Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản dựa trên mô hình kim cương của M.Porter - Pdf 10

20
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
I. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia (Michael Porter) 4
II. Các lợi thế cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản 5
1.Điều kiện yếu tố sản xuất 5
1.1. Nguồn nhân lực 5
1.2. Cơ sở hạ tầng 6
(http://www.stat.go.jp/english/data/index.htm) 7
1.3. Khoa học công nghệ 7
2. Điều kiện yếu tố về cầu 9
(Nguồn: Motor Vehicle Statistics of Japan 2011 - JAMA ) 10
Bảng trên đã cho thấy những mức tăng đột biến của xe hơi trong những năm 1950 đến 1980. Sản
lượng sản xuất cũng như lượng xe được sử dụng trong nước và xuất khẩu tăng rất nhanh chứng tỏ
tiềm năng về nhu cầu của mặt hàng này. Vì vậy hoàn toàn có thể khẳng định rằng các điều kiện về cầu
đã là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản vào
thời kỳ này 10
3. Các ngành hỗ trợ và liên quan 10
3.1. Số lượng lớn các ngành hỗ trợ 10
3.2. Sự liên kết chặt chẽ của các ngành 11
4. Chiến lược, cơ cấu, môi trường cạnh tranh 12
4.1. Chiếc lược 12
4.2. Cơ cấu ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản 14
4.3. Môi trường cạnh tranh 15
5. Chính phủ 16
5.1. Tác động tới điều kiện các yếu tố đầu vào sản xuất ô tô 17
5.2. Tác động tới nhu cầu ô tô trong nước 17
20
5.3. Tác động đến chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành 17
5.4. Tác động tới các ngành công nghiệp hỗ trợ, có liên quan 18
6. Những cơ hội cho sự phát triển 19

sản phẩm. Theo đó, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu
tố. Các nhóm yếu tố đó bao gồm (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện về cầu, (3)
các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan, (4) chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh
của ngành. Hai yếu tố khác là Chính phủ và Cơ hội cũng tác động đến 4 yếu tố cơ bản trên.
Mối liên kết của 4 nhóm cơ bản trên tạo thành mô hình kim cương, hàm ý khả năng chịu
đựng rất cao của một quốc gia trước môi trường cạnh tranh gay gắt.
Hình 1. Khối kim c
Hình 1. Khối kim cương của M.Porter
(Giáo trình Kinh tế ngoại thương, 2007)
Chiến lược cơ cấu và môi trường
cạnh tranh ngành
Điều kiện các yếu tố sản
xuất
Điều kiện về cầu
Các ngành hỗ trợ
và có liên quan
Chính phủ
Cơ hội
20
II. Các lợi thế cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản
1.Điều kiện yếu tố sản xuất
1.1. Nguồn nhân lực
Với lực lượng lao động có tinh thần kỉ luật cao và cần cù bậc nhất thế giới, nguồn
nhân lực thực sự là một lợi thế cạnh tranh rất lớn của Nhật Bản.
Dân số Nhật Bản năm 2010 là 126,804 triệu người, xếp thứ 10 trên thế giới cộng . Tỷ
lệ dân số trong độ tuổi lao động là 50%. Theo thống kê từ Hiệp hội ô tô Nhật Bản (JAMA)
năm 2009 thì riêng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ô tô và các ngành liên
quan đến công nghiệp ô tô là 5,15 triệu người, chiếm 8% tổng lực lượng lao động của nước
này.
Lợi thế nguồn nhân lực của Nhật Bản không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn được thể

Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của một quốc
gia là cơ sở hạ tầng. Theo Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2010 - 2011 thì
tiêu chí về cơ sở hạ tầng của Nhật Bản xếp thứ 15 thế giới trong tổng số 139 nước được điều
tra.
Ngay từ thời Minh Trị, hạ tầng cơ sở của Nhật Bản đã được chú ý đầu tư xây dựng
và khá phát triển. Trong những năm đầu thế kỷ 20, tổng chiều dài của hệ thống đường sá
của Nhật Bản đã tăng lên gần ba lần, từ hơn 274 nghìn km năm 1899 lên tới gần 950 nghìn
km vào năm 1930.
Không chỉ tăng cường nâng cấp, mở rộng hệ thống đường sá mà chính phủ Nhật Bản
còn tích cực đầu tư vào xây dựng các công trình cơ bản trong những ngành công nghiệp
then chốt để phát triển hoàn thiện hơn hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của tất cả các ngành kinh tế khác. Điều này được thể hiện rõ qua bảng số liệu
dưới đây:
20
Bảng 2: Đầu tư cho xây dựng cơ bản
Đơn vị: 100 triệu Yên
Năm Tổng
đầu tư
Đầu tư hạ tầng cơ bản
Hầm mỏ
và chế tạo
Đường

Cảng biển,
sân bay
Đường
sắt
Điện tín,
điện thoại
Điện

R&D / Doanh
thu
(%)
Toàn
ngành
1970 11,286 6,411 251,531 628.3 1.26
1980 18,058 6,642 331,897 2,664 1.55
1990 14,704 6,597 530,985 8,234 2.72
2000 19,353 6,415 606,965 10,630 3.09
2005 24,290 5,942 587,414 11,867 3.22
Ngành
công
nghiệp
ô tô
1970 221 321 20,231 57.6 1.71
1980 328 439 38,990 373.4 2.51
1990 359 535 60,299 1,087 3.48
2000 571 527 67,297 1,335 4.12
2005 340 497 71,599 1,879 4.80
(http://www.stat.go.jp/english/data/index.htm)
Qua bảng trên ta có thể thấy hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) ngày càng
được đặc biệt quan tâm khi mà chi phí các công ty của Nhật Bản dành cho hoạt động này
chiếm trung bình hơn 2.5% doanh thu và có xu hướng tăng dần qua các năm. Đặc biệt ở
trong ngành công nghiệp ô tô thì tỷ lệ này cao hơn rõ rệt (khoảng 3.5%), điều này càng
khẳng định rằng đây là một trong những ngành mũi nhọn của các ngành sản xuất của Nhật
Bản.
Bên cạnh sự chủ động của doanh nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ mới vào sản
xuất thì phía Chính phủ Nhật Bản cũng rất chú trọng tới việc đầu tư và khuyến khích phát
triển công nghệ. Ngay từ thời Minh Trị, vị Nhật hoàng này đã bắt tay với các nước phương
Tây trong nhiều lĩnh vực, giúp Nhật Bản học hỏi và nhập khẩu được những tiến bộ trong

Khi nhu cầu trong nước về cơ bản đã bão hòa, khả năng tạo lợi thuận trong nước
giảm và khó khăn hơn, lúc này các doanh nghiệp Nhật Bản lại tìm kiếm cơ hội về cầu tại thị
trường toàn cầu, rộng lớn và đa dạng hơn thị trường nội địa rất nhiều. Theo thống kê từ hiệp
hội các nhà sản xuất ô tô của Nhật Bản, doanh số ô tô nước này sản xuất và xuất khẩu ngày
càng tăng qua các năm.
Bảng 4: Số lượng xe sản xuất, sử dụng và xuất khẩu của Nhật Bản các năm
20
Đơn vị: chiếc
Năm Lượng sản xuất Xuất khẩu Sử dụng
1950 31,597 5,509 225,497
1960 481,551 38,809 1,353,526
1970 5,289,157 1,086,776 17,581,843
1980 11,042,884 5,966,961 37,856,174
1990 13,486,796 5,831,212 57,697,669
2000 10,144,847 4,454,887 72,649,099
2010 9,628,920 4,838,350 75,361,876
(Nguồn: Motor Vehicle Statistics of Japan 2011 - JAMA )
Bảng trên đã cho thấy những mức tăng đột biến của xe hơi trong những năm 1950
đến 1980. Sản lượng sản xuất cũng như lượng xe được sử dụng trong nước và xuất khẩu
tăng rất nhanh chứng tỏ tiềm năng về nhu cầu của mặt hàng này. Vì vậy hoàn toàn có thể
khẳng định rằng các điều kiện về cầu đã là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát
triển của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản vào thời kỳ này.
3. Các ngành hỗ trợ và liên quan
Theo thống kê của Bộ CN và TM Nhật Bản (METI) thì trong thời kỳ tái thiết, các
ngành CN chế tạo nói chung và các ngành CN phụ trợ ô tô của Nhật Bản đều lớn mạnh với
tốc độ chưa từng thấy. Hầu hết đều đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm trên 10%, thậm chí
trên 20% như các ngành chế tạo máy và chế biến kim loại. Đây là con số mà Nhật Bản chưa
bao giờ biết đến trong lịch sử phát triển kinh tế của mình. Như vậy với mục tiêu là tập trung
phát triển ngành chế tạo máy, sự phát triển vượt bậc đó là cơ sở tốt đế phát triển ngành công
nghiệp ô tô.

định các nhà cung cấp cấp 1, các nhà cung cấp này lại phụ thuộc vào nhà cung cấp cấp 2.
Các nhà sản xuất xe hơi lớn hình thành các hiệp hội gọi là kyoryoku-kai (nhóm hợp
tác của các nhà cung cấp) tạo điều kiện trao đổi các chi tiết, quy cách kĩ thuật. Trong một số
trường hợp các nhà thầu phụ thiết lập một “lâu đài thị trấn” (jōkamachi), tập trung các nhà
cung cấp trong cùng một khu vực. Ví dụ trong năm 2008, quận Aichi, nơi Toyota đặt trụ sở
20
chính cũng đã trở thành trụ sở của bảy nhà cung cấp chính và 57 nhà máy sản xuất của họ
(Tạp chí Diamond hàng tuần số 57, năm 2009).
Trong những năm 70, các học giả nhận định các mối quan hệ nhà thầu phụ ổn định là
một ví dụ thành công về đối phó với các vấn đề của thông tin bất cân xứng và sự mất ổn
định trong mối quan hệ gia công bên ngoài nước. Lợi ích của việc chia sẻ kỹ năng quản lý
và các kiến thức chuyên môn cũng là một giá trị của mạng lưới các công ty liên kết.
Tuy nhiên từ giữa những năm 90, khi giá cả về lao động trên toàn cầu đã trở nên rẻ
hơn rất nhiều, cuộc cạnh tranh về công nghệ trở nên gay gắt hơn giữa các hãng sản xuất
đồng thời công suất trên toàn cầu đang có xu hướng dư thừa (hàng năm có khoảng 80 triệu
xe được sản xuất ra trong khi doanh số bán ra chỉ dừng lại ở 61 triệu chiếc), mối quan hệ
nhà thầu phụ trước đây đã suy yếu và đang dần thay đổi theo hướng sản xuất các bộ phận
riêng biệt. Khi đó, các nhà cung cấp cấp 1 thay vì sản xuất từng linh kiện sẽ phải cung cấp
cho nhà sản xuất ôtô những bộ phận hoàn chỉnh. Sự thay đổi này giúp giảm thời gian lắp
ráp, chi phí quản lý chất lượng cũng như chi phí lao động và hành chính từ đó giúp giảm giá
thành và tăng sức cạnh tranh. Khi vai trò của các nhà cung cấp cấp thấp trở nên mờ nhạt,
các keiretsu với quan hệ sở hữu cổ phần chính thức tan rã. Điều này đã dẫn tơi việc các
công ty ô tô có xu hướng chuyển sang tìm kiếm những nguồn cung tốt nhất, những nhà cung
cấp có giá cả cạnh tranh nhất trên toàn cầu trong hai thập niên gần đây.
4. Chiến lược, cơ cấu, môi trường cạnh tranh
4.1. Chiếc lược
Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 và sau đó một thời gian dài, ngành công nghiệp
ô tô của Nhật Bản còn khá sơ khai, chỉ tập trung vào sản xuất xe tải. Từ năm 1960 đến năm
1980, Nhật Bản coi tiêu thụ nội địa là yếu tố quan trọng nhất giúp phát triển ngành sản xuất
ô tô. Để thực hiện chiến lược này, Chính phủ Nhật Bản thực hiện mọi biện pháp nhằm bảo

4.2. Cơ cấu ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản
4.2.1. Cơ cấu sản lượng sản xuất ô tô theo chủng loại xe:
Ô tô Nhật Bản được chia thành 3 loại lớn là xe khách, xe buýt và xe tải. Trong đó, xe
buýt chiếm tỷ trọng nhỏ nhất chỉ xấp xỉ khoảng từ 1% – 2% do tàu điện ngầm mới là
phương tiện công cộng được người Nhật ưa thích. Xe khách luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất:
88.7% năm 2007, 85.8% năm 2008, 86.5% năm 2009 (theo JAMA). Đây là điều dễ hiểu vì
nhu cầu tiêu thụ xe khách là rất lớn. Riêng ở thị trường nội địa, ngay từ những năm 80, tỉ lệ
sở hữu xe hơi của các gia đình ở Nhật Bản là 65,8%, tức là cứ 3 gia đình thì có 2 xe hơi.
Thậm chí tới 14,6% các hộ gia đình có từ 2 xe hơtrở lên. Đến năm 1996, cứ 1000 người thì
có 386 xe hơi.
Nguồn :The motor industry of japan - 2010
3
Hình 3: Biểu đồ thể hiện cơ cấu sản lượng sản xuất ô tô theo chủng loại xe của Nhật Bản
4.2.2. Cơ cấu sản lượng ô tô theo các hãng sản xuất
Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của ngành công nghiệp ô tô
Nhật Bản là việc xây dựng được các công ty sản xuất ô tô cực lớn mạnh. Trong 10 hãng xe
sản xuất ô tô lớn nhất thế giới thì có tới 4 hãng có quê hương là của Nhật Bản: Toyota,
Nissan, Honda, Suzuki.
3
http://www.jama.org/pdf/MIJ2010.pdf
20
Nguồn: Motor Vehicle Statistics of Japan 2011 - JAMA
Hình 4: Biểu đồ thể hiện cơ cấu sản lượng ô tô theo hãng sản xuất năm 2010
Toyota là nhà sản xuất ô tô lớn nhất Nhật Bản và đồng thời là quán quân của ngành công
nghiệp ô tô thế giới. Theo báo cáo của tập đoàn, kết thúc năm 2010, bất chấp hàng loạt đợt
triệu hồi xe quy mô lớn, doanh số của Toyota tăng 8% lên tới 7.53 triệu xe.
4.3. Môi trường cạnh tranh
Thời đại của công nghệ ô tô thế giới bắt đầu khi Henry Ford áp dụng dây chuyền sản
xuất vào công đoạn lắp ráp ô tô vào năm 1914. Với lợi thế công nghệ mới, các nước tư bản
phương Tây hoàn toàn chiếm giữ thị trường ô tô thế giới, đặc biệt là hai tập đoàn Ford và

Bản phải liên doanh với các công ty nước ngoài để phát triển. Hiện tại chỉ còn Toyota và
Honda là còn độc lập tồn tại. Những năm cuối thế kỷ XX, Nhật Bản trở thành một nước
công nghiệp hiện đại. Lợi thế về chi phí sản xuất chuyển sang các nước công nghiệp mới.
Sự phát triển của các nước công nghiệp mới NIC, Hàn Quốc, Đài Loan đã tạo nên những
đối thủ mới cho nền công nghiệp ô tô Nhật Bản. Việc đầu tư hợp tác và mở chi nhánh lắp
ráp tại các nước đang phát triển, đồng thời chuyển một số dây chuyền sản xuất sang một số
nước châu Á đã giúp ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản luôn nằm trong top 3 của nền
công nghiệp ô tô thế giới (cả về số xe sản xuất nội địa, số xe theo thương hiệu cũng như số
xe tiêu thụ nội địa.)
5. Chính phủ
Chính phủ Nhật Bản đã tác động tới lợi thế cạnh tranh của ngành công nghiệp sản xuất
ô tô thông qua bốn nhóm nhân tố xác định lợi thế cạnh tranh như đã kể trên.
20
5.1. Tác động tới điều kiện các yếu tố đầu vào sản xuất ô tô
Thông qua việc hợp lý hoá Luật Xúc tiến Công nghiệp (tháng 3 năm 1952), ô tô đã
được chỉ định là ngành công nghiệp trọng điểm phải được hợp lý hóa. Các quy định của
pháp luật này đã tạo ra những lợi thế thuế và các khoản vay chính phủ với lãi suất thấp đối
với doanh nghiệp sản xuất ô tô Nhật Bản. Từ đó cắt giảm chi phí đầu vào. Trong khi đó,
hợp lý hóa của ngành công nghiệp phụ tùng ô tô cũng đang được thực hiện, thông qua việc
tạo ra các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) quy định trong năm 1951 và phụ cấp một
hệ thống công nghiệp đã được giới thiệu vào năm 1952. Những biện pháp này, cũng đã có
những đóng góp quan trọng để cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất ô tô
Nhật Bản. Do đó, các nhà sản xuất cho phép sản xuất xe hơi có khả năng cạnh tranh hơn.
Đối với Nhật Bản, các biện pháp đầu tiên về tự do hóa vốn đã được thực hiện trong
tháng 7 năm 1967, cho phép tự do hóa 50% vốn cho một số ngành công nghiệp và tự do hóa
100% cho một vài người khác, bao gồm cả xe máy. Biện pháp tự do hóa vốn tiếp theo được
thực hiện tháng 3 năm 1969 về cấp nhượng bộ giới hạn trong một số lĩnh vực của ngành
công nghiệp ô tô. Chính phủ Nhật Bản quyết định thực hiện bãi bỏ quy định 50% đầu tư
trong nước trong lĩnh vực ô tô, có hiệu lực từ tháng 10 năm 1971. Trong tháng 5 năm 1973,
trần đầu tư 50% đã được gỡ bỏ và 100% các khoản đầu tư được phép, đánh dấu việc đạt

quả của các cuộc thảo luận, các biện pháp mở rộng hợp tác đã được thực hiện để tăng tiếp
xúc giữa các nhà cung cấp phụ tùng ô tô và các nhà sản xuất Nhật.
Đối với dịch vụ hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô, kể từ tháng 1/1995, cả chính phủ lẫn
giới kinh doanh, các trường đại học và viện nghiên cứu ở Nhật Bản cùng nỗ lực xúc tiến dự
án tạo lập một xã hội giao thông đường sá xe cộ thông minh. 4 mục tiêu chính của dự án là
thúc đẩy nghiên cứu và phát triển hệ thống giao thông siêu việt ITS cùng các lĩnh vực liên
quan; trao đổi thông tin với châu Âu và Bắc Mỹ; đề ra các ứng dụng quan trọng cho hệ
thống ITS, và 3 năm một lần chủ trì Hội nghị ITS quốc tế tại khu vực châu Á-Thái Bình
Dương.
20
Việc xây dựng ngành công nghiệp ô tô càng nhanh càng tốt đã trở thành mục tiêu hàng
đầu của quốc gia. Bên cạnh đó, mức cầu về mặt hàng này ngày một tăng lên rõ rệt vì thế
trong nhiều năm đã chứng kiến cuộc cạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa các nhà sản xuất ô
tô. Có thể thấy, Chính phủ Nhật Bản, đi đầu là Bộ Công nghiệp và Ngoại thương đã tác
động đến cả hệ thống sản xuất, các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan cũng như yếu tố về
cầu và chiến lược, môi trường cạnh tranh của các công ty trong ngành để tạo lực đẩy mạnh
nhất cho ngành công nghiệp ô tô phát triển.
6. Những cơ hội cho sự phát triển
Cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ 20 có
thể được coi là một cơ hội tốt cho ngành công nghiệp ô tô non trẻ của Nhật Bản có dịp để
thực hiện sản xuất lớn và tiêu thụ sản phẩm. Nhu cầu tăng đột biến đã góp phần thay đổi,
nâng cao năng lực sản xuất của ngành công nghiệp này. Chỉ một năm sau khi cuộc chiến
xảy ra, những hợp đồng mua sắm đặc biệt của Mỹ với các ngành công nghiệp Nhật Bản đã
tăng lên đến con số 340 triệu đô la, trong đó có 22.7 triệu đô la dành cho hợp đồng cung cấp
xe tải và 7.64 triệu đô la với các hợp đồng phụ tùng ô tô.
Sau thế chiến II, Nhật Bản bị quân Đồng Minh, mà trực tiếp là quân đội Mỹ chiếm
đóng, lĩnh vực quốc phòng hoàn toàn do Mỹ nắm giữ, điều này đã tạo điều kiện cho nước
Nhật tập trung khôi phục và phát triển kinh tế. Khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra với sự tham
chiến của Trung Quốc, nước Mỹ với lực lượng chiến đấu chính là quân đội đóng tại Nhật
Bản, rất cần một hệ thống sản xuất tại chỗ có thể phục vụ trực tiếp cho chiến trường. Hiệp

hộ như của Nhật Bản ở những năm 50, 60 là không còn khả thi.
Thất bại trong chiến tranh, kinh tế Nhật Bản bị phá hoại nặng nề. Khi công nghệ sản
xuất oto dần được chuẩn hóa và được chuyển vào trong nước, các công ty Nhật Bản đã tập
trung sản xuất hạng xe trung bình để có thể cạnh tranh với các công ty phương Tây, vốn có
thế mạnh ở các dòng xe hạng sang. Các nước công nghiệp phát triển, khi đã mất lợi thế
công nghệ trong khi chi phí sản xuất lại cao hơn đã phải tập trung nhiều hơn vào dòng xe
hạng sang và dần đánh mất thị trường thu nhập thấp và trung bình. Kinh tế thế giới phát
triển mạnh trong giai đoạn đầu Chiến tranh lạnh, nhu cầu thế giới, đặc biệt là tầng lớp trung
lưu đối với các loại ô tô có giá cả phải chăng đã gia tăng mạnh mẽ. Với ưu thế chi phí thấp,
các doanh nghiệp đầu ngành như Toyota, Nissan, Tokyo Kogyo (nay là Mazda) lần lượt
20
tung ra các loại oto nhỏ, rẻ, tiết kiệm nhiên liệu và dần chiếm lĩnh thị trường thế giới. Bên
cạnh đó, các cty Nhật Bản cũng liên kết mạnh mẽ với các công ty ô tô lớn trên thế giới trong
việc lắp ráp các dòng xe hiện đại, từ đó nhập khẩu công nghệ và phát triển các dòng xe độc
lập có chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu quốc tế, các dòng xe hạng sang của Nhật Bản
được đưa ra thị trường thế giới và cạnh tranh mạnh mẽ với các tập đoàn phương Tây.
20
KẾT LUẬN
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy được rằng thành công mà ngành
công nghiệp ô tô Nhật Bản có được là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong mô hình kim
cương, nổi bật lên là vai trò của Chính phủ trong việc đưa ra những chính sách thích hợp tạo
ra một môi trường thuận lợi nhất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ nền sản xuất
cho doanh nghiệp trong nước.
Mối quan hệ tốt đẹp giữa giới kinh doanh tư nhân và Chính phủ trong xây dựng và
thực hiện các kế hoạch phát triển cũng là điểm đáng để cho chúng ta học tập.
Ngoài ra, việc đầu tư tập trung có định hướng chiến lược vào chuỗi sản xuất tạo ra sự
liên kết giữa các nhà sản xuất trong công nghiệp ô tô và các ngành hỗ trợ là những giải pháp
thích hợp cho các nước đang phát triển, đặc biệt đối với môi trường Việt Nam hiện nay .
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status