!"#"$!"#%
&'()
#* +,-./0123456
Đối với Việt Nam cũng như trên thế giới, dịch vụ viễn thông luôn là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời là ngành có sự cạnh tranh sôi động và mạnh mẽ
nhất. Các doanh nghiệp viễn thông không ngừng ra đời và lớn mạnh. Trong xu thế phát
triển đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải coi cạnh tranh là điều quan trọng và không ngừng
nâng cao năng lực cạnh tranh trước các đối thủ để có thể tồn tại và phát triển vững mạnh.
Nhưng cạnh tranh như thế nào? Và làm sao để phát triển tốt năng lực cạnh trạnh ấy? Là
những câu hỏi mà nhiều doanh nghiệp đang quan tâm.
Tại Việt Nam với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp viễn thông đã làm thay đổi
bản chất của ngành viễn thông và làm cho dịch vụ này ngày càng phát triển để đáp ứng
được những yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Có lẽ chưa bao giờ thị trường thông tin
di động lại phát triển như một vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển đó là sự xuất hiện
và cạnh tranh của hàng loạt các nhà cung cấp dịch vụ như: Mobifone,Vinaphone
,Viettel,Vietnamobile, Beeline…. Mỗi nhà cung cấp có những chiến lược, chiến thuật để
chiếm lĩnh thị trường cũng như bảo vệ thị phần của mình làm cho cuộc chiến ngày càng trở
nên khốc liệt. Đồng thời, Việt Nam là thành viên chính thức của WTO nên trong tương lai
gần sẽ có thêm nhiều nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động thâm nhập vào thị trường
trong nước.
Thành lập từ năm 1993, MobiFone đã trở thành một trong những doanh nghiệp đầu
tiên khai thác dịch vụ thông tin di động, đánh dấu cho sự khởi đầu của ngành thông tin di
động tại Viêt Nam. Tuy là người đẫn đầu nhưng với sự phát triển của thị trường viễn thông
trong những năm qua đã tạo nên làn sóng cạnh tranh mạnh mẽ. MobiFone cần phải thuyết
phục, phải chứng minh cho người tiêu dùng thấy tính ưu việt của dịch vụ, sản phẩm của
mình so với đối thủ cạnh tranh, phải xây dựng quan hệ với khách hàng, xây dựng một hình
ảnh doanh nghiệp thân thiện. Và muốn làm được điều đó MobiFone cần phải hiểu nhu cầu
của khách hàng tốt hơn, cần truyền thông tốt hơn về những giá trị mà dịch vụ, sản phẩm của
họ mang lại, MobiFone cần hiểu rằng marketing không chỉ là chức năng trong hoạt động
của MobiFone so với đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về marketing của
MobiFone trong thời gian tới.
!" #!$%
& !" #%
$'()
!" #!$*##+
& !" #*##+
$'(,
!" #!$* #
& !" #* #
%. D64ST1818/6G1.QI?5F/<O?618/6G1 .QI
Các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh về marketing của MobiFone trên thành
phố Huế.
Đối tượng điều tra: khách hàng của Mobifone, Viettel và Vinaphone trên địa bàn
thành phố Huế
• *-.: Đánh giá năng lực cạnh tranh về marketing của MobiFone trên địa
bàn thành phố Huế đối với các đối thủ Viettel, Vinaphone.
• */: Địa bàn Thành phố Huế
• *0
Nghiên cứu các số liệu, thông tin đánh giá năng lực cạnh tranh về marketing
của MobiFone trên địa bàn thành phố Huế trong giai đoạn từ năm 2010 – 2014.
Các thông tin sơ cấp thu thập từ khách hàng từ 15/3/2014 đến 30/3/2014.
K*/SU18F/7F18/6G1.QI'
- Xử lý và phân tích số liệu bằng SPSS 16.0.
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty thông qua mô hình 5 tác lực cạnh tranh của
Để ước lượng cho tổng thể hoặc kiểm định các giả thuyết thống kê để suy ra cho tổng
thể dựa trên nghiên cứu chọn mẫu thì mẫu được chọn phải theo những nguyên tắc nhất định
được chứng minh là đảm bảo tính khách quan và có khẳ năng đại diện cho tổng thể nghiên
cứu (Hoàng Trọng 2011).
Dựa vào số thị phần MobiFone (48%), Viettel (35%), Vinaphone (15%) và tỷ lệ độ
tuổi của nhóm khách hàng.
--.#/ 0123
<18
#[$#\ #]$!K ![$%K %[$KK K[$[K
-C6-1A
16% 20% 18% 22% 24%
6A44A:
21% 22% 20% 19% 18%
61>
7% 17% 24% 26% 26%
2345 (670 !8 #)&,9
-45'(678.#/
<18 /HF/^1 _DC`18/N6
-C6-1A
48% 88
6A44A:
35% 64
61>
15% 28
Từ số lượng bảng hỏi trên nhóm sẽ đến các cửa hàng của MobiFone, Viettel,
Vinaphone để điều tra bảng hỏi.
/SU18F/7Fab:+cF/M14d./ZD:6XI
Sử dụng công cụ hỗ trợ là phần mền phân tích xử lý số liệu SPSS 16.0 để thực hiện
những phân tích cần thiết phục vụ cho nghiên cứu.
• Dùng kĩ thuật Frequencies của SPSS để tìm ra những đặc điểm của đối tượng