Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2011 Đánh giá năng lực cạnh tranh ngành chế biến tôm Việt Nam
theo mô hình khối kim cương của Michael.E.Porter 1
I.1 Giải pháp về phát triển nguồn tôm nguyên liệu cho chế biến tôm 60
I.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 63
I.3 Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 64
I.4 Giải pháp về công nghệ 65
I.5 Phát triển thị trƣờng 67
I.6 Tạo liên kết trong chế biến tôm 69
I.7 Nâng cao vai trò của NN 70
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 3
LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô có những biểu hiện không ổn định: giá cả trên
thị trƣờng thế giới có xu hƣớng tăng, thị trƣờng tài chính, tiền tệ có những biến động
phức tạp, chính phủ phối hợp cùng các ngành, các địa phƣơng, tập đoàn kinh tế, tổng
công ty và doanh nghiệp nhà nƣớc đẩy mạnh triển khai các biện pháp, các kế hoạch nhằm
thực hiện đồng bộ sáu nhóm giải pháp trong đó có thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến
khích xuất khẩu. Trong các mặt hàng thủy xuất khẩu, tôm chế biến luôn là một trong
những mặt hàng mũi nhọn, đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nƣớc. Nhƣng, cùng với
vấn đề xuất khẩu mặt hàng này, chúng ta lại cần phải đề cập đến vấn đề là làm sao để
ngành chế biến tôm của Việt Nam có thể cạnh tranh đƣợc với các nƣớc đã thƣơng mại
hóa ngành này từ hơn hai mƣơi năm trƣớc nhƣ Mỹ, Nhật, Trung Quốc với những thế
mạnh về cả nguồn lực, nguồn khai thác, khoa học công nghệ,…
Vậy, vấn đề cấp thiết lúc này là phải xem xét, đánh giá thật kĩ lƣỡng các tiềm năng
của ngành chế biến tôm Việt Nam để khai thác tối đa các nguồn lực nhằm thúc đẩy sự
phát triển bền vững của ngành.
Mô hình khối kim cƣơng về năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael.E.Porter-
“cha đẻ” thuyết chiến lƣợc cạnh tranh, đã đƣợc nhiều quốc gia ứng dụng trong nghiên
1. CNH – HĐH : công nghiệp hóa – hiện đại hóa
2. XK : xuất khẩu
3. SX : sản xuất
4. DN : doanh nghiệp
5. QG : quốc gia
6. CP : chính phủ
7. VN : Việt Nam
8. CN : công nghiệp
9. CB : chế biến
10. TS : thủy sản
11. NN : nhà nƣớc
12. NHTM : ngân hàng thƣơng mại
13. TH : trƣờng hợp
14. KV : khu vực
15. QT : quốc tế
16. KD : kinh doanh
17. YTSX : yếu tố sản xuất
18. Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
6
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH KHỐI KIM CƢƠNG CỦA
M.PORTER VÀ TỔNG QUAN VỂ NGÀNH CHẾ BIẾN TÔM Ở VIỆT NAM
I. Mô hình về khối kim cƣơng của M. Porter
I.1 Các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh QG do Michael Porter đƣa ra vào những năm 1990
(đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học ở 12 nƣớc bắt đầu từ năm
1986). Lý thuyết này lý giải tại sao một số QG có đƣợc vị trí dẫn đầu trong việc SX một
số sản phẩm, tức là dựa trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành CN
đƣợc thể hiện ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó, và rộng hơn là một QG. Lý
tố đầu vào có chi phí thấp, chất lƣợng cao và có vai trò quan trọng trong cạnh tranh. Tuy
nhiên, có những TH sự dồi dào về nhân tố SX lại làm giảm lợi thế cạnh tranh nếu nhƣ
chúng không đƣợc phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả. Nói cách khác, sử dụng, tạo ra,
cải tiến và chuyên biệt hóa đầu vào có tầm quan trọng lớn hơn số lƣợng yếu tố đầu vào
trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Một QG có thể duy trì lợi thế cạnh tranh dựa trên đầu vào khi QG đó có các đầu
vào cần thiết cho cạnh tranh trong ngành cụ thể nào đó là các đầu vào cao cấp và chuyên
ngành. Các đầu vào có thể đƣợc tạo ra bởi các đơn vị tƣ nhân hoặc CP. Tuy nhiên, thực
tế cho thấy KV tƣ nhân là KV có lợi thế trong việc tạo ra các đầu vào chuyên ngành và
cao cấp vì họ hiểu rõ nhất lĩnh vực cạnh tranh của mình. KV CP thƣờng tập trung đầu tƣ
tạo ra các đầu vào cơ bản và phổ biến. Trừ khi có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành,
KV CP thƣờng không thành công trong việc đầu tƣ tạo ra các đầu vào chuyên ngành và
cao cấp. Trên thực tế, không một QG nào có thể tạo ra và cải tiến tất cả các loại đầu vào.
Loại đầu vào nào cần đƣợc tự chế tạo và cải tiến, làm thế nào để chế tạo và cải tiến đầu
vào một cách có hiệu quả. Điều đó phụ thuộc vào các nhân tố khác trong mô hình. Việc
đánh giá năng lực cạnh tranh theo các yếu tố đầu vào đƣợc xây dựng từ năm nhóm đầu
vào, đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức, nguồn vốn và
cơ sở hạ tầng. Mỗi nhóm đầu vào lại bao gồm nhiều yếu tố cụ thể hơn.
Điều kiện về nhu cầu trong nƣớc
Thông qua các tác động động và tĩnh, nhu cầu trong nƣớc xác định mức đầu tƣ, tốc
độ và động cơ đổi mới của các DN trong nƣớc. Ba khía cạnh của nhu cầu trong nƣớc có
ảnh hƣởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của DN là: bản chất nhu cầu; dung lƣợng, mô hình
tăng trƣởng của nhu cầu và cơ chế lan truyền nhu cầu trong nƣớc ra môi trƣờng QT. Bản
8
chất nhu cầu trong nƣớc xác định cách thức DN nhận thức, lý giải và phản ứng trƣớc nhu
cầu ngƣời mua. Bản chất nhu cầu tác động tới lợi thế cạnh tranh thông qua cấu trúc nhu
cầu, mức độ đòi hỏi của ngƣời mua và tính hƣớng dẫn của nhu cầu.
Tốc độ tăng trƣởng nhu cầu trong nƣớc nhanh sẽ kích thích các DN áp dụng các
công nghệ mới nhanh hơn vì làm giảm lo ngại rằng các kỹ thuật mới sẽ làm cho đầu tƣ
hiện tại bỏ dƣ thừa. Một khía cạnh đáng lƣu ý là nhu cầu bão hòa nhanh chóng cũng có
đặc biệt khi có yếu tố hiệu quả kinh tế nhờ quy mô; đó là bƣớc chuẩn bị tốt để khi phải
chịu áp lực cạnh tranh ở nƣớc ngoài.
Vai trò của chính phủ đối với lợi thế của cạnh tranh quốc gia
CP có thể tác động tới lợi thế cạnh tranh của một QG thông qua bốn nhóm nhân tố
xác định lợi thế cạnh tranh đã nêu trên. Các tác động của CP có thể tích cực hoặc tiêu cực.
CP có thể tác động tới các điều kiện đầu vào thông qua các công cụ trợ cấp, chính sách
thị trƣờng vốn, chính sách y tế, giáo dục,…
Vai trò của CP đối với nhu cầu trong nƣớc thƣờng phức tạp hơn, có thể thúc đẩy
hoặc gây bất lợi cho lợi thế cạnh tranh. Các cơ quan CP có thể xác lập các tiêu chuẩn
hoặc quy định về sản phẩm trong nƣớc có ảnh hƣởng lớn tới cầu của ngƣời mua, CP cũng
có thể là ngƣời mua lớn đối với nhiều loại hàng hóa. CP có thể kiến tạo hệ thống các
ngành hỗ trợ và có liên quan theo nhiều cách khác nhau, nhƣ kiểm soát về các phƣơng
tiên quảng cáo, các quy định về dịch vụ hỗ trợ,…CP cũng có thể tác động tới chiếng lƣợc,
cơ cấu và môi trƣờng cạnh tranh bằng các công cụ nhƣ những quy định về thị trƣờng vốn,
chính sách thuế và luật chống độc quyền.
10
Vai trò của cơ hội
Các thành phần của lợi thế QG định hình môi trƣờng cạnh tranh trong những
ngành cụ thể. Tuy nhiên, cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan đến tình hình hiện tại
của QG và thƣờng nằm ngoài phạm vi ảnh hƣởng của các công ty (và thƣờng cả của CP).
Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hƣởng đến lợi thế cạnh tranh nhƣ: sự thay đổi bất
ngờ về công nghệ, thay đổi về chi phí đầu vào, sự thay đổi đáng kể trên thị trƣờng chứng
khoán thế giới, tỷ giá hối đoái, tăng mạnh của cầu thế giới hay KV, quyết định chính trị
của CP nƣớc ngoài. Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho
phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh. Chúng có thể xóa đi lợi thế của các công ty thành lập
trƣớc đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới thành lập có thể khai thác nhằm đáp ứng
các điều kiện mới và khác biệt.
Các cơ hội cũng thực hiện vai trò của mình một phần thông qua thay đổi các điều
kiện của mô hình kim cƣơng. Chẳng hạn, những thay đổi về chi phí đầu vào hay tỷ giá
hối đoái tạo ra những bất lợi thế về nhân tố sẽ có tác dụng thúc đẩy những giai đoạn đổi
Hình 2: Những tác động tới cầu trong nước
Những ảnh hƣởng tác động tới quy mô và cơ cấu nhu cầu
Nhu cầu trong nƣớc với một ngành CN phản ánh nhiều đặc trƣng của QG nhƣ dân
số, khí hậu, chuẩn mực xã hội và tập hợp các ngành trong nền kinh tế. Những nhân tố
quyết định khác cũng đóng vai trò quan trọng.
Một tổ hợp đối thủ
trong nƣớc thúc đẩy tạo
dựng yếu tố sản xuất
ĐIỀU KIỆN YẾU
TỐ SẢN XUẤT
CÁC NGÀNH CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CÓ
LIÊN QUAN
ĐIỀU KIỆN
NHU CẦU
CHIẾN LƢỢC, CẤU TRÚC
VÀ CẠNH TRANH TRONG
NƢỚC CỦA CÔNG TY
Nhu cầu nội địa tác động tới
những ƣu tiên cho đầu tƣ tạo
dựng yếu tố sản xuất
Các ngành công nghiệp liên quan
hay phụ trợ hay thúc đẩy yếu tố
sản xuất có thể chuyển nhƣợng
Những thách thức quốc gia thúc
đẩy tạo dựng yếu tố sản xuất
12
Nhóm các công ty cạnh tranh nội địa sẽ đầu tƣ vào marketing trên cơ sở cam kết
trợ hàng đầu thế giới mang
lại lợi ích cho một ngành
công nghiệp
ĐIỀU KIỆN YẾU
TỐ SẢN XUẤT
CHIẾN LƢỢC, CẤU TRÚC VÀ
CẠNH TRANH TRONG NƢỚC
CỦA CÔNG TY
Cạnh tranh làm
cầu nội địa tăng
và tinh vi hơn
Nhóm các công ty cạnh tranh tạo
nên hình ảnh và sự thừa nhân quốc
gia nhƣ một đối thủ cạnh tranh
quan trọng
Những ngành công nghiệp sản xuất
sản phẩm bổ sung thành công QT sẽ
lôi kéo nhu cầu nƣớc ngoài đối với
sản phẩm của ngành
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP
HỖ TRỢ VÀ CÓ LIÊN QUAN
13
Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan
Yếu tố ảnh hƣởng nhất đến sự phát triển của các ngành CN phụ trợ và có liên quan
là sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh nội địa. Nhiều công ty hơn sẽ thu hút sự quan tâm
của nhà cung cấp. Các nhà cung cấp SX nhiều sản phẩm sẽ lập ra những bộ phận đặc biệt
phục vụ riêng cho ngành. Bên cạnh đó, sự thành công của một nhóm các công ty trong
nƣớc sẽ đặt ra thách thức và thúc đẩy ngành CN cung cấp phát triển. Dƣới áp lực cạnh
tranh của khách hàng, những nhà cung cấp phải đổi mới và cải tiến hoặc sẽ bị thay thế.
khuyến khích sự hình
thành những nhà cung
cấp chuyên sâu cũng
nhƣ các ngành công
nghiệp
Nhu cầu nội địa lớn
tăng nhanh kích thích
sự tăng trƣởng của
những ngành công
Những yếu tố sản
xuất chuyên sâu
có thể dịch
chuyển sang các
ngành công
14
Những tác động lên cạnh tranh nội địa
Cấu trúc ngành CN nội địa cũng chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố quyết định khác,
đặc biệt là vai trò của các nhân tố khác tác động đến số lƣợng và chiến lƣợc của các đối
thủ cạnh tranh
công nghiệp
cung cấp
Sự phong phú của các
yếu tố sản xuất hoặc
cơ chế sản sinh các
yếu tố sản xuất
chuyên sâu sẽ sản sinh
ra những công ty mới
Những công ty mới
sinh ra từ những
ngành công nghiệp
liên quan và phụ trợ
15
thời gian khi mô hình tự tái cấu trúc. Hệ thống này luôn trong trạng thái vận động và liên
tục biến đổi để phản ánh những thay đổi của hoàn hoàn cảnh hoặc là sẽ suy thoái.
Lợi thế cạnh tranh không phải lúc nào cũng cần thiết trong những ngành CN đơn
giản hoặc sử dụng nhiều tài nguyên và trong những phân đoạn tiêu chuẩn hóa, sử dụng
công nghệ thấp của những ngành tiên tiến hơn. Trong các ngành đơn giản và sử dụng
nhiều tài nguyên thiên nhiên, chi phí SX đóng vai trò quan trọng. Còn trong các phân
đoạn tiêu chuẩn hóa và nhạy cảm với giá của các ngành CN tinh vi hơn, công nghệ có
đƣợc qua nhập khẩu máy móc nƣớc ngoài và lợi thế nhu cầu nội địa là không quan trọng
bởi đặc tính dễ sao chép của sản phẩm.
Lợi thế cạnh tranh trong các ngành CN tinh vi hơn hiếm khi đƣợc tạo ra từ một
nhân tố quyết định duy nhất. Thƣờng thì lợi thế trong nhiều nhân tố kết hợp lại, tạo ra các
điều kiện cho phép DN thành công do lợi thế cạnh tranh trong các ngành CN này phụ
thuộc vào tốc độ đổi mới và cải tiến. Mặc dù các DN của một nƣớc ban đầu có thể chỉ có
đƣợc lợi thế cạnh tranh nhờ vào chỉ một nhân tố quyết định, duy trì lợi thế đó thƣờng rất
khó, trừ khi những lợi thế này đƣợc mở rộng bao gồm các nhân tố quyết định khác.
trực tiếp XK đi khắp thế giới. Quy mô của ngành TS ngày càng mở rộng và vai trò của
ngành TS cũng không ngừng tăng lên trong nền kinh tế quốc dân.
Từ cuối thập kỷ 80 đến nay, tốc độ tăng trƣởng GDP của ngành không ngừng tăng
lên cả về con số tuyệt đối lẫn tƣơng đối. Các nghề SX trên biển đã hƣớng theo các sản
phẩm có giá trị XK. Cơ cấu sản phẩm khai thác phục vụ XK đã liên tục tăng từ khoảng
5% trong những năm trƣớc đây đến 30 – 35% vào năm 2005, 2006. Thị trƣờng XK TS là
động lực kích thích sự phát triển nuôi trồng TS. Nuôi trồng TS đã trở thành hƣớng chính
của việc chuyển đổi các vùng diện tích SX nông nghiệp kém hiệu quả thành những vùng
SX nguyên liệu lớn phục vụ cho ngành CB TS XK. Hàng TS VN hiện đã có mặt tại gần
100 nƣớc và vùng lãnh thổ.
17
Cả nƣớc hiện có 439 nhà máy CB TS XK, trong đó có 171 DN đƣợc xếp vào danh
sách 1 XK vào EU, 300 DN áp dụng quy trình quản lý chất lƣợng sản phẩm theo HACCP,
đủ tiêu chuẩn XK vào thị trƣờng Mỹ, 222 DN đạt tiêu chuẩn XK sản phẩm vào Hàn Quốc,
295 DN đạt tiêu chuẩn XK vào Trung Quốc
Bên cạnh vai trò nòng cốt của đội ngũ doanh nhân, lực lƣợng khoa học công nghệ
đã có đóng góp to lớn. Từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trƣớc, công nghệ
sinh sản tôm sú nhân tạo đã đƣợc du nhập và phát triển thành công ở miền Trung, sau đó
nhân ra cả nƣớc, tạo tiền đề cho phong trào nuôi tôm phát triển, là cơ sở để có đƣợc
nguồn nguyên liệu chủ yếu cho CB, XK TS. Đến nay, giá trị ngành CB tôm ( đƣợc thể
hiện rõ nhất ở giá trị tôm XK) chiếm hơn 50% tổng kim ngạch XK TS.
Giá trị XKTS chính ngạch tháng 12 của cả nƣớc đạt 324,7 triệu USD, giảm 1,7%
so với cùng kỳ năm ngoái; Cả năm 2008 đạt 4509,4 triệu USD (gồm cả lũy kế), tăng
19,8%. Năm 2009, giá trị XK TS chính ngạch tháng 12 của cả nƣớc đạt 387,3 triệu USD,
tăng 19,3% so với cùng kỳ năm ngoái; Cả năm 2009 đạt 4.251,3 triệu USD (gồm cả lũy
kế), giảm 5,7%. Năm 2010, Giá trị XK TS chính ngạch của cả nƣớc tháng 12/2010 đạt
513,6 triệu USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm trƣớc, cả năm 2010 đạt 5 tỷ USD (gồm cả
lũy kế), tăng 18,4%.
Tình hình sản xuất của ngành chế biến tôm ở Việt Nam hiện nay II.2
Nhiều nhà chuyên gia cho rằng, nuôi trồng và CB tôm là một trong những ngành
lƣơng cho ngƣời lao động nên rất khó giữ ngƣời lao động làm việc lâu dài Vì thế, DN
chỉ SX cầm chừng, ngƣời nuôi không dám mở rộng và đầu tƣ SX.
Vì vậy, để ngành CBTS, đặc biệt là ngành CB tôm có thể phát huy hết năng lực và
đứng vững trên thị trƣờng QT cần phải có sự tham gia, đồng thuận của các DN, cơ sở CB
và sự giúp đỡ của NN, các cơ quan quản lý của NN chuyên ngành CB TS. Về phía DN,
cơ sở CB cần phải cải tạo, nâng cấp nhà xƣởng, công nghệ, tạo thƣơng hiệu bền vững và
phát triển lâu dài. Về phía các cơ quan quản lý NN, cần hình thành các cơ quan tƣ vấn để
giúp DN cải thiện điều kiện SX, đổi mới công nghệ, thực hiện các chính sách hỗ trợ vốn,
19
các thủ tục xuất nhập khẩu,… Tận dụng các cơ hội và phát huy tối đa các nguồn lực là
một trong những điều kiện cần để phát triển ngành CN CB tôm cũng nhƣ đảm bảo lợi ích
cho đất nƣớc và cho chính các DN.
20
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH CHẾ
BIẾN TÔM Ở VIỆT NAM
Năm 2008, đánh dấu thời kỳ đỉnh cao của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, cũng
đánh dấu một năm kể từ khi VN gia nhập WTO. Cuộc khủng hoảng đã tác động sâu sắc
đến mọi nền kinh tế trên thế giới, lạm phát tăng cao; tỷ lệ thất nghiệp, ngay tại các cƣờng
quốc kinh tế nhƣ Mỹ, lên cao đến mức chƣa từng thấy trong một thập kỷ trở lại đây; chi
tiêu của ngƣời dân giảm mạnh tại cả các quốc gia vốn nổi tiếng với việc chi tiêu vung phí.
Trƣớc tình hình đó, ngành CB tôm VN vẫn đạt đƣợc sự tăng trƣởng tổng kim ngạch xuất
khẩu trên 18% với mức tăng đáng kể tại thị trƣờng Mỹ (15%), đặc biệt tại EU (51%),
những khu vực vốn là trung tâm của cuộc khủng hoảng. Kim ngạch xuất khẩu tôm VN đã
có bƣớc tăng vƣợt bậc so với năm 2007 (1,7%). Điều này đã khẳng định khả năng thích
ứng của ngành CB tôm nói chung và ngành CB tôm xuất khẩu của VN nói riêng, cũng
nhƣ năng lực cạnh tranh của ngành CB tôm VN tại thời điểm này. Trong phạm vi đề tài
này, nhóm nghiên cứu sẽ lấy năm 2008 làm điều kiện để so sánh lợi thế cạnh tranh
trong các năm tiếp theo.
I. Điều kiện về yếu tố sản xuất
Số lƣợng các DN có quy mô dƣới 1 tỷ VNĐ có xu hƣớng giảm đi, đặc biệt là DN
có quy mô vốn dƣới 0.5 tỷ VNĐ. Số lƣợng các DN TS có quy mô vốn trên 1 tỷ VNĐ có
xu hƣớng tăng lên, đặc biệt là số lƣợng các DN có quy mô vốn từ 1-5 tỷ. Đến năm 2008,
DN TS có quy mô vốn từ 1-5 tỷ VNĐ chiếm đa số trong cơ cấu DN TS VN. DN có quy
mô vốn trên 500 tỷ rất ít, chỉ có 1 DN.
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
<0.5 tỷ
0.5-1 tỷ
1-5 tỷ
5-10 tỷ
10-50 tỷ
50-200 tỷ
200-500 tỷ
>500 tỷ
22
Hình 7: Cơ cấu các DNTS phân theo quy mô vốn từ 2000-2008
Nguồn: tổng cục thống kê
Vốn huy động trên thị trƣờng chứng khoán
Có 24 DNCBTS niêm yết trên các sàn chứng khoán, với tổng giá trị vốn thị
> 1500 tỷ
23
Nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành TS là 541.4 triệu USD với 163
dự án, chiếm 0.28% tổng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài cả giai đoạn 1988-2009, riêng
năm 2009 là 6 triệu USD vào ngành TS với 1 dự án.
I.2 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Việt Nam là một QG nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, ở vị trí trung tâm KV Đông
Nam Á và ở bờ biển phía Tây Thái Bình Dƣơng với đƣờng bở biển dài 3260 km, phần
lãnh hải và đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km
2
. Hải phận của Việt Nam giáp với Trung
Quốc, Philipin, Brunây, Inđônêxia, Malaixia, Campuchia và Thái Lan. Việt Nam là cửa
ngõ phía Đông vƣơn ra biển của các nƣớc vùng bán đảo Đông Dƣơng và cũng là nơi hội
tụ nhiều thuận lợi cho giao thƣơng bằng đƣờng biển với các nƣớc trên thế giới. Đặc biệt
hơn cả, Việt Nam nằm giáp phía Nam Trung Quốc - một QG với trên 1,3 tỷ dân đang là
nƣớc có tốc độ tăng trƣởng kinh tế nhanh nhất thế giới, đồng thời là thị trƣờng tiêu thụ
TS có tốc độ tăng trƣởng cao trên thế giới.
Điều kiện tự nhiên
VN có khí hậu nhiệt đới gió mùa, do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu VN đƣợc điều
hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tƣơng đối
trung bình cả năm là 84%. Lƣợng mƣa hàng năm từ 1.200 đến 3.000 mm; số giờ nắng
khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ dao động từ 5°C đến 37 °C. Lãnh thổ VN
nằm trọn trong vùng nhiệt đới, và nằm ở rìa phía Đông Nam của phần lục địa châu Á,
giáp với biển Đông nên chịu ảnh hƣởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa.
Khí hậu VN chia thành ba miền chủ yếu. Miền Bắc VN (gồm Trung du và miền
núi Bắc Bộ và Đồng bằng sông Hồng): Có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa xuân,
hè, thu, đông rõ rệt. Miền Trung VN: Đƣợc chia ra làm hai vùng khí hậu là Bắc Trung Bộ
24