Các chỉ tiêu và nhân tố đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp giấy Việt Nam - Pdf 27

MỤC LỤC
Lời nói đầu
Từ xa xưa, trước khi giấy viết ra đời, con người đã biết viết, biết vẽ trên
nhiều chất liệu khác nhau như đá, mai rùa, xương thú vật, đất sét, đất nung,
thẻ tre, nứa, trúc, lá cọ, lụa, đồng,
Ngày nay, người ta đã khẳng định một người Trung Quốc tên là Thái
Luân sống vào đầu thời Hán chính là người đầu tiên phát minh ra giấy. Ông
được người Trung Quốc tôn làm ông Tổ của nghề làm giấy. Theo một thư tịch
cổ nước ngoài, nước ta đã có nghề làm giấy từ thế kỉ III (sau CN). Người Giao
Chỉ thời đó đã biết dùng gỗ mật hương để chế tác thành một loại giấy bản tốt,
gọi là giấy mật hương. Một tài liệu khác nói rằng: Khoảng năm 284 các lái
buôn La Mã đã mua được hàng vạn tờ giấy mật hương của ta. Theo sách
“Thập dị kí” của Vương Gia người Trung Quốc (thế kỉ IV) cũng cho biết:
người Giao Chỉ đã biết làm giấy từ rong rêu lấy từ lòng biển, gọi tên là giấy
Trắc Lí
Giấy viết ra đời thực sự đánh dấu một bước phát triển cao của khoa học -
kỹ thuật và đưa loài người bước vào kỷ nguyên văn minh. Giấy là loại sản
phẩm đặc biệt, phục vụ rộng rãi các lĩnh vực từ văn hoá, giáo dục, sản xuất
công nông nghiệp đến những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của con người. Vì
thế, đã có lúc người ta đánh giá trình độ văn minh của một quốc gia qua lượng
tiêu thụ giấy bình quân đầu người của nước đó. Vì vậy, các doanh nghiệp giấy
đã trở thành một các doanh nghiệp được xã hội dành cho nhiều ưu đãi. Các
doanh nghiệp giấy Việt Nam cũng vậy, cũng được Nhà nước dành cho rất
nhiều ưu đãi và đã có một quá trình phát triển khá lâu dài.
Hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang là một xu thế
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra
những cơ hội thuận lợi đồng thời cũng đặt ra những thách thức trong cạnh
2
tranh đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, cũng như đối với từng các doanh
nghiệp và từng đơn vị sản xuất kinh doanh nói riêng, các doanh nghiệp giấy
Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.

Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002, định nghĩa cạnh tranh đối với
một quốc gia là: “khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và
bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao
được xác định bằng thay đổi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người
theo thời gian”.
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh cố gắng kết hợp cả
các doanh nghiệp, các doanh nghiệp, và quốc gia: “khả năng của các doanh
nghiệp, các doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu
4
nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, nó là động lực thúc đẩy
sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải
nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để từ đó luôn phát huy nội lực, nâng cao
chất lượng phục vụ khách hàng. Mặt khác, tránh cạnh tranh bất hợp pháp dẫn
đến làm tổn hại lợi ích của cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình.
1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Tóm lại có thể hiểu một các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu có
“năng lực duy trì, mở rộng được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường
trong và ngoài nước”.
2. Các chỉ tiêu và nhân tố đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh
nghiệp
2.1. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp
3 câu hỏi cơ bản khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một các doanh
nghiệp là:
- Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp như thế nào ?
- Những nhân tố nào thúc đẩy hay có đóng góp tích cực, còn những nhân tố
nào hạn chế hay có tác động tiêu cực đến năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp ?
- Những vấn đề gì cần đặt ra cho chính sách để nâng cao năng lực cạnh

nào. Các doanh nghiệp có thể kiểm soát được các nhân tố như chiến lược phát
triển, chủng loại sản phẩm, sử dụng công nghệ gì, đào tạo nhân lực, nghiên
cứu và phát triển Chính phủ kiểm soát các nhân tố như môi trường kinh
6
doanh (thuế, lãi suất, tỷ giá), nghiên cứu và phát triển, đào tạo & giáo dục
Các nhân tố như giá đầu vào, các điều kiện về cầu, môi trường thương mại
quốc tế thì cả Chính phủ, các doanh nghiệp đều chỉ có thể kiểm soát được một
phần.
Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống,
đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và
một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc). Đây là một nhân tố khá tổng hợp nói
lên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội. Năng suất
lao động, trình độ công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực và hiệu quả sản
xuất của các doanh nghiệp trong các doanh nghiệp. Năng suất lao động, trình
độ công nghệ yếu kém thì khó có thể cạnh tranh nổi trong nền kinh tế thị
trường hiện nay.
Về nhân tố các yếu tố đầu vào, đây là việc các doanh nghiệp tìm kiếm
cho mình một nguồn cung ứng tốt nhất, đầy đủ, thường xuyên nhất và chi phí
cho các yếu tố đầu vào nhỏ nhất. Trong cơ chế thị trường, nhiều nhà cung ứng
và nhiều doanh nghiệp cùng có nhu cầu về một số yếu tố đầu vào nhất định sẽ
song song tồn tại cùng một lúc. Mỗi nhà cung ứng có một mức giá cho các
yếu tố đầu vào khác nhau, do đó, các doanh nghiệp sẽ chọn cho mình một nhà
cung ứng có mức giá thấp cũng như có dịch vụ cung ứng tốt. Tuy nhiên, để
tránh tình trạnh có nhà cung ứng độc quyền các doanh nghiệp nên chọn cho
mình một số nhà cung ứng trong đó có một nhà cung ứng chính. Điều này vô
hình chung sẽ dẫn tới một số nhà cung ứng có giá cao sẽ bị loại bỏ. Vì vậy tạo
lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp hay doanh nghiệp, vì chi phí nguyên
vật liệu cũng nằm trong giá thành sản phẩm, chủ động được đầu vào đã tạo
thuận lợi cho ta trước đối thủ cạnh tranh.
Nhân tố giá cả hàng hoá, dịch vụ: Giá cả của một sản phẩm trên thị

đương đầu với quá nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài có ưu thế hơn hẳn
8
trong việc tạo ra hay cung cấp sản phẩm có chất lượng cao. Một khi chất
lượng sản phẩm không được đảm bảo đồng nghĩa với doanh nghiệp dần mất
đi khách hàng, mất đi thị trường và nhanh chóng đứng bên bờ phá sản.
Sự đa dạng của các chủng loại sản phẩm: Một doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh tốt là phần lớn những doanh nghiệp đã thực hiện đa dạng hoá
sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp luôn được hoàn thiện không ngừng để
có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng,
mẫu mã, bao bì, đồng thời tiếp tục duy trì các loại sản phẩm hiện đang là thế
mạnh của doanh nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng luôn nghiên cứu
các sản phẩm mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá.
Việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của các doanh nghiệp không chỉ để đáp
ứng nhu cầu thị trường, thu nhiều lợi nhuận mà còn có thể phân tán được rủi
ro trong kinh doanh.

II. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Giấy Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
1. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp giấy trong giai đoạn hiện
nay
1.1 Sản lượng
Để đáp ứng nhu cầu đời sống của người dân ngày một nâng cao, từ năm
2000 đến năm 2008, sản lượng giấy của các doanh nghiệp giấy Việt Nam tăng
trưởng liên tục từ 408.000 tấn năm 2000 lên 1.310.000 tấn năm 2008. Năm
2000, tiêu thụ giấy bình quân đầu người là 7,6 kg, đến 2008 đã đạt 24 kg. Tuy
nhiên, số lượng giấy nhập khẩu cũng không ngừng tăng, năm 2000 chỉ nhập
183.000 tấn thì 8 năm sau con số này đã gấp hơn 4 lần ( 740.000 tấn). Theo số
liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, tháng 9/2008 lượng giấy
nhập khẩu các loại đạt 64,8 ngàn tấn với trị giá 59,24 triệu USD, tăng 6,6% về
lượng và tăng 6,45% về trị giá so với tháng 8/2008 nhưng so với tháng 9/2007

( nghìn
tấn)
408 445 468 530 787 850 959 1.12
0
1.31
0
1.56
0
Bột giấy
(nghìn tấn)
174 197 252 232 281 290 300 355 465 542
Tiêu thụ
giấy
(nghìn tấn)
591 660 750 971 1.22
0
1.33
1
1.56
6
1.80
0
2.05
0
2.43
0
Dân
số(triệu
người)
77,7

21,3
3
24,0
0
28.1
8
Nhập
khẩu(nghì
n tấn)
183 215 282 441 433 481 607 680 740 690
Thị
phần(%)
69,0
4
67,4
2
62,4
0
54,5
8
64,5
1
63,8
6
61,2
4
62,2
2
63,9
0

tranh trực tiếp của các doanh nghiệp giấy Việt Nam có quy mô sản xuất lớn
hơn rất nhiều. Mỗi năm, Indonesia làm ra tới hơn 10 triệu tấn giấy các loại.
Trên đất nước này có những nhà máy như Indo Kia mỗi năm làm ra 2 triệu tấn
giấy. Còn Thái Lan, cũng có nhiều DN sản xuất giấy rất lớn, như Nhà máy
giấy của tập đoàn Advanced Agro Public làm ra 400.000 tấn giấy/năm
1.2.2 Trình độ trang thiết bị
Quy trình sản xuất của nhiều nhà máy giấy trong khu vực, nhất là các nhà
máy giấy ở Thái Lan, Inđônêxia đã được tự động hoá ở nhiều công đoạn.
Công nhân vận hành gần như chỉ đóng vai trò giám sát, dự đoán và ngăn ngừa
sự cố trục trặc của hệ thống điều khiển. Trong khi đó, tại Việt Nam, hầu như
các công đoạn đều là thủ công, người công nhân phải trực tiếp đứng máy nên
12
năng suất lao động rất thấp.
Các dây chuyền sản xuất bột giấy và giấy ở Việt Nam có thể chia thành 4
nhóm công nghệ:
- Nhóm 1: công nghệ tương đối hiện đại. Gồm các nhà máy Bãi Bằng,
Tân Mai, Đồng Nai và New Toyo. Tổng công suất sản xuất giấy của 4 nhà
máy chiếm 49,4% và chiếm 26,7% công suất bột giấy toàn các doanh nghiệp.
- Nhóm 2: công nghệ trung bình. Gồm các nhà máy Đồng Nai, phần dây
chuyền cũ của nhà máy Tân Mai, Bình An, Linh Xuân, Thủ Đức, Việt Trì.
Các nhà máy này sử dụng công nghệ của những năm 60-70 thế kỷ trước. Các
Công ty này chiếm 10,3% tổng công suất sản xuất bột giấy và 10,9% giấy.
- Nhóm 3: công nghệ cổ điển. Gồm các doanh nghiệp không ở 2 nhóm
trên, thiết bị công nghệ chủ yếu của Trung Quốc, Đài Loan từ những năm 50-
60 của thế kỷ trước và do Việt Nam tự chế. Tổng công suất sản xuất bột giấy
và giấy chiếm 32,8% và 47,5% toàn các doanh nghiệp.
- Nhóm 4: công nghệ lạc hậu. Gồm các cơ sở còn lại, sử dụng công nghệ
lạc hậu, chắp vá và đa số là thiết bị tự chế.
1.3 Sản phẩm
1.3.1 Chất lượng sản phẩm

Trong nhóm giấy in, giấy viết có các sản phẩm giấy tráng phủ là những
sản phẩm phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam cho đến nay mới có Công
ty Giấy Tân Mai đầu tư sản xuất. Nhu cầu sản phẩm này hiện rất cao, phải
nhập ngoại 100%.
Sản phẩm giấy bao bì công nghiệp : đây là nhóm sản phẩm có nhu cầu
cao. Các doanh nghiệp giấy Việt Nam đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu về các
tông sóng phục vụ bao gói công nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng giấy bao bì
công nghiệp sản xuất trong nước chỉ đạt ở mức trung bình và thấp do công
nghệ sản xuất lạc hậu, đầu tư chắp vá, suất đầu tư thấp. Các doanh nghiệp sản
14
xuất hàng hoá có thương hiệu mạnh, các liên doanh có đầu tư nước ngoài
thường sử dụng giấy bao bì nhập khẩu.
Sản phẩm giấy vệ sinh: đây cũng là một loại sản phẩm có nhu cầu phát
triển rất mạnh trong những năm gần đây. Trong nước hiện nay giấy vệ sinh
được sản xuất hầu hết ở các dây chuyền với quy mô nhỏ từ vài trăm đến vài
nghìn tấn/năm. Trong khoảng vài năm trở lại đây chất lượng sản phẩm loại
này đã được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư nâng cấp để cạnh tranh với sản
phẩm nhập khẩu. Hiện nay giấy vệ sinh được sản xuất trong nước với chất
lượng khác nhau đã cơ bản chiếm lĩnh thị trường trong nước.
Còn các sản phẩm như giấy bao bì chất lượng cao, giấy in tráng các loại
và các loại giấy cao cấp khác hiện đang có nhu cầu rất cao, hàng năm vẫn phải
nhập khẩu với số lượng lớn thì chưa được chú ý đầu tư. Chính sự mất cân đối
trong đầu tư, trong việc đa dạng hoá sản phẩm này đã cho thấy tính ì rất lớn
trong tư duy kinh doanh của các doanh nghiệp giấy. Sự thiếu linh hoạt trong
sản xuất kinh doanh đã làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
giấy Việt Nam.
1.3.3 Giá thành sản phẩm :
Giá thành sản phẩm giấy của các doanh nghiệp giấy Việt Nam cao là một
trong những nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp. Nguyên nhân của
vấn đề này là do nhiều yếu tố như chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí tiền

đã quan tâm đến việc nâng cao trình độ người lao động, nhưng đội ngũ cán bộ
kỹ thuật có trình độ cao, am hiểu về chuyên môn vẫn còn rất mỏng. Do đó,
các doanh nghiệp này đã phải dùng nhiều bù ít, nghĩa là để đảm bảo cho quá
trình sản xuất kinh doanh diễn ra suôn sẻ, các doanh nghiệp phải huy động
một đội ngũ lao động đông đảo thay vì sử dụng vừa đủ số nhân viên có trình
độ cao. Lấy ví dụ: ở Inđônêxia, một nhà máy giấy sản xuất đến 500.000 tấn
bột giấy/năm nhưng chỉ có hơn 300 công nhân. Hay ở Thái Lan, một nhà máy
16
có công suất 160.000 tấn giấy/năm chỉ có khoảng 300 nhân viên, trong đó chỉ
có hơn 100 nhân viên trực tiếp đứng máy, số nhân viên còn lại phụ trách các
công việc khác như quảng cáo, tìm nhà cung cấp nguyên vật liệu, tìm kiếm
khách hàng, nghiên cứu thị trường Còn ở Việt Nam, lấy công ty giấy Bãi
Bằng làm ví dụ: đây là một trong những doanh nghiệp được đánh giá là kinh
doanh có hiệu quả trong các doanh nghiệp giấy, vậy mà mỗi năm chỉ sản xuất
50.000 tấn bột giấy và 70.000 tấn giấy nhưng lại có đến 3.500 công nhân.
Công ty giấy Tân Mai có khá hơn nhưng vẫn cần đến 1000 công nhân.
1.5 Thị trường cạnh tranh quốc tế
Khi Việt Nam đã gia nhập WTO, những rào cản về thương mại sẽ bị xóa
bỏ, sản phẩm giấy của các nước có sức cạnh tranh cao sẽ được đưa vào Việt
Nam. Bên cạnh đó, môi trường đầu tư thông thoáng và cởi mở hơn, sẽ thu hút
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất giấy. Những sản phẩm giấy có
chất lượng cao, giá cả phù hợp sẽ có cơ hội phát triển, một số nhà máy giấy
100% vốn nước ngoài với quy mô trung bình 100.000 tấn/năm cũng sắp đi
vào hoạt động Điều này sẽ tạo ra khó khăn cho các cơ sở sản xuất giấy của
Việt Nam. Nhất là với những cơ sở nhỏ, sản xuất manh mún, công nghệ lạc
hậu và đặc biệt là các cơ sở sản xuất giấy bao bì sẽ không thể tồn tại được bởi
chất lượng không đáp ứng được nhu cầu.
Theo cam kết thì gia nhập WTO, Việt Nam sẽ giảm dần thuế suất nhập
khẩu, giấy in báo, giấy in, viết và các loại giấy khác từ 35% vào năm 2007
xuống còn 20% vào 2012. Với lộ trình kéo dài 4 năm như thế các nhà sản xuất

năm 2008 đạt 702.518 tấn với trị giá 579,1 triệu USD, tăng 15,55% về lượng
và tăng 33,43% về trị giá so với 9 tháng đầu năm 2007. Ngoài ưu thế giá cạnh
tranh, về mặt chất lượng giấy của Indonesia, Thái Lan,… cũng hơn hẳn giấy
trong nước về độ sáng trắng hơn, hút ẩm thấp hơn Điều này khiến cho khả
năng cạnh tranh của giấy nội địa gặp khó khăn rất lớn.
18
2 Những giải pháp đã áp dụng
2.1. Đổi mới công nghệ trong điều kiện cho phép
Việc đầu tư nâng cấp trang thiết bị mặc dù có tốn kém, nhưng hết sức
quan trọng và giữ vai trò then chốt để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại hay không.
Tổng vốn đầu tư của nhà nước dành cho các doanh nghiệp giấy trong giai
đoạn 2006 – 2020 là 95.569 tỷ đồng, các doanh nghiệp giấy đã tận dụng
nguồn vốn này để tập trung cải tiến, đổi mới công nghệ.
Đổi mới công nghệ có thể làm mở rộng quy mô sản xuất, giúp các doanh
nghiệp tận dụng được hiệu suất kinh tế theo quy mô. Các doanh nghiệp phát
triển theo hướng tập trung, phát triển những nhà máy lớn, cần loại bỏ dần các
nhà máy quy mô nhỏ dưới 30.000 tấn/ năm .
Đổi mới công nghệ cũng đã giúp nâng cao chất lượng, giúp đa dạng hoá
chủng loại sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí: nguyên nhiên
liệu, nhân công,…
Tuy nhiên các doanh nghiệp cần cân nhắc tình trạng, khả năng của mình
để lựa chọn giữa việc đầu tư mua mới trang thiết bị hay cải tiến những đây
truyền sản xuất lạc hậu. Để đầu tư một máy giấy mới đòi hỏi chi phí đầu tư rất
lớn. Chi phí này trung bình là 1.000-1.500 USD cho một tấn sản phẩm/năm
(tính cho riêng thiết bị). Như vậy để đầu tư một dây chuyền sản xuất giấy in
và giấy viết cao cấp 50.000 tấn/năm thì chi phí đầu tư thiết bị là từ 50-75 triệu
USD. Đối với Việt Nam chi phí này không phải là nhỏ. Vì vậy với những
doanh nghiệp có điều kiện chưa đảm bảo nên xem xét khả năng phục hồi nâng
cấp các máy giấy cũ hiện có hoặc mua một máy giấy cũ có khả năng phục hồi
thành máy giấy hiện đại với chi phí đầu tư thấp hơn 5-10 lần so với đầu tư

thủy lực tiết kiệm được 10% tiền điện, tương đương 53 triệu đồng mỗi năm.
Nếu so với chi phí đầu tư thì chỉ sau hơn một năm là thu hồi vốn. Hay lắp biến
20
tần cho động cơ bơm hút chân không, DN này đã tiết kiệm được 25% điện
năng tiêu thụ ở khâu này.
Cụ thể, giải pháp này đã giúp Công ty Thiên Trí tiết kiệm được 13,5 triệu
đồng tiền điện mỗi năm. Trong khi đó, chi phí đầu tư thực hiện giải pháp này
cũng chỉ khoảng 13 triệu đồng.
Quan trọng hơn đối với Công ty Thiên Trí là giải pháp thu hồi nước
ngưng ở dây chuyền xeo giấy, thay vì bỏ đi như trước đây, giúp DN tiết kiệm
được 25% lượng than tiêu thụ hằng năm, tương đương với 320 triệu đồng.
Đáng kể nhất là việc đầu tư hệ thống hầm trữ bột (7 hầm), để cho các
máy nghiền bột tập trung hoạt động trong giờ thấp điểm. Sau đó, đến giờ cao
điểm sử dụng lượng bột dự trữ này để cung cấp cho dàn xeo giấy để không
vận hành máy nghiền vào giờ cao điểm. Giải pháp này đã giúp cho Thiên Trí
tiết kiệm mỗi năm khoảng 1 tỉ đồng tiền điện.
3 Đánh giá ưu nhược điểm và nguyên nhân hạn chế.
3.2 Ưu điểm
- Các doanh nghiệp giấy Việt Nam tận dụng được nguồn nhân lực giá rẻ
nên có thể giảm được giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh với các đối
thủ quốc tế.
- Thị trường tiêu thụ giấy đang phát triển, khuyến khích các doanh
nghiệp mở rộng sản xuất và tăng sản lượng.
- Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp
giấy cũng đã cho thấy hiệu quả. Làm đầu ngành cho các doanh nghiệp sau đi
theo.
- Nhà nước cũng đã quan tâm và rót vốn đầu tư cho các doanh nghiệp
giấy. Ngoài ra còn có các khoản viện trợ đầu tư nước ngoài xây dựng khu khai
thác gỗ và chế biến bột gỗ.
3.3 Nhược điểm

22
giá thành cao, chất lượng giấy thấp, chủng loại giấy không phong phú. Vì vậy
để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp giấy cần nhiều
giải pháp đồng bộ.
23
III. Kiến nghị
1. Về phía nhà nước
Xây dựng chiến lược qui hoạch phát triển hợp lý cho các doanh nghiệp
giấy
Trong quy hoạch phát triển các doanh nghiệp Giấy cần quan tâm tình
hình thực tế của bản thân các doanh nghiệp giấy Việt Nam,vào tình hình thị
trường thế giới, tiến bộ khoa học công nghệ, … thì chiến lược phát triển có
thể đạt được kết quả tốt.
Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho các doanh nghiệp giấy, thúc đẩy
hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ
2. Về phía các doanh nghiệp giấy:
Tăng cường các biện pháp xúc tiến thương mại
Muốn sản phẩm tìm đến được với khách hàng, các công ty cần lập kế
hoạch ngay từ bước nghiên cứu thị trường. Không phải cứ thích gì thì sản xuất
cái đấy như trước đây, cần định hướng vào khách hàng, chỉ sản xuất những
sản phẩm mà nhu cầu thị trường đòi hỏi. Các công ty cần tích cực hơn nữa
trong việc tìm kiếm khách hàng thông qua các kênh thông tin như mạng
Internet, các công ty tư vấn, qua sự giới thiệu của các đối tác, Và quan trọng
nhất là các công ty phải tăng cường hoạt động tiếp thị và quảng bá sản phẩm.
Ngoài ra, các công ty nên tham gia các hội chợ triển lãm tổ chức trong và
ngoài nước để có thể quảng bá thương hiệu của mình đến với khách hàng
trong và ngoài nước. Việc xây dựng được một chiến lược marketing đúng đắn
đã đảm bảo phần lớn thành công của công ty.
Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp các doanh nghiệp giấy
Để tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, không cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status