuyên quốc gia... dựa trên những điểm khác nhau trong
quan niệm sản xuất kinh doanh, nguồn lực, công nghệ và kỹ thuật sản xuất.
1.2.1.2. Phân tích môi trờng vi mô - Mô hình 5 sức mạnh của Michael
Porter
So với môi trờng vĩ mô, môi trờng vi mô có phạm vi nhỏ hơn nhng lại có
ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, việc phân tích môi
trờng này mang tính quyết định cho sự phù hợp của chiến lợc cạnh tranh mà
doanh nghiệp sử dụng.
Mô hình 5 sức mạnh của Michael Porter là một mô hình đợc nhiều nhà
phân tích vận dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc
một ngành công nghiệp. Hiện trạng của cuộc cạnh tranh trong ngành phụ thuộc
vào 5 lực lợng cạnh tranh cơ bản , đợc biểu diễn bởi mô hình sau :
16
Các đối thủ
tiềm năng
Các đối thủ cạnh
tranh trong ngành
Cuộc cạnh tranh giữa các
đối thủ hiện tại
Sản phẩm
thay thế
Người
cung ứng
Người
mua
Nguy cơ đe dọa từ những
người mới vào cuộc
Nguy cơ đe đọa từ các sản
phẩm và dịch vụ thay thế
Quyền lực
liệu. Khi doanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà
cung ứng quốc tế có vị trí càng quan trọng. Mặc dù, có thể có sự cạnh tranh giữa
các nhà cung ứng và doanh nghiệp có quyền lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất, thì
quyền lực thơng lợng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể. Trong
mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trớc khả năng tăng cao
chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải biến
đợc quyền lực thơng lợng của ngời cung ứng trở thành quyền lực của mình.
Quyền lực thơng lợng của ngời mua
17
Ngời mua có quyền lực thơng lợng với doanh nghiệp (ngời bán) thông qua
sức ép giảm giá, giảm khối lợng hàng mua từ doanh nghiệp, hoặc đa ra yêu cầu
chất lợng phải tốt hơn với cùng một mức giá ...
Các nhân tố tạo nên quyền lực thơng lợng của ngời mua gồm : khối lợng mua
lớn, sự đe doạ của quá trình liên kết những ngời mua khi tiến hành thơng lợng với
doanh nghiệp, do sự tập trung lớn của ngời mua đối với các sản phẩm cha đợc dị
biệt hoá hoặc các dịch vụ...
Quyền lực thơng lợng của ngời mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không nắm
bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trờng, hoặc khi doanh nghiệp thiếu
khá nhiều thông tin về thị trờng (đầu vào và đầu ra). Các doanh nghiệp khác sẽ
tìm cách lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp, để tung ra thị trờng những sản
phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăng hơn và bằng những phơng thức dịch
vụ độc đáo hơn.
Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế
Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu hớng
sử dụng sản phẩm, dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị tr-
ờng của doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh đa ra thị trờng những sản phẩm
thay thế có khả năng khác biệt hoá cao độ so với sản phẩm của doanh nghiệp,
hoặc tạo các điều kiện u đãi hơn về dịch vụ hay các điều kiện về tài chính.
Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp, thì mối đe
nhanh chóng chiếm lĩnh thị trờng, đa nhanh ra thị trờng những sản phẩm mới
chất lợng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp ...
1.2.2. Chiến lợc Marketing và chiến lợc thị trờng quốc tế
Với định nghĩa thị trờng quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp khách hàng
tiềm năng của doanh nghiệp đó thì trớc hết và quan trọng nhất là doanh nghiệp
phải nắm đợc tập hợp khách hàng nớc ngoài đó cần sản phẩm gì, cần bao nhiêu
và cần nh thế nào. Doanh nghiệp không chỉ cần nghiên cứu thị trờng hiện tại của
mình mà còn phải tìm hiểu thị trờng của đối thủ cạnh tranh, để có thể tìm ra các
biện pháp từng bớc chiếm lĩnh thị trờng đó. Đó là mục đích sử dụng chiến lợc
Marketing và chiến lợc thị trờng trong việc khai thác lợi thế và nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm.
Sức hấp dẫn của thị trờng nớc ngoài chịu ảnh hởng quan trọng của mức độ
cạnh tranh trên thị trờng đó. Các nhà kinh doanh nớc ngoài thờng phải đối mặt
với các đối thủ cạnh tranh nội địa. Đối thủ cạnh tranh nội địa hoặc đợc hởng một
u thế rất thuận lợi do những hỗ trợ của chính phủ và tinh thần dân tộc của khách
hàng, hoặc ở thế bất lợi do sự bất tín nhiệm của khách hàng đối với uy tín của
doanh nghiệp, hoặc trở thành nạn nhân của thói chuộng hàng ngoại. Loại đối thủ
thứ hai là các doanh nghiệp nớc ngoài khác cũng đang hoạt động trên thị trờng
đó. Nhà kinh doanh không thể chờ đợi ở họ một thái độ hợp tác hay những phản
ứng thụ động, mà ngợc lại doanh nghiệp phải đối phó với mọi biện pháp tinh vi,
trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm giành lợi thế về nguồn lực trong cạnh tranh.
Tuy sức cạnh tranh của sản phẩm là tính trừu tợng, có thể thay đổi theo thời
gian, nhng nó không thể nằm ngoài các định hớng, mục tiêu của doanh nghiệp.
Mục tiêu đề ra của doanh nghiệp không chỉ là tăng lợi nhuận mà còn phải tìm
19
một chỗ đứng thích hợp nhng vững chắc trong thị trờng. Nhng làm thế nào để
doanh nghiệp có tuổi thọ cao trong khi càng ngày càng có nhiều đối thủ cạnh
tranh trẻ hơn, mạnh hơn, năng động hơn và đợc sự hỗ trợ rất nhiều của khoa học
công nghệ hiện đại ? Để có đợc kết quả khả quan trong quá trình kinh doanh thì
nghiệp đôi khi có đợc khả năng điều chỉnh giá... , nên trên thị trờng này tập hợp
khá đầy đủ các hình thức và phơng thức cạnh tranh. Chính vì vậy, doanh nghiệp
20
phải luôn phân tích, đánh giá và dự báo các xu hớng thay đổi của thị trờng và của
các đối thủ cạnh tranh, để có thể đề ra các cách thức đối phó nhằm nâng cao hiệu
quả chiến lợc cạnh tranh của mình. Hơn nữa, tính cạnh tranh của sản phẩm may
mặc cũng khá cao do đây là sản phẩm nằm trong số những mặt hàng đợc bảo hộ
chặt chẽ. Trớc khi có Hiệp định về hàng dệt may - kết quả quan trọng của Vòng
đàm phán Uruguay - việc buôn bán các sản phẩm may mặc đợc điều chỉnh theo
những thể chế thơng mại đặc biệt, mà nhờ đó phần lớn các nớc nhập khẩu thiết
lập các hạn chế số lợng (quy định hạn ngạch) hàng may nhập khẩu. Mức thuế
phổ biến đánh vào hàng may và hàng dệt lại cao hơn so với các hàng hoá công
nghiệp khác. Ngoài ra, từng nớc nhập khẩu còn đề ra những điều kiện hạn chế
nhất định đối với hàng may nhập khẩu. Tất cả những hàng rào đó ảnh hởng rất
lớn đến sản xuất và buôn bán hàng may mặc trên thế giới.
1.3.2. Các thị trờng may mặc trong khu vực và trên thế giới hiện nay
Sự phát triển của ngành may mặc thờng gắn liền với quá trình phát triển của
nền kinh tế nhiều quốc gia. Đây là ngành công nghiệp tạo đợc nhiều công ăn việc
làm, tăng thu lợi nhuận, góp phần tạo tiền đề phát triển cho các ngành công
nghiệp khác. Châu á, Tây Âu và Bắc Mỹ là ba trung tâm buôn bán chính về hàng
may mặc, chiếm khoảng 80 - 90% kim ngạch xuất nhập khẩu của thế giới. Các n-
ớc xuất khẩu lớn cũng đồng thời là những nớc nhập khẩu lớn là Trung Quốc,
Hồng Kông, Đức, Italia, Bỉ, Pháp, Mỹ... Một số nớc chủ yếu xuất khẩu nh Thổ
Nhĩ Kỳ, ấn Độ... Một số nớc chủ yếu nhập khẩu nh Canađa, Nhật Bản, Tây Ban
Nha...
Một số thị trờng may mặc lớn trên thế giới
Khu vực Châu á
Tỷ trọng sản lợng hàng may mặc của khu vực Châu á chiếm từ 60 - 70% so
với toàn thế giới. Trong đó, các thị trờng may mặc lớn của Châu á gồm Nhật
nghiệp may mặc chủ yếu vẫn dựa vào khả năng sản xuất các sản phẩm có giá trị
gia tăng cao hơn và khai thác các thị trờng mới.
Thị trờng EU
Trong những năm gần đây, kim ngạch XK hàng may mặc của EU khoảng 60
tỷ USD, kim ngạch NK khoảng 75 tỷ USD. Phần lớn hàng may mặc đợc xuất
khẩu sang các nớc công nghiệp hoá không có Hiệp định về hàng dệt may với EU,
một phần nhỏ hơn đợc xuất khẩu sang các nớc Đông Âu và các nớc thuộc Liên
Xô cũ. Về nhập khẩu, hoạt động trao đổi trong nội bộ EU đã chiếm một tỷ trọng
khá lớn, kim ngạch NK hàng may mặc nội trong EU chiếm 45%, ngoài ra là
nhập khẩu từ các nớc Châu á (khoảng 6 tỷ USD). Tuy nhiên cơ cấu thị trờng
nhập khẩu đang có xu hớng thay đổi, giảm nguồn hàng từ Châu á nhng tăng lên
từ các nớc Trung Đông Âu, Bắc Mỹ và Châu Phi.
Chi phí lao động của các nớc EU tuy cao hơn so với các nớc ở khu vực khác,
nhng sức cạnh tranh của sản phẩm không vì thế mà giảm ở một số thị trờng
chính. Quần áo đợc sản xuất ở các nớc EU đợc a chuộng bởi cách sử dụng màu
sắc phong phú nhng đợc kết hợp khéo léo, tế nhị. Sản phẩm thờng là sản phẩm
cao cấp với các nhãn mác nổi tiếng.
22
Những năm gần đây, do tăng cờng hình thức đặt may gia công từ bên ngoài,
nên nhập khẩu hàng gia công của các nớc thuộc EU đang ngày càng tăng. Đức và
Italia là hai nớc đứng đầu với tỷ trọng nhập khẩu hàng may gia công.
Thị trờng Bắc Mỹ
Các nớc Bắc Mỹ là những nhà nhập khẩu hàng may mặc lớn. Riêng 2 nớc
Bắc Mỹ (Mỹ, Canađa) chiếm gần 30% khối lợng nhập khẩu của thế giới.
Mỹ đang là quốc gia đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng may mặc và chiếm
tỷ trọng ngày càng cao trong trị giá nhập khẩu của thế giới. Kim ngạch NK
chỉnh sai sót ngay cũng nh thay đổi mã hàng nhanh. Số máy chuyên dùng cũng
tăng lên đáng kể, nh máy vắt 5 chỉ, máy thùa đính, bàn là treo, bàn là hơi có đệm
hút chân không ; khâu hoàn tất đợc trang bị các thiết bị là, đóng túi, súng bắn
nhãn... Công nghệ tin học cũng đã đợc đa vào một số khâu sản xuất.
Ưu, nhợc điểm của hàng may mặc Việt Nam
Ưu thế của sản phẩm may xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam so với
nhiều nớc đang phát triển khác là chất lợng cao và thời hạn giao hàng đúng.
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhất là sau năm 2005 các hàng
rào phi thuế quan đợc dỡ bỏ, các biện pháp cạnh tranh phi giá cả, nhất là cạnh
tranh bằng chất lợng, sẽ trở thành những yếu tố quyết định trong cạnh tranh.
Tuy nhiên, ở các doanh nghiệp may vẫn phải dùng nhiều thao tác thủ công
nên năng suất của ngành may Việt Nam khá thấp so với nhiều nớc. Công nghệ và
thiết bị chuyên dụng còn lạc hậu so với thế giới. Một số mặt hàng dày (nh áo
khoác dạ) cha có máy chuyên dụng nên cha sản xuất đợc mặc dù khách hàng vẫn
có nhu cầu. Mẫu mã và chủng loại hàng may thiếu đa dạng và kém hấp dẫn do
khâu thiết kế, tạo mode còn yếu. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là may gia công
hoặc theo mẫu đặt hàng của nớc ngoài. Sản phẩm với nhãn mác, tên tuổi của Việt
Nam đến nay vẫn vắng bóng trên thị trờng quốc tế - đây chính là điều bất lợi
lớn cho hàng may mặc Việt Nam khi phải xuất khẩu hàng gắn tên của doanh
nghiệp trung gian nớc ngoài.
1.3.3.2. Các thị trờng xuất khẩu chủ yếu của hàng may mặc Việt Nam
Hàng may mặc của Việt Nam đợc xuất khẩu chủ yếu sang một số thị trờng
nh EU, Nhật Bản, ASEAN. Hiện nay ngành may mặc đang tìm cách để thâm
nhập vào thị trờng Mỹ, tìm lại chỗ đứng trên thị trờng Nga và các nớc Đông Âu.
Thị trờng xuất khẩu của Việt Nam đợc chia làm thị trờng hạn ngạch và thị trờng
phi hạn ngạch.
Các nớc EU là thị trờng xuất khẩu may mặc theo hạn ngạch lớn nhất của Việt
Nam. Hoạt động xuất khẩu đặc biệt phát triển mạnh từ sau Hiệp định buôn bán
hàng dệt - may giữa Việt Nam với EU đợc ký kết năm 1992 và đợc thực hiện từ
tìm mọi cách mở rộng khả năng xuất khẩu sang các thị trờng có nhiều triển vọng
phát triển trong tơng lai, nh Nam Mỹ, Trung Đông và Châu Phi. Nhu cầu tiêu
dùng sản phẩm may mặc hàng năm ở các thị trờng này là khá cao do có số dân
lớn. Tuy nhiên, đây là những thị trờng có mức thuế quan nhập khẩu thấp, không
quy định hạn ngạch, nên sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp may mặc của các quốc
gia khác tham gia và mức độ cạnh tranh có thể sẽ cao. Điều quan trọng khi tham
gia các thị trờng này, các doanh nghiệp may Việt Nam phải xác định đây là dạng
thị trờng bình dân, có sức tiêu thụ lớn về số lợng nhng không cầu kỳ về chất lợng
và mẫu mã nh các thị trờng EU, hay Bắc Mỹ...
25