0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - VŨ THỊ LÝ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ
NHẬT BẢN: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số
: 60 31 07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN THIÊN
Hà Nội – 2012
Nhân tố khách quan
13
1.3
Các tiền đề để thực hiện chiến lược
21
1.3.1
Thực trạng phát triển ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản chiến
tranh thế giới thứ II…………………………………………………
21
1.3.2
Chính sách của chính phủ Nhật Bản ………………………………
29
CHƯƠNG 2: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô
TÔ NHẬT BẢN ………………………………………………………………
36
2.1
Dự báo và quan điểm phát triển ngành công nghiệp ô tô Nhật
Bản………………………………………………………………………
36
2.1.1
Dự báo nhu cầu chủng loại ô tô và thị trường……………………
36
2.2.4
Chiến lược quản trị doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
trong ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản…………………………
57
2.3
Các giải pháp để thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô
tô Nhật Bản………………………………………………………………
59
2.3.1
Về phía chính phủ Nhật Bản……………………………………….
59
2.3.2
Về phía các doanh nghiệp Nhật Bản………………………………
61
2.4
Đánh giá chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Nhật
Bản………………………………………………………………………
76
2.4.1
Những mặt thành công của chiến lược phát triển ngành công
nghiệp ô tô Nhật Bản……………………………………………….
76
Những kết quả đạt được…………………………………………
91
3.2.2
Tồn tại và nguyên nhân……………………………………
92
3.2.3
Những thách thức và cơ hội………………………………………
98
3.3
Một số kinh nghiệm của Nhật Bản đối với chiến lược phát triển
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam………………………………………
100
3.3.1
Phát triển công nghiệp phụ trợ……………………………………
100
3.3.2
Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng…………………………
102
3.3.3
Tập trung áp dụng các phương pháp quản lý doanh nghiệp và kiểm
soát chất lượng sản phẩm hiệu quả…………………………………
104
(1985-2010).
Phụ lục 7: Vốn đầu tư cho hoạt động R & D trong ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản (1980-
2011).
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Giải thích
1
ACFTA
Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc
2
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do Asean
3
AICO
Chương trình hợp tác công nghiệp Asean
4
AIJVs
Các liên doanh công nghiệp Asean
5
APEC
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
6
ASEAN
Bộ công nghiệp và công thương Nhật Bản
17
NAFTA
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
18
NXB
Nhà xuất bản
19
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
20
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
21
OPEC
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ
22
R & D
Nghiên cứu và triển khai
23
SAARC
Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á
24
TPP
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
25
VAMA
Hiệp hội doanh nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam
26
VER
2
Bảng 3.2
Biểu thuế nhập khẩu ôtô năm 2011 hiệu lực
ngày 1/1/2011.
90
3
Bảng 3.3
Bảng so sánh mục tiêu và thực hiện tỷ lệ nội
địa hóa ô tô.
97 iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Số hình
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1
Mô hình liên kết trong ngành công nghiệp ô
tô Nhật Bản.
9
2
Hình 2.1
Dự báo chủng loại và số lượng xe tiêu thụ
tại thị trường châu Á năm 2015.
36
công nghiệp ô tô rất phát triển, cạnh tranh mạnh với cả các cường quốc mạnh về ô
tô như Hoa Kỳ, Đức, Pháp mặc dù xuất phát điểm phát triển ngành này của Nhật
không phải là có nhiều lợi thế hơn các nước khác về tài nguyên thiên nhiên và
công nghệ nguồn. Những thành tựu của Nhật Bản đạt được trong ngành này thật
diệu kỳ. Nhật Bản đã có những công ty ô tô danh tiếng nhất, xuất khẩu vào loại
hàng đầu thế giới về ô tô, các chi nhánh sản xuất ô tô có mặt hầu hết các nước trên
thế giới và cạnh trạnh mãnh mẽ ngay trong phạm vi lãnh thổ của các cường quốc ô
tô khác. Thực tế, nền công nghiệp ô tô đã đóng góp rất lớn cho kinh tế Nhật Bản.
Nguyên nhân nào dẫn đến ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản lại phát triển nhanh
như vậy? Tại sao ô tô Nhật Bản lại chiếm lĩnh được thị trường thế giới? Các nước
đang phát triển trong đó có Việt Nam là những nước đi sau học tập được kinh
nghiệm gì từ sự phát triển ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản? Nhằm góp phần
phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong những năm tới và trả lời những
câu hỏi nêu ra ở trên, tôi đã chọn đề tài: “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp
ô tô Nhật Bản: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Do đó, nghiên cứu chiến lược
phát triển ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản là hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối
với Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Những kinh
nghiệm và thực tế sống động của Nhật Bản trong ngành công nghiệp ô tô sẽ giúp
Việt Nam chúng ta định hướng đúng đắn cho việc phát triển ngành này tại Việt
Nam, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển về công nghệ và kinh tế. 2
2. Tình hình nghiên cứu.
Nghiên cứu về đề tài ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản bao gồm thực trạng
ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản, chiến lược phát triển ngành ô tô Nhật Bản đã có
rất nhiều tác giả nước ngoài đã thực hiện như:
- “Automative and components market in Asia” (2000), tác giả Paul Brough,
Head of Financial Advisory Services, China and Hong Kong SAR KPMG,
thách thức và giải phát triển khai các công nghệ để giải quyết các vướng mắc liên
quan đến tác động của ngành công nghiệp ô tô đến môi trường.
- “Globalization and the Reorganization of Japan’s Auto Parts
Industry”(2009), tác giả Ulrike Schaede, - University of California, San Diego,
U.S.A. Bài nghiên cứu phân tích thực trạng và chiến lược toàn cầu hóa và tái cơ cấu
ngành công nghiệp phụ trợ của Nhật Bản từ năm 1994-2008 dưới tác động của
khủng hoảng kinh tế Nhật (1991) và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008.
- “Infant industry policy: A case of Japanese Automobile industry before 1945”
(February 2007), tác giả: Ken Togo, Musashi University, Tokyo, Japan. Bài viết
phân tích tác động chính sách của chính phủ Nhật tới nền công nghiệp ô tô Nhật
Bản trước chiến tranh, sự phát triển của ngành này trước chiến tranh thế giới thứ II,
và mối quan hệ tương tác giữa những nhà sản xuất và các chính sách của chính
phủ.
- “Janpan Automative Industry: Recent Developments and Future
Compartive Outlook” (1994), tác giả Chris Lin, University of Michigan
Transportation Research Institute, USA. Bài nghiên cứu của tác giả này đã nêu ra
bức tranh thực trạng và triển vọng phát triển ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản từ
1945-2004.
-“Japan and the ASEAN 4 Automotive industry”, tác giả Roger Farrel và
Christopher Findlay (August/2001), Australia – Japan Research Centre, Australian
National University. Nghiên cứu nói trên của tác giả Roger Farrel và Christopher
Findlay tập trung phân tích vào thách thức, triển vọng và chiến lược phát triển
ngành công nghiệp ô tô của các doanh nghiệp Nhật Bản tại 4 nước: Thái Lan, 4
Indonesia, Philippines và Malaysia. Trong đó, tác giả tập trung và hướng phát triển
công nghiệp phụ trợ tại các nước đặc biệt là tại Thái Lan, đánh giá tiềm năng phát
triển từng sản phẩm phù hợp với từng thị trường.
- “Japanese automakers economic contributions to America”(July/2010),
cứu với hi vọng sẽ có được những trải nghiệm nghiên cứu thực tế để có những đề
xuất giải pháp cho sự phát triển ngành công nghiệp này tại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu, những nhân tố tác động hình thành chiến lược và nội dung của
chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản. Từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam.
Từ những nghiên cứu về ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản và thực tế ở
Việt Nam, luận văn đưa ra các gợi ý giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô của
Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu những nhân tố tác động hình thành và nội dung của chiến
ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản.
- Đánh giá những mặt thành công và hạn chế của chiến lược này và khả năng
vận dụng của các nước đi sau.
- Trên cơ sở những kinh nghiệm thực tế của Nhật Bản và thực tiễn của Việt
Nam, luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần phát triển ngành công nghiệp ô
tô Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn.
Chiến lược phát triển của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản mà trọng tâm là
chiến lược công nghệ, chiến lược thị trường quốc tế và chiến lược về sản phẩm…
của một số công ty ô tô tiêu biểu như Toyota, Honda, Nissan từ năm 1986-đến
những năm đầu thế kỷ XXI (2020). Từ các đại diện tiêu biểu này, sẽ cho thấy đặc
điểm chiến lược chung của toàn ngành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu. 6
Ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản là một ngành công nghiệp rất đồ sộ có bề
7
CHƯƠNG 1:
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ CỦA NHẬT BẢN
1.1.Vai trò của ngành công nghiệp ô tô đối với nền kinh tế một quốc gia.
Từ khi ra đời, ngành công nghiệp ô tô luôn chứng tỏ vai trò trong quan đối
với một quốc gia ở các lĩnh vực: đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng của con người
trong việc đi lại và vận chuyển hàng hoá. Đây là ngành đã và đang tạo động lực
tăng trưởng cho nhiều quốc gia: ví dụ, ngành công nghiệp ô tô đóng góp khoảng
10% vào GDP của Nhật Bản mỗi năm, còn tại Hoa Kỳ là 14.5% và tạo ra hơn 2
triệu việc làm (2010) [41].
Ngành công nghiệp ô tô cũng được xem là ngành sản xuát vật chất vì nó
cung cấp phương tiện đi lại, vận chuyển hàng hoá. Theo tính toán của Phòng thương
mại Mỹ, 75% hàng hoá và 80% lượng hàng hoá được vận chuyển bằng đường ô tô.
Ngành công nghiệp ô tô là ngành có mối liên kết chặt chẽ nhiều ngành công
nghiệp phụ trợ: cao su, kim loại, hoá chất, điện tử Điều này cho thấy, sự phát triển
của ngành này thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Các thành tựu khoa học phát triển như tự động hoá, khoa học điện tử, hoá
chất, chế tạo
Ngành công nghiệp ô tô có mức sinh lời cao. Tuy nhiên, để một quốc gia có
thể trở thành một trong những nhà sản xuất ô tô trên thế giới, thì quốc gia đó cần
phải hội tụ rất nhiều yếu tố: ngành đòi hỏi vốn lớn, trình độ công nghệ hiện đại,
chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong sản xuất cao, quy mô ngành lớn, mạng lưới
tiêu thụ và chăm sóc khách hàng rộng khắp, trình độ lao động có tay nghề Do đó,
ngành sản xuất ô tô thường phát triển mạnh ở các nước phát triển tiên tiến. Các
nước còn hạn chế về các yếu tố nêu trên muốn tạo dựng một ngành công nghiệp
sản xuất ô tô riêng thì cần phải có các chính sách và chiến lược hợp lý mới có thể
đạt được mục tiêu hoặc hay chọn hướng phát triển ngành bằng cách tham gia vào
mạng lưới cung ứng linh kiện ô tô toàn cầu mà nước đó có lợi thế cạnh tranh và
phát triển.
cả các phương diện của nhà cung cấp, nhà cung cấp được cung cấp tài chính từ tập
đoàn đối tác nên lớn lên nhanh hơn, mối lợi hai chiều: nhà sản xuất có nguồn cung 9
Nhà sản
xuất, lắp
ráp.
Nhà thầu phụ bậc 1/cung
cấp bậc 1 (khung sườn, cấu
kiện, dây chuyền lắp ráp)
Nhà thầu phụ bậc 2/cung cấp bậc 2 (linh kiện
chi tiết).
Các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu (sắt, thép, cao su…)
ổn định về số lượng, đảm bảo về chất lượng - nhà cung cấp yên tâm về đầu ra và
hiệu quả đầu tư
Tuy nhiên, ngày nay Keiretsu đã bộc lộ một số yếu điểm, đáng chú ý nhất là:
tạo ra sức ỳ cực lớn cho chính các nhà cung cấp. Họ trở nên chậm thay đổi mẫu mã,
công nghệ. Các công ty lớn phải dàn trải tài chính ra quá rộng nên thường đuối sức
và giảm khả năng, động lực cạnh tranh và đổi mới của các bên.
công nghệ sao cho phù hợp với tình hình mới, do đó chiến lược của các nhà cung
ứng cũng như nhà sản xuất ô tô làm sao phải đáp ứng được tình hình mới.
Việc các công ty sản xuất có cổ phần ở nhiều công ty con cung cấp linh kiện
liệu có còn hiệu quả nữa không khi mà vốn đầu tư tràn lan trong khi nguồn cung
ứng từ các công ty con không phải là nguồn cung ứng tối ưu trước thị trường
“không biên giới”? Đó chính là những nguyên nhân khiến cho các nhà sản xuất ô tô
của Nhật Bản phải xem xét lại chiến lược kinh doanh của mình trước sức ép cạnh
tranh ngày càng gắt gao hiện nay.
1.2.1.2. Nhu cầu mở rộng thị trường mới để giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận
thông qua tận dụng các nguồn lực tôí ưu bên ngoài.
Gần hai thập kỷ nay, Nhật Bản đối mặt với tình trạng dân số “già” và thiếu
hụt lực lượng lao động trong khi chính phủ Nhật Bản và người dân Nhật Bản đều
rất khắt khe với lao động nhập cư thông qua các chính sách nhập cư khắt khe và các
quy định ngặt nghèo trong tuyển dụng lao động nước ngoài tại các công ty của Nhật
Bản tại thị trường nội địa. Theo dự báo của chính phủ, trong vòng 50 năm tới, dân
số của Nhật Bản sẽ giảm khoảng một phần ba xuống còn 90 triệu người. Đến năm 11
2055, cứ ba người Nhật thì lại có hơn một người trên 65 tuổi. Khi đó, số người
trong độ tuổi lao động cũng giảm hơn một phần ba xuống còn 52 triệu người. Năm
2010 đánh dấu mức giảm dân số tồi tệ nhất của Nhật Bản kể từ năm 1899. Tỷ lệ tử
liên tục cao hơn tỷ lệ sinh tại đây. Một phần tư dân số Nhật trên độ tuổi 65 và có thể
tăng lên 40% vào năm 2050, đẩy hệ thống phúc lợi xã hội tình trạng khó khăn.
Nhập cư là một cách để giải quyết vấn đề này, nhưng chính sách của Nhật đang làm
nhụt chí nhân lực từ nước ngoài [71].
Các công ô tô Nhật Bản tập chung chủ yếu ở hai khu vực truyền thống là
Tokyo và Aichi, Nagoya…Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho giá thuê đất cao
và thiếu hụt lao động. Ở thị trường nội địa, các công ty ô tô Nhật Bản cũng đã mở
rộng các nhà máy sang các khu vực khác để giảm áp lực về giá thuê đất và thiếu hụt
thế giới, đối với ngành công nghiệp ô tô, giá xăng dầu có tác động rất lớn đến lượng
tiêu thụ sản phẩm và chiến lược phát triển sản phẩm. Hai cú sốc dầu mỏ thế giới đã
có tác động mạnh mẽ đến sự chuyển hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp
ô tô Nhật Bản. Trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX và sang những năm đầu
của thể kỷ XXI, giá cả nguyên liệu (dầu mỏ) ngày càng tăng cao và khan hiếm khi
môi trường sống ngày càng huỷ hoại trầm trọng thì các công ty đều chú trọng đến
chiến lược phát triển sản phẩm làm sao đạt được tiêu chí an toàn, tiết kiệm nhiên
liệu và sử dụng các loại nhiên liệu mới thân thiện với môi trường. Đây sẽ là xu thế
chung của thế giới trong các thập kỷ tiếp theo. Do đó, các công ty Nhật Bản và
chính phủ Nhật Bản phải có chiến lược dài hạn trong công tác nghiên cứu và triển
khải công nghệ.
Chiến lược sản xuất hướng về xuất khẩu (thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX)
không còn phù hợp khi mà các nước nhập khẩu đưa ra những qui định về những qui
định về tỷ lệ nội địa hoá, mức thuế nhập khẩu cao, và những rào cản thương mại
khác cũng là những nhân tố tác động đến chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô
tô Nhật Bản. Các công ty đứng trước lựa chọn phải tham gia vào phân công lao
động quốc tế để tránh những rào cản trên.
Bên cạnh thị trường Châu Âu, Mỹ và thị trường nội địa (1945-1985) đã
không còn giữ được mức tăng trưởng cao như ban đầu, do đó nhu cầu mở rộng thị 13
trường để tăng lợi nhuận đã trở thành một yêu cầu tất yếu của ngành dưới tác động
của xu thế toàn cầu hoá.
1.2.1.3. Suy thoái kinh tế và sự tăng giá của đồng Yên Nhật.
Từ năm 1955-1973 là giai đoạn tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế Nhật
Bản do đồng yên Nhật được cố định vào dollar Mỹ với tỷ giá 360 Yên/đô la Mỹ
[41] có lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản, giá dầu lửa rẻ, cách mạng công nghệ bùng
nổ, các chính sách tài chính và công nghiệp đều hợp lí và tích cực.
Tuy nhiên liên tiếp các cú sốc dầu mỏ (1973, 1979) và sự liên giá liên tục
chiến lược của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản. Từ thế kỷ XXI, thế giới phải đối
mặt với rất nhiều thách thức mà thách thức về ô nhiễm môi trường là một vấn đề mà
cả thế giới lưu tâm nhất. Ngành công nghiệp ô tô đã đạt được những thành công
ngạc nhiên. Hơn một thế kỷ qua, sản phẩm ô tô liên tục được cải tiến về chất lượng
để đáp ứng nhu cầu và định hướng tiêu dùng của khách hàng trên thế giới. Đồng
thời, ngành công nghiệp ô tô cũng đã có những đóng góp rất lớn cho xã hội ở nhiều
mặt. Dân số và kinh tế tăng, đồng nghĩa với việc ngày càng có nhiều người sở hữu
xe hơn (Phụ lục 5). Và theo dự báo của các chuyên gia kinh tế của IMF, trong vòng
hai mươi năm nữa (kể từ năm 2009), số lượng người sở hữu xe cá nhân sẽ tăng lên
gấp 3 lần so với năm 2009 [21, tr3]. Mặt trái của gia tăng sở hữu xe, có nghĩa là tài
nguyên sẽ phải sử được khai thác nhiều hơn để sản xuất xe, rồi phế thải (trong đó có
khí thải) cũng gia tăng hơn. Các nước Mỹ, Nhật Bản và Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) đã thống nhất rằng chính phủ phải có trách nhiệm can thiệp
vào vấn đề này và họ đã đưa ra một số luật giảm thiểu lượng khí thải độc hại của
các động cơ xe. Các chính sách qui định của các nước và quốc tế đã có ảnh hưởng
lớn đến ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản trong quá trình ứng dụng các sản
phẩm đạt tiêu chuẩn sả khí thải cho phép và cải tiến các động cơ xe dùng điện.
Hai vấn đề mà các nhà sản xuất ô tô lưu tâm: hàm lượng hạt chất gây ô nhiễm phân
tán trong không khí và vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Hàm lượng các hạt vi chất
gây ô nhiễm phân tán trong không khí được các nước OECD kiểm soát rất chặt chẽ.
Nó được sinh ra từ các động cơ xe gây ô nhiễm. Nhưng khó có thể xác định cụ thể
và chính xác những ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ con người đặc biệt là các chất
gây ô nhiễm sinh ra từ động cơ vận tải. Chất gây ô nhiễm này tồn tại trong không 15
khí dưới dạng chất lỏng hoặc chất rắn, gây ra nhiều bệnh tật cho con người, gây hư
hại đến một số vật liệu (ví dụ như dưới hình thức oxy hoá). Các phân tử sinh ra từ
các động cơ xe trong quá trình chạy xe đặc biệt là phân tử đốt cháy xăng dễ dàng
xâm nhập đục roãng hệ hô hấp của con người. Viện nghiên cứu tài nguyên không
tự nhiên trong quá trình sản xuất và sử dụng các loại xe. Do đó, các công ty phải có
những chiến lược để giải quyết vấn đề môi trường trong khi tiến hành sản xuất. Và
với Nhật Bản-một cường quốc về ô tô, họ cũng không nằm ngoài tác động đó và
cũng phải đặt ra cho mình những chiến lược sản xuất-kinh doanh phù hợp với
những tác động nói trên.
1.2.2.2. Những thay đổi về công nghệ.
Đối với ngành công nghiệp ô tô hiện nay, thách thức cơ bản lớn nhất hiện nay đó là
vấn đề thay đổi công nghệ diesel sang công nghệ vận hành bằng điện và tăng tính
năng an toàn cho người sử dụng xe. Công nghệ vận hành động cơ bằng điện là giải
pháp giải quyết vấn đề khí thải ô nhiễm và biến đổi khí hậu, tiết kiệm nhiên liệu.
Mặt tiến bộ của công nghệ này còn ở chỗ nó là giải pháp giải quyết việc giảm lượng
khí thải mức không phầm trăm, động cơ chạy không gây ồn và đáng tin cậy và phù
hợp với phương tiện giao thông sử dụng nhiều nhiên liệu trong tương lai. Tuy
nhiên, để tiến tới phát triển một dòng xe sử dụng nhiên liệu an toàn và thân thiện
với môi trường là cả một thách thức không nhỏ đối với các nhà sản xuất xe. Bởi từ
trước đến nay, ngành sản xuất xe hơi vốn phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu tự nhiên
đó là xăng dầu, từ đó công nghệ của xe được chế tạo cũng phù hợp với việc sử dụng
xăng và cả hệ thống tiếp liệu xăng trên các cung đường xe chạy. Nếu thay đổi loại
nguyên liệu sử dụng điện hay các nguyên liệu thân thiện với môi trường đòi hỏi các
nhà sản xuất xe phải chế tạo các động cơ phù hợp với loại nhiên liệu mới, các trạm
tiếp liệu cũng phải được xây dựng sao cho phù hợp như khi sử dụng công nghệ
diesel. Đây là một thách thức lớn bởi chi phí sản xuất lớn sẽ làm tăng giá thành sản
phẩm và đòi hỏi một sự chuyển đổi trạm tiếp liệu tương ứng.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng ngày càng ưu chuộng các dòng xe an toàn hơn
trên mọi địa hình chạy xe. Một trong những loại công nghệ hàng đầu mà các nhà
sản xuất xe hơi hiện nay đang chạy đua chính là công nghệ an toàn nhằm ngăn chặn
tai nạn xảy ra khi người lái xe rơi vào trạng thái không làm chủ được tốc độ và tay 17