MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô mở hiện nay, chính phủ phối
hợp cùng các ngành, các địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty và
doanh nghiệp nhà nước đẩy mạnh triển khai các biện pháp, các kế
hoạch nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu.
Trong các mặt hàng thủy xuất khẩu, tôm chế biến luôn là một trong
những mặt hàng mũi nhọn, đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước.
Nhưng, cùng với vấn đề xuất khẩu mặt hàng này, chúng ta lại cần phải
đề cập đến vấn đề là làm sao để ngành chế biến tôm của Việt Nam có
thể cạnh tranh được với các nước đã thương mại hóa ngành này từ hơn
hai mươi năm trước như Mỹ, Nhật, Trung Quốc với những thế mạnh
về cả nguồn lực, nguồn khai thác, khoa học công nghệ,… Vậy, vấn đề
cấp thiết lúc này là phải xem xét, đánh giá thật kĩ lưỡng các tiềm năng
của ngành chế biến tôm Việt Nam để nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của ngành. Trong phạm vi nội dung của đề bài, em xin được vận
dụng mô hình kim cương của Michael.E.Porter để đánh giá năng lực
cạnh tranh ngành chế biến tôm Việt Nam nhằm khai thác tối đa các
nguồn lực nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành.
2
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỢI THẾ CẠNH
TRANH VÀ MÔ HÌNH KIM CUƠNG CỦA M.PORTER
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH
Lợi thế cạnh tranh được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau:
1.1. Lợi thế cạnh tranh quốc gia:
Đại học kinh doanh IMD (Thụy Sỹ) và Diễn đàn kinh tế thế giới
Vị thế quốc gia (điều kiện yếu tố sản xuất); điều kiện về cầu; các
ngành hỗ trợ và có liên quan; chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh
tranh ngành. Các nhân tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành
nên khả năng cạnh tranh quốc gia. Ngoài ra, còn có 2 yếu tố khác là
chính sách của chính phủ và cơ hội.
4
Mô hình kim cương của M.Porter nói về sự tác động của các
yếu tố
Các điều kiện về yếu tố sản xuất: Sự phong phú và dồi dào của
các yếu tố sản xuất có vai trò nhất định đối với lợi thế cạnh tranh quốc
gia; các quốc gia có lợi hơn khi sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sử
dụng nhiều yếu tố đầu vào mà quốc gia đó lợi thế. Các doanh nghiệp
có thể có được lợi thế cạnh tranh nếu họ sử dụng các nhân tố đầu vào
có chi phí thấp, chất lượng cao và có vai trò trong cạnh tranh. Đánh
giá năng lực cạnh tranh theo các yếu tố đầu vào được xây dựng từ năm
nhóm đầu vào, đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên,
nguồn tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng. Mỗi nhóm đầu vào lại bao
gồm nhiều yếu tố cụ thể hơn.
Điều kiện về nhu cầu trong nước: Thông qua các tác động động
và tĩnh, nhu cầu trong nước xác định mức đầu tư, tốc độ và động cơ
đổi mới của các DN trong nước. Ba khía cạnh của nhu cầu trong nước
có ảnh hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của DN là: bản chất nhu cầu;
lượng, mô hình tăng trưởng của nhu cầu và cơ chế lan truyền nhu cầu
trong nước ra môi trường quốc tế. Bản chất nhu cầu trong nước xác
định cách thức doanh nghiệp nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu
5
các công ty. Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi thế
cạnh tranh như: sự thay đổi bất ngờ về công nghệ, thay đổi về chi phí
đầu vào, sự thay đổi đáng kể trên thị trường chứng
khoán thế giới, tỷ giá hối đoái, tăng mạnh của cầu thế giới hay
khu vực, quyết định chính trị của chính phủ nước ngoài. Các cơ hội rất
6
quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển
vị thế cạnh tranh. Chúng có thể xóa đi lợi thế của các công ty thành
lập trước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới thành lập có thể
khai thác nhằm đáp ứng các điều kiện mới và khác biệt.
2.2 Sự vận động, tương tác của lợi thế quốc gia
Bốn nhân tố quyết định lợi thế quốc gia hỗ trợ lẫn nhau và phát
triển qua thời gian để nuôi dưỡng lợi thế của ngành.
Những tác động tới việc tạo dựng yếu tố sản xuất: Số lượng các
đối thủ cạnh tranh nội địa trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt
thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, các công nghệ liên
quan, kiến thức về thị trường và những hạ tầng chuyên môn.
Những ảnh hưởng tác động tới quy mô và cơ cấu nhu cầu: Nhu
cầu trong nước với một ngành công nghiệp phản ánh nhiều đặc trưng
của quốc gia như dân số, khí hậu, chuẩn mực xã hội và tập hợp các
ngành trong nền kinh tế. Nhóm các công ty cạnh tranh nội địa sẽ phải
cạnh tranh giá cả để dành hoặc giữ thị phần. Sự tồn tại của nhiều công
ty cạnh tranh sẽ nâng cao trình độ người tiêu dùng, làm họ trở nên tinh
tế và khó tính hơn vì họ được chú ý hơn. Mặt khác, cạnh tranh nội địa
cũng sẽ nâng cao nhu cầu từ nước ngoài. Khách hàng Nước ngoài sẽ
chú ý và đưa quốc gia đó vào trong đánh giá của họ về nguồn hàng
tiềm năng. Rủi ro của họ khi mua hàng từ quốc gia này sẽ giảm do có
trò của ngành thủy sản cũng không ngừng tăng lên trong nền kinh tế
quốc dân.
Bên cạnh vai trò nòng cốt của đội ngũ doanh nhân, lực lượng
khoa học công nghệ đã có đóng góp to lớn. Từ những năm đầu của
thập kỷ 80 của thế kỷ trước, công nghệ sinh sản tôm sú nhân tạo đã
được nhập và phát triển thành công ở miền Trung, sau đó nhân ra cả
nước, tạo tiền đề cho phong trào nuôi tôm phát triển, là cơ sở để có
được nguồn nguyên liệu chủ yếu cho chế biến, xuất khẩu thủy sản.
Nhiều nhà chuyên gia cho rằng, nuôi và chế biến tôm là một trong
những ngành chủ lực để phát triển nền kình tế. Với tốc độ phát triển
nhanh chóng như hiện nay, ngành chế biến tôm đã góp phần tăng
trưởng kinh tế cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận
lớn người lao động, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và
chất của hệ thống chế biến thủy sản.
I.ĐIỀU KIỆN VỀ YẾU TỐ SẢN XUẤT
1.1. Nguồn vốn tài chính
Vốn vay ngân hàng: Đa phần doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
tôm là các các DN vừa và nhỏ, lại không có cơ chế hỗ trợ lãi suất vay
của Chính Phủ nên khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như đầu tư xây dựng nhà máy, mua máy móc thiết bị. Đặc
biệt với chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ, nhiều DN CB tôm
chỉ hoạt động cầm chừng nhằm duy trì sản xuất và giữ chân người lao
động.
9
Vốn tự có của doanh nghiệp: Số lượng các doanh nghiệp thủy
sản có quy mô dưới 1 tỷ VNĐ có xu hướng giảm đi. Số lượng các
doanh nghiệp có quy mô vốn trên 1 tỷ VNĐ có xu hướng tăng lên, đặc
biệt là số lượng các DN có quy mô vốn từ 1-5 tỷ chiếm đa số trong cơ
nguồn nguyên liệu cho ngành CBTS, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung
vào mùa mưa bão.
Nguồn nhân lực:Tổng lao động làm việc trong ngành CBTSXK
tăng theo năm nhưng trình độ của người lao động rất thấp, chủ yếu là
lao động phổ thông với trình độ văn hóa chủ yếu là cấp phổ thông cơ
sở. Họ được tuyển dụng và được đào tạo ngay trong công việc. Điều
này cho đến nay vẫn chưa được cải tiến đáng kể, cho dù có những
khuyến khích, ưu tiên từ phía chính phủ.
1.3 Công nghệ:
Quy trình CBTS nói chung và tôm nói riêng khá đơn giản. Máy
móc được sử dụng chủ yếu là các băng chuyền cấp đông và tủ đông,
có thể mở rộng từng phần theo nhu cầu.
1.4 Nguồn nguyên liệu:
Nguồn tôm nguyên liệu cho ngành CNCB tôm Việt Nam chủ
yếu từ nguồn tôm trong nước và một lượng nhỏ nguồn tôm nhập khẩu
từ nước ngoài. Tôm nguyên liệu nhập khẩu ngày càng tăng cao trong
tình trạng nguồn cung tôm trong nước không đáp ứng kịp nhu cầu
phát triển của ngành chế biến tôm.
1.5 Giá tôm nguyên liệu:
Gía tôm nguyên liệu các năm gần đây dao động nhưng vẫn có xu
hướng tăng.
1.6 Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng chung: gồm có hệ thống đường sắt, hệ thống
đường thủy nội địa, các cảng biển.
Cơ sở hạ tầng riêng: Kho lạnh; Cảng cá, bến cá; Chợ cá
Hệ thống giao thông từ năm 2008 đến nay đuợc cải thiện đáng
kể. Trong hệ thống cơ sở hạ tầng riêng dành cho ngành CB TS, nhiều
kho lạnh được xây mới, tuy nhiên, tình hình hoạt động của các cảng
cá, bến cá và trợ cá không thay đổi nhiều, trong khi công suất chế biến
độ phát triển tương đối ổn định
hơn. Tuy nhiên đây cũng là thị trường mà VN bị mắc vào nhiều
vụ kiện bán phá giá nhất, ảnh hưởng nhiều đến kim ngạnh XK tôm
sang thị trường này.
Thị trường EU: trong một vài năm gần đây, khối lượng cũng như
giá trị tôm XK của VN sang EU đang có xu hướng giảm dần do EU áp
dụng chặt chẽ và nghiêm ngặt các biện pháp kiểm tra dư lượng kháng
sinh. Có thể nói, đối với việc nhập khẩu tôm cũng nhưcác hàng thủy
12
sản khác vào EU, điều khó khăn nhất khi thâm nhập vào thị trường
này là các hàng rào phi thuế quan và việc sử dụng hệ thống HACCP
như một hàng rào bảo hộ mậu dịch.
*Trong các thị trường xuất khẩu chính trên thì thị trường Hồng
Kông và Trung Quốc có tốc độ tăng cao nhất cả về giá trị và khối
lượng xuất khẩu.
III.CÁC NGÀNH HỖ TRỢ, NGÀNH CÓ LIÊN QUAN:
3.1 Ngành nuôi tôm
Diện tích nuôi tôm: Diện tích nuôi tôm những năm gần đây dao
động lên xuống, có năm do chi phí sản xuất tăng, đặc biệt là chi phí
thức ăn, trong khi đó giá bán lại có xu hướng giăm dẫn đến việc đầu tư
không hiệu quả, nhiều hộ bỏ hoang ao đầm (năm 2009). Điều này dẫn
đến sự khan hiếm nguồn tôm nguyên liệu nội địa cho sản xuất, làm
tăng lượng tôm nguyên liệu nhập khẩu.
Thức ăn TS: Các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản ở Việt Nam
có đến 65% - 70% thị phần thuộc về các doanh nghiệp nhận vốn FDI.
Sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu trong xu hướng giá tăng kết hợp
với sự kiểm soát của các DN nước ngoài và hệ thống phân phối sản
phẩm qua nhiều cấp đại lý, đẩy mức giá tăng lên đáng kể khi tới tay
NỘI ĐỊA
4.1. Chiến lược cạnh tranh
Chiến lược cạnh tranh trên thị trường thế giới
-Về chiến lược phân phối hiện nay:
DN XK VN cũng chưa thiết lập kênh phân phối trực tiếp trên thị
trường xuất khẩu mà chủ yếu trông qua các tập đoàn nhập khẩu lớn
trên thế giới. Điều này làm cho các DN mất đi một khoản lợi nhuận
mà đáng lẽ phải được hưởng từ các trung gian này. Trong thời gian tới,
cần đề ra các chiến lược để có thể xuất trực tiếp sản phẩm ra nước
ngoài tránh qua nhiều trung gian, nhiều kênh phân phối.
-Về chiến lược giá:
Hiện giá cả sản phẩm tôm XK của ta phụ thuộc rất nhiều vào giá
thị trường tôm thế giới, đó cũng là hiện tượng chung của các loại mặt
hàng TSVN. Hơn nữa do chất lượng tôm còn kém, thương hiệu tôm
chưa được biết đến vì vậy tất yếu ta phải là người chấp nhận giá thế
giới.
- Về chiến lược xúc tiến
Hình thức xúc tiến hỗn hợp phù hợp hơn cả đối với mặt hàng
tôm chính là tham gia hội chợ. Đây là nơi tập trung nhiều DN lớn, là
cơ hội tiếp xúc với khách hàng. Cho đến thời điểm hiện tại, hầu như
không có mấy DN tiến hành quảng cáo sản phẩm của mình trên các
15
phương tiện thông tin đại chúng. Khuyến mại cũng là một công cụ đắc
lực của xúc tiến hỗn hợp, nhất là khi nó được kết hợp với quảng cáo
song dường như chưa được quan tâm thích đáng.
Chiến lược cạnh tranh nội địa:
Hiện nay, hầu hết các DNCB tôm đều tập trung vào SX hàng
5.2 Chính sách hỗ trợ về tôm nguyên liệu:
Từ lúc ngành CB và XK tôm phát triển thì nguy cơ thiếu tôm
nguyên liệu ngày càng nhiều. Một vấn đề khác cũ nhưng chưa bao giờ
không xuất hiện một vấn đề cũ trong ngành XKTS: chất lượng và vệ
sinh an toàn. Các chính sách của Chính Phủ nhằm hỗ trợ nhằm giảm
tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, những ưu đãi về công nghệ và
về vốn nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cho các cơ sở SX tôm,
nghị quyết số về việc thay đổi cơ cấu nuôi trồng TS đã giúp nâng cao
chất lượng tôm giống, cũng như nâng cao chất lượng của người
ngưdân…
5.3 Chính sách xúc tiến thương mại:
Do vấn đề thông tin, quáng bá xúc tiến thương mại của ngành
cũng như của các DN còn nhiều yếu kém nên rất nhiều thị trường đã
lợi dụng việc này bôi nhọ thông tin về sản phẩm của VN. DN cạnh
tranh không lành mạnh bằng cách giảm giá bán, hạ chất lượng; các
chương trình quảng bá hình ảnh đến người tiêu dùng thế giới chưa đủ
mạnh dẫn đến họ dễ bị ảnh hưởng bởi các thông tin không chính xác.
Một trong những nguyên nhân lớn nhất phải kể đến là những yếu kém
trong công tác dự báo và phân tích thị trường.
5.4 Chính sách tài chính, hỗ trợ tín dụng
Chính sách thuế, chính sách tín dụng trợ cấp
NN cần áp dụng linh hoạt các chính sách nhằm nâng cao sức
cạnh tranh của hàng thuỷ sản VN nói chung và mặt hàng tôm nói riêng
VI. CƠ HỘI
Cùng với việc gia nhập WTO, khối lượng tôm XK của VN cũng
tăng mạnh. Việc gia nhập WTO cũng khiến cho ngành CB tôm chịu
tác động mạnh mẽ từ thị trường bên ngoài: bất lợi như ảnh hưởng
cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008; Sự thay đổi về tiêu chuẩn kỹ
thuật của EU năm 2008…. đã khiến cho nhiều nước xuất khẩu thủy
sản trong đó có Việt Nam gặp khó khăn lớn đối với thị trường EU.
thách thức của ngành chế biến tôm nói riêng và của ngành thủy sản
nói chung để từ đó đưa ra được những giải pháp thiết thực cho sự phát
triển của ngành này như:
Giải pháp về phát triển nguồn tôm nguyên liệu cho chế biến tôm;
Giải pháp về cơ sở hạ tầng; Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực; Giải pháp về công nghệ; Phát triển thị trường và Nâng cao
vai trò của Nhà Nước.
Tóm lại, để đạt được chiến lược phát triển thủy sản, nhà nước và
các doanh nghiệp cần phải nhận định đúng tình hình, dám đương đầu
và giải quyết một các hợp lý, để đạt được những mục tiêu đề ra trong
quá trình thực hiện CNH – HĐH đất nước, phấn đấu phát triểnnhanh
và bền vững, phấn đấu vì một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”,
19
một đất nước phát triển tiên tiến.
20