Áp dụng mô hình kim cương phân tích năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Thời gian gần đây, nền kinh tế thế giới đang có những bước tăng trưởng vô
cùng mạnh mẽ và nhanh chóng. Toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại đang dần trở
thành xu hướng chủ đạo, chi phối mọi hoạt động của nền kinh tế. Sự lớn mạnh rộng
khắp của xu hướng này một mặt đã tạo ra rất nhiều cơ hội, làm tiền đề cho sự cất cánh
của nền kinh tế các quốc gia, mặt khác nó cũng tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt trong
thị trường, tạo ra những thách thức đòi hỏi mỗi nước phải thực sự sáng suốt nhìn nhận
và đối phó. Đối với mỗi nền kinh tế, đánh giá đúng đắn năng lực cạnh tranh của
mình, hình thành và tăng cường các lợi thế cạnh tranh quốc gia trong các sản phẩm
chủ đạo trở thành chiến lược phát triển hàng đầu và có tính chất quyết định.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter hay mô hình khối
kim cương của Michael Porter là một công cụ được áp dụng một cách phổ biến và
rộng rãi trong việc xác định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp hay rộng hơn là của
mỗi quốc gia. Mô hình này chỉ rõ các yếu tố cấu thành nên thế mạnh cạnh tranh của
mỗi quốc gia, góp phần định hướng chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
Trong nội dung bài tiểu luận này, chúng em sử dụng mô hình kim cương của
M. Porter để phân tích năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc, một trong bốn con rồng
châu Á, đã đạt được tốc độ tăng trưởng thần kì vươn lên là nền kinh tế đứng thứ 15
trên thế giới và là nền kinh tế có sức cạnh tranh nhất châu Á (2011). Hàn Quốc nổi
tiếng với ngành công nghiệp đóng tàu đứng số một thế giới qua nhiều năm. Bên cạnh
đó, nằm trong chiến lược chính phủ về việc tăng mạnh tỉ trọng dịch vụ trong cơ cấu
nền kinh tế, ngành du lịch của Hàn Quốc cũng đang có những bước tiến vượt bậc và
ngày càng khẳng định được vị thế của mình.Vì những lý do trên, nhóm em xin được
triển khai đề tài “Áp dụng mô hình kim cương phân tích năng lực cạnh tranh của
Hàn Quốc” trên cơ sở ngành công nghiệp đóng tàu và ngành dịch vụ du lịch
Bài tiểu luận của chúng em gồm ba phần:
I. Khái quát về mô hình kim cương của Michael Porter
II. Áp dụng mô hình kim cương phân tích lợi thế cạnh tranh của Hàn Quốc
III. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc
I. Khái quát về mô hình kim cương của Michael Porter
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia do Micheal Porter đưa ra vào những năm

Hàn Quốc là đất nước nghèo tài nguyên, trước thập niên 60 -thế kỷ XX vẫn là
một đất nước chưa phát triển, chìm trong đổ nát của chiến tranh và khủng hoảng. Tình
hình đất nước chỉ thực sự thay đổi khi người dân Hàn bắt tay thực hiện kế hoạch 5
năm lần thứ nhất năm 1962. Sau thời kì này, Hàn Quốc đã bứt lên bậc thang phát triển
một cách thần tốc. Bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản năm 1965, tiến hành những
cải cách tài chính giữa thập kỷ 60, là căn cứ quân sự cung cấp vật tư cho cuộc chiến
tranh Việt Nam, tất cả đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Hàn Quốc cất cánh. Đến năm
1971, Hàn Quốc trở thành nước công nghiệp mới (NICs), nếu tính thu nhập quốc dân
đầu người, Hàn Quốc đã vượt CHDCND Triều Tiên và Philippin. Mặc dù xảy ra hai
cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970, Hàn Quốc vẫn đạt được tốc độ tăng
trưởng cao và đến cuối thập kỷ 70 đã vượt cả Malaysia (vốn được coi là quốc gia tiên
tiến thứ hai ở khu vực Đông Nam Á). Đến Thế vận hội mùa hè năm 1988, người ta đã
biết đến Hàn Quốc như một trong những quốc gia phát triển có thu nhập đầu người
cao nhất trên thế giới thuộc khối các nước như Israen, Hồng Kông, Singgapo và Đài
Loan (ba con rồng Châu Á). Đến năm 1995, Hàn Quốc trở thành quốc gia phát triển
lớn thứ ba sau Trung Quốc, Braxin tính theo quy mô kinh tế GDP. Năm 1996, Hàn
Quốc trở thành thành viên của OECD.
Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc giống
như là một huyền thoại về "Kỳ tích sông Hàn” và cho đến nay huyền thoại này vẫn
còn tiếp tục. Hàn Quốc hiện đang là nền kinh tế lớn thứ ba ở Châu Á và lớn thứ 15
trên thế giới. Trong năm 2005, giá trị thương mại Hàn Quốc đạt tới 545 tỷ đôla, đứng
thứ 12 trên thế giới. Hàn Quốc cũng có nguồn dữ trữ ngoại tệ lớn thứ 4. Mặc dù giá
dầu lửa cao và chi phí nguyên liệu ngày càng tăng, nền kinh tế Hàn Quốc vẫn đang
tăng trưởng ở một mức độ tốt. Ngoài ra, cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống
của nhân dân cũng được nâng cao rất nhanh trở nên ngang bằng thậm chí cao hơn các
quốc gia phát triển khác ở châu Âu và các nước Bắc Mỹ. Chỉ số phát triển con người
(HDI) đạt 0,912 vào năm 2006.
Duy trì sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc là những ngành công nghiệp then
chốt và đã được thế giới công nhận. Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới;
đối với chất bán dẫn: đứng thứ 3 thế giới; hàng điện tử: đứng thứ 4. May mặc, sắt thép

Lao động trong ngành đóng tàu Hàn Quốc có ưu thế về tay nghề và trình độ kỹ
thuật cao. Trung bình một lao động của Tập đoàn Huyndai có kinh nghiệm làm việc
19 năm tại xưởng đóng tàu. Lao động trong ngành đóng tàu không chỉ có kinh nghiệm
mà Hàn Quốc còn rất chú trọng đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, Hàn
Quốc đã có 14 trường đại học đào tạo lao động cho ngành đóng tàu với chương trình
giảng dạy 4 năm. Với nguồn đàu tư lớn của 3 tập đoàn đóng tàu lớn nhất của Hàn
Quốc vào các trường đại học và chính sách khuyến khích công tác nghiên cứu phát
triển công nghệ của Chính Phủ Hàn Quốc đã ngày càng tạo ra cho ngành đóng tàu
Hàn Quốc lực lượng lao động có uy tín và chất lượng cao, là yếu tố đầu vào cao cấp
của ngành - một yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh cho ngành đóng tàu Hàn
Quốc
• Trình độ khoa học công nghệ
Hàn Quốc luôn tự hào đi đầu trong ứng dụng công nghệ. Theo báo cáo điều tra
toàn cầu năm 2008, trình độ khoa học công nghệ của Hàn Quốc đã tăng 2 bậc và hiện
đang đứng ở mức thứ 5 thế giới. Vị trí này có được là do chính sách đầu tư hợp lý vào
hoạt động R&D ở cấp quốc gia. Một kênh trao đổi thông tin công nghệ được duy trì
trong toàn ngành thông qua các cuộc tiếp xúc giữa các kỹ sư đóng tàu. Đây là phương
pháp hữu hiệu để các kỹ sư có thể tiếp cận thông tin, nâng cao trình độ của mình. Các
doanh nhiệp Hàn Quốc luôn nỗ lực tìm biện pháp giảm thiểu khoảng cách về công
nghệ thông tin của nước mình so với thế giới. Công nghệ 3D, CAD đang được ứng
dụng và ko ngừng được cải tiến trong hoạt động của ngành. Với thế mạnh là một
cường quốc thông tin, Hàn Quốc còn kết hợp công nghệ đóng tàu với công nghệ IT để
phát triển những loại tàu mới như tàu thông minh có thể điều khiển từ đất liền và tàu
chở dầu phá băng mà không phải nơi nào cũng sản xuất được. Chỉ duy nhất các hãng
đóng tàu Hàn Quốc có thể làm ra những chiếc tàu đặc biệt như thế cùng nhiều loại tàu
khác đáp ứng theo đơn đặt hàng của chủ tàu.
b) Ngành du lịch
• Tài nguyên thiên nhiên
Với 4 mùa rõ rệt, địa hình đa dạng bao gồm cả núi, biển, đồng bằng và một nền
lịch sử lâu đời, Hàn Quốc là đất nước của những phong cảnh thiên nhiên kỳ thú và di

viên chủ đề đầu tiên lớn nhất ở Hàn Quốc và được xếp vị trí thứ 8 trong danh sách 10
công viên du lịch giải trí thu hút đông du khách nhất thế giới.
• Nguồn nhân lực
Hướng dẫn viên là nguồn nhân lực có giá trị nhất đối với ngành du lịch. Bởi lẽ
họ làm việc như là những đại sứ của đất nước. Tất cả các hướng dẫn viên du lịch đều
phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện mới được cấp giấy phép hành nghề. Họ sẽ
làm việc như một hướng dẫn viên quốc tế hoặc là như một hướng dẫn viên du
lịch trong nước. Theo thống kê thì hiện ở Hàn Quốc, có 10.396 hướng dẫn viên quốc
tế chịu trách nhiệm đối với các đoàn khách nước ngoài và 46.780 hướng dẫn viên du
lịch trong nước. Những con số này thể hiện một nguồn nhân lực hết sức dồi dào và
đông đảo, cực kì có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành du lịch Hàn Quốc
Về chất lượng, khảo sát hàng năm được tiến hành bởi Tổ chức du lịch quốc
gia Hàn Quốc (KNTO) đã chỉ ra rằng hầu hết các khách du lịch đều rất hài lòng với
vốn kiến thức chung của các hướng dẫn viên du lịch Hàn Quốc. Số lượng hướng dẫn
viên được đào tạo bài bản trong các trường ngày càng tăng cao. Hiện nay con số ấy
chiếm tới hơn 66,7%. Hầu hết tất cả các hướng dẫn viên đều thành thạo từ hai ngoại
ngữ trở nên. Những hướng dẫn viên thành thạo tiếng Nhật và tiếng Anh thì tương đối
nhiều, tuy nhiên thành thạo tiếng Trung Quốc thì đang thiếu. Hiện nay, một biện
pháp tạm thời nhằm giảm bớt tình trạng này đang được áp dụng là cấp giấy phép tạm
thời để những người Trung Quốc có thể trở thành hướng dẫn viên cho các đoàn khách
Trung Quốc.
• Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông đường bộ và vận tải biển
Để cải thiện khả năng tiếp cận, nhà nước đã tiến hành nhiều dự án xây dựng và
nâng cấp đường bộ, đường ray nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động giao thông vận
tải. Mạng lưới đường xe tải ở Hàn Quốc là khá rộng rãi và phục vụ chủ yếu là xe
tải và xe bus, nó chính là đại diện cho một chế độ vận chuyển rẻ tiền cho mọi người
dân địa phương
Ngoài ra, Hàn Quốc còn có một mạng lưới đường sắt kết nối tất cả các thành

phép nó có thể cạnh tranh thuận lợi với các sân bay lân cận như Narita của Nhật
Bản và Chek Lap Kok của Hồng Kông.
Trong năm 2011, hơn 70 hãng hàng không đến từ hơn 100 thành phố lớn trên
thế giới đã bay tới Hàn Quốc. Hiện nay, ở Hàn Quốc có hai hãng hàng không lớn là
Korean Air và Asiana Airlines. Korean Air, một trong số ít các hãng hàng không trên
thế giới có các chuyến bay đến cả 6 châu lục, là một thành viên của
SkyTeam và là một trong số 20 hãng hàng không lớn nhất trên thế giới, đã kết nối hơn
100 thành phố tại 40 quốc gia. Asiana Airlines được thành lập vào tháng 2
năm 1988 và là hãng hàng không lớn thứ hai của Hàn Quốc và hiện nay đang
phục vụ khoảng 70 thành phố tại 27 quốc gia. Cả hai hãng hàng không đều có uy tín
hoạt động và độ an toàn tương đối tốt. Sự cạnh tranh giữa hai hãng này
cũng ngăn cản tình trạng độc quyền và góp phần làm giảm áp lực về giá vé.
Như vậy, điều kiện về yếu tố sản xuất là một trong những nhân tố rất quan trọng
làm nên lợi thế cạnh tranh của Hàn Quốc. Tuy nhiên, với mỗi ngành lợi thế về điều
kiện này lại được biểu hiện ở các nhân tố cụ thể khác nhau. Đối với ngành đóng tàu,
lợi thế này tập trung chủ yếu vào điều kiện cơ sở hạ tầng, cụ thể là hệ thống các cảng
biển, trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến. Còn đối với
ngành du lịch, sự giàu có của tài nguyên thiên nhiên, sự đa dạng và phong phú về bản
sắc và văn hóa là nhân tố cơ bản nhất làm nên tiềm năng cạnh tranh. Ngoài ra sự phát
triển của hệ thống giao thông- vận tải cũng là nhân tố không thể thiếu đối góp phần
vào sự phát triển của ngành du lịch xứ sở Kim chi.
2.2 Điều kiện về cầu
a) Ngành đóng tàu
Hiện nay, khoảng 90% lượng tàu biển của Hàn Quốc được sản xuất đáp ứng
nhu cầu ngoài nước. Vì vậy cầu nội địa không phải nhân tố quan trọng duy trì lợi thế
cạnh tranh trong ngành công nghiệp đóng tàu của quốc gia này.
Năm Trong nước Ngoài nước
2000 3 500
2001 1 474
2002 496

tổng số hành khách đến với đất nước Hàn Quốc, trong khi các chuyến đi công tác và
các cuộc thăm tương ứng chỉ chiếm 3,4% và 0,6%. 21,9% còn lại bao gồm các hành
khách đến thăm gia đình và những người khác . Về con số cụ thể, ước tính tầm
khoảng 6.659.785 và riêng du khách đến từ Nhật Bản đã chiếm 46,9%.
Cầu nội địa ngày càng có sự gia tăng đặc biệt là trong kỳ nghỉ. Đó là một kết quả
của việc thu nhập tăng cao, thời gian giải trí nhiều hơn và sự thay đổi trong ý thức
của người dân. Năm 1999, theo thống kê, khoảng 33 triệu dân tức là khoảng 91,8%
người dân Hàn Quốc từ 13 tuổi trở lên đã đi du lịch ít nhất là một ngày trong năm,
tăng 5% so với năm 1997. Nhu cầu trong nước lớn (gấp khoảng sáu lần nhu cầu nước
ngoài) đã góp phần thúc đẩy sự đầu tư của các nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ du
lịch, đồng thời, nó cũng tạo ra những tác động hỗ trợ cần thiết cho ngành dịch vụ này
khi nhu cầu từ thị trường nước ngoài mới ở giai đoạn đầu tăng trưởng. Gần đây, các
chương trình và các gói du lịch trong nước đang có sự thay đổi, đáp ứng mục tiêu xây
dựng lối sống của người dân theo định hướng văn hóa trong một đất nước già hóa và
tuổi thọ ngày càng tăng cao.
Bên cạnh sự tăng cao trong nhu cầu, những thay đổi và đòi hỏi của du khách
cũng là điều kiện thúc đấy ngành du lịch ngày càng đa dạng hóa và mới mẻ hơn.
Trong các hình thức du lịch, hình thức du lịch gia đình hiện ngày càng tăng, các loại
hình du lịch cũng thay đổi từ tham quan ngắm cảnh đơn thuần sang loại hình du lịch
trải nghiệm thực tế. Quan niệm về một kỳ nghỉ cũng đã dần dần thay đổi. Không chỉ
đơn thuần là để nghỉ dưỡng, hiện nay du khách đang dành sự quan tâm cho các tour
du lịch mang nhiều tính vận động hơn, ở đó du khách sẽ theo đuổi và đạt được sự hài
lòng thông qua các hoạt động sáng tạo như nghệ thuật, thể thao và các chương trình
tự phát triển bản thân. Làm gốm sứ và taekwando là một ví dụ về các hoạt động du
lịch hiện đàng ngày càng phổ biến ở Hàn Quốc. Triển lãm Gốm sứ 2001 đã thu hút
hơn 600.000 khách du lịch đến từ hơn 81 quốc gia trên thế giới tham dự.
Như vậy, đối với cả hai ngành, điều kiện về cầu đều là nhân tố đóng vai trò
tích cực đối với sự phát triển của ngành, góp phần tăng cường và nâng cao lợi thế
quốc gia. Tuy nhiên, đối với ngành đóng tàu, điều kiện về cầu ở đây chủ yếu chỉ là cầu
từ nước ngoài, cầu nội địa thực sự đóng vai trò không quan trọng lắm trong việc tạo

dẹt chiếm tỉ trọng khá cao trong tổng sản lượng khi so sánh với các loại thép khác.
Nguyên nhân là nhu cầu thép loại dài cho các công trình và việc xây dựng cơ sở hạ
tầng đang giảm còn sản lượng thép dẹt dùng trong ngành đóng tàu, máy móc và điện
tử lại tăng. Năm 2010 nhu cầu về thép cho ngành đóng tàu tăng 21,1%. Sự phát triển
và lớn mạnh của ngành thép thực sự sẽ tạo những tiền đề hết sức thuận lợi cho ngành
công nghiệp đóng tàu phát triển.
• Ngành cơ khí
Ra đời kể từ đạo luật khuyến khích phát triển ngành công nghiệp đóng tàu,
được thông qua năm 1967, ngành công nghiệp cơ khí đã phát triển nhanh chóng. Nhập
khẩu sản phẩm cơ khí giảm từ 62% năm 80 xuống còn 10% từ năm 2008, đứng thứ 8
thế giới về công nghiệp cơ khí. Hiện nay sản phẩm của ngành không chỉ đáp ứng nhu
cầu nội địa mà còn đóng góp vào giá trị xuất khẩu. Có khoảng 463 doanh nghiệp ở
Hàn Quốc cung cấp thiết bị đóng tàu, đứng đầu là Huyndai, Dossan…đáp ứng 90%
các bộ phận của tàu biển Hàn Quốc. Ngành cơ khí cung cấp đa dạng vật tư: vỏ tàu,
động cơ, máy chân vịt, thiế bị cắt, hàn. Tổng giá trị trang thiết bị tàu biển được cung
cấp nội địa năm 2007 là 7,3 tỷ đô la mỹ chiếm 85% sản lượng toàn ngành, xuất khẩu
đạt 1,3 tỷ đô mỹ. Chi phí về cơ khí chiếm 36% tổng chi phí các xưởng đóng tàu.
Hiện nay, tình hình thị trường thế giới đã làm gia tăng khuynh hướng các nhà máy
đóng tàu Hàn Quốc chuyển sang đóng những con tàu kỹ thuật cao và yêu cầu có công
nghệ chuyên sâu. Ví dụ điển hình là các loại tàu chở container, LNG, LPG, dầu sản
phẩm; tàu nạo vét, tàu chở khách du lịch cao cấp. Chính vì vậy đòi hỏi các doanh
nghiệp cơ khí đóng tàu của Hàn Quốc cũng phải tích cực đổi mới công nghê.
b) Ngành du lịch
• Ngành khách sạn
Ở Hàn Quốc, ngành công nghiệp khách sạn địa phương chủ yếu là phát triển từ
năm 1960 (20 khách sạn) đến 1990 (300 khách sạn). Hai mươi năm cuối cùng, rất
nhiều khách sạn siêu sang trọng thuộc chuỗi khách sạn quốc tế như Hyatt, Hilton,
Sheraton, Intercontinental, Marriott và tập đoàn Accor mở ra ở Seoul. Những năm sau
đó, ngày càng nhiều hãng khách sạn nổi tiếng xuất hiện ở Seoul(Ibis,Bestwestern ).
Một sự tăng trưởng đáng kể trong khách sạn đã diễn ra trong thời gian Thế vận hội

Hàn Quốc có 7 công ty đóng tàu lớn nhất thuộc hiệp hội các nhà đóng tàu Hàn
Quốc nằm trong top10 hãng đóng tàu lớn nhất thế giới và khoảng 58 công ty vừa và
nhỏ. Huyndai, Samsung và Daewoo là ba Tập đoàn đóng tàu lớn nhất của Hàn Quốc.
Thực tế này cho thấy khả năng cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty đóng tàu quốc gia
này.
Chính phủ Hàn Quốc tạo điều kiện phát huy năng lực của các doanh nghiệp
thông qua việc thành lập các Cheabol- một hình thức tập đoàn có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ. Các cheabol cạnh tranh gay gắt với nhau. Công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc có sự
tham gia của ba cheabol lớn nhất đó là: Huyndai, Samsung và Daewoo. Năm 2007, ba
cheabol này chiếm 68% thị phần tàu biển của các doanh nghiệp Hàn Quốc.
Các hãng tàu có quy mô khác nhau, chính sách về chủng loại sản phẩm cũng
ko giống nhau. 95% sản lượng tàu thủy do 8 tập đoàn lớn nhất đảm nhận. Các công ty
có quy mô lớn tập trung vào các loại tàu có giá trị gia tăng cao như tàu LNG, tàu
LPG, tàu container. 5%sản lượng còn lại của ngành đóng tàu Hàn Quốc do các hãng
tàu vừa và nhỏ đảm nhận. Các hãng này hướng tới tàu chở dầu bậc trung như tàu chở
hóa chất, tàu chở dầu, tàu chở hàng.
Tuy các hãng tàu có sự cạnh tranh mạnh mẽ nhưng họ sẵn sàng hợp tác với
nhau trong các lĩnh vực liên quan tới công nghệ để đánh bại các đối thủ nước ngoài.
Do đặc điểm ngành công nghiệp đóng tàu đòi hỏi nhiều thời gian và địa điểm sản xuất
rộng lớn nên các hãng đóng tàu nhận thấy phải lập các tổ hợp để tăng cường sự phối
hợp giữa các công đoạn sản xuất. Do đó, 60% các nhà sản xuất các thiết bị phục vụ
cho ngành công nghiệp này tập trung ở Gyangnam, nơi có quy tụ các xưởng đóng tàu
lớn như Huyndai, STX
b) Ngành du lịch
Sự tương tác giữa các các công ty đã định hình ngành du lịch Hàn Quốc. Sự
cạnh tranh khu vực và hợp tác hoạt động trở thành chiến lược quan trọng cho các công
ty trong ngành này.
Trong vận chuyển hàng không, đội bay của Asiana có kích thước bằng một
phần ba so với kích thước đội bay của Korean Air nhưng lại rất phù hợp với một số
tuyến đường không nhất định, chẳng hạn như có thể cạnh tranh với Mỹ bởi giá thấp

doanh nghiệp không ngừng đổi mới, nâng cao sức mạnh của bản thân mình trên thị
trường nội địa (chiến lược cạnh tranh) đồng thời cũng góp phần tạo dựng lợi thế cho
sản phẩm của quốc gia so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
2.5 Chính phủ
a) Ngành đóng tàu
Chính phủ Hàn Quốc đóng vai trò là nhân tố quan trọng trong việc định hướng và
hỗ trợ cho sự phát triển cúa công nghiệp đóng tàu. Chính phủ đã thông qua hàng loạt
các chính sách như: “Kế hoạch 5 năm tăng trưởng kinh tế”, đặc biệt là “kế hoạch 5
năm thứ 3 và thứ 4” (1971-1981) góp phần thúc đẩy nhanh chóng ngành công nghiệp
đóng tàu Hàn Quốc .
Ở giai đoạn đầu, chính phủ Hàn Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp tư nhân tham gia đầu tư cho ngành đóng tàu. Chính phủ can thiệp vào cơ chế
thị trường, trợ cấp trực tiếp, cung cấp tài chính dễ dàng, giành ưu đãi về các đơn đặt
hàng, kêu gọi đầu tư nước ngoài…Đồng thời, chính phủ Hàn Quốc cũng tập trung
phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa con tàu,
giảm giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đóng tàu. Kết
quả, kể từ những năm 1960, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Hàn Quốc đã có nhiều
sự thay đổi. Trong những năm 60, các sản phẩm nông, ngư nghiệp chiếm khoảng 1/4
tổng giá trị xuất khẩu và ngành dệt và hàng may mặc chiếm 1/3. Nhưng trong những
năm 2000, giá trị xuất khẩu của ngành may mặc đã giảm xuống chỉ còn khoảng 2%
trong khi công nghiệp đóng tàu và sản phẩm điện tử vươn lên, chiếm quá nửa tổng giá
trị xuất khẩu. Và cũng kể từ năm này, vượt qua những mặt hàng xuất khẩu thế mạnh
của Hàn Quốc như chất bán dẫn, điện thoại di động hay sản phẩm công nghệ thông
tin, công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc đã vươn lên chiếm vị trí số1trong cơ cấu xuất
khẩu. Một bản thống kê thương mại của Liên hợp quốc cho thấy, xuất khẩu của Hàn
Quốc đã thay đổi 84% từ những năm 1960 đến những năm 2000, là nước thay đổi
nhiều nhất trong số 97 quốc gia được điều tra.
Ở giai đoạn tiếp theo, trước xu hướng toàn cầu hóa và sự cạnh tranh gay gắt từ
nước ngoài đặt biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, chính sách hỗ trợ trực tiếp của Chính
phủ Hàn Quốc tỏ ra không còn hiệu quả như trước. Với chiến lược duy trì vị trí của

thể khác nhau đã được thành lập từ năm 1999.
Nội dung cụ thể của những kế hoạch này là:
Để nâng các sự kiện du lịch văn hóa từ tầm khu vực lên tầm quốc tế, chính
phủ đã hỗ trợ tài chính cho các lễ hội, chẳng hạn như lễ hội gốm Incheon và lễ
hội Chindo Yongdeungje.
Để cải thiện hệ thống thông tin du lịch, chính phủ đã thành lập 13 trung tâm
thông tin du lịch toàn diện khắp các tỉnh và thành phố ở Seoul, Kwanju và các tiểu
bang khác. Ngoài ra, chính phủ cũng nới lỏng hơn 60 quy tắc và luật lệ, bao gồm nới
lỏng chế độ quản lý giá cả của các chung cư, khu nghỉ mát và cho phép kinh
doanh nghi lễ đám cưới tại các khách sạn siêu sang trọng.
Nói tóm lại, dù là trong ngành đóng tàu hay dịch vụ ta cũng không thể nào phủ
nhận được vai trò quan trọng của Chính phủ. Bằng những chính sách và kế hoạch chủ
động, linh hoạt của mình, Chính phủ đã kịp thời định hướng phát triển, tạo môi trường
pháp lý, tác động tích cực tới các nhân tố hình thành nên những điều kiện thuận lơị,
góp phần tạo dựng lợi thế cạnh tranh của ngành. Bàn tay của Chính phủ là nhân tố cơ
bản đầu tiên cần phải được nhắc đến trong kì tích tăng triển kinh tế của Đại Hàn Dân
Quốc.
2.6 Cơ hội
a) Ngành đóng tàu
• Nhu cầu khí thiên nhiên hóa lỏng trên thế giới tăng cao
Nhu cầu khí thiên nhiên trên thế giới ngày một tăng cao. Thị trường khí thiên
nhiên toàn cầu tăng trưởng 3%/năm trong thời gian gần đây, trong khi đó LNG tăng
vọt với con số 7,3% trong năm 2007, đạt 165,3 triệu tấn. Tập đoàn Royal
Dutch/Shell dự báo đến năm 2025, nhu cầu khí sẽ cao hơn nhu cầu dầu mỏ.
Theo phương thức truyền thống, khí được vận chuyển cả bằng đường ống
hoặc được hóa lỏng và vận chuyển bằng tàu. Nhưng vì các mỏ khí thường ở quá xa
so với các thị trường lớn và do chi phí xây dựng đường ống rất tốn kém nên không
có nhiều khí để vận chuyển bằng đường ống. Điều này có nghĩa là vận chuyển LNG
bằng tàu hiện nay được ưa chuộng hơn.
Nhu cầu LNG ở châu Á sẽ tăng hơn 150 triệu tấn vào năm 2015 do nhu cầu

loại tàu, nên các hãng đóng tàu có công nghệ cắt giảm được lượng khí thải và ô nhiễm
tổng thể sẽ có một lợi thế đáng kể trong việc giành được đơn đặt hàng đóng tàu trong
tương lai. Điều quan trọng là Hàn Quốc phải phát triển được công nghệ và thiết bị
giúp kiểm soát được ô nhiễm môi trường từ những chiếc tàu đi biển chuyên dụng.
Bên cạnh đó, Hàn Quốc cũng cần phát triển công nghệ mới cho các tàu hoạt
động xa bờ bởi chỉ 20% vật liệu và thành phần liên quan của loại tàu này được phát
triển trong nước. Những loại tàu này được dự đoán sẽ có số lượng đơn đặt hàng tăng
lên khi nhu cầu khai thác tài nguyên xa bờ đang ngày càng cao. Nếu các hãng đóng
tàu của Hàn Quốc tập trung phát triển công nghệ tàu thân thiện với môi trường và tàu
hoạt động xa bờ, thì họ sẽ có thể duy trì được xu hướng then về tàu chuyên dụng giá
trị cao và giữ vững vị trí số 1 về đóng tàu trên thế giới.
b) Ngành du lịch
• Thái độ, quan niệm của hành khách
Cơ hội cho ngành du lịch hiện nay nằm ở chính thái độ của người dân Hàn
Quốc nói riêng, và toàn thế giới nói chung đối với việc du lịch. Người trẻ ngày này
có nhiều kì nghỉ lễ hơn,họ đi du lịch nhiều hơn và coi du lịch như một hình thức giải
trí không thể thiếu. Trong điều kiện hội nhập , giao thương quốc tế diễn ra thường
xuyên và rộng khắp, các chuyến đi đến một đất nước xa xôi không còn được coi là
quá khó khăn hay tốn kém.
• Giá vé giảm
Ngoài ra có một thực tế là từ tháng 3 năm 2009, các hãng hàng không Hàn
Quốc đã tiến hành cắt giảm phụ phí nhiên liệu, dẫn đến giá vé máy bay được giảm
đáng kể. Điều này rõ ràng là một cơ hội tốt cho ngành du lịch phát triển hơn nữa trong
thời gian tới.
Các cơ hội là rất quan trọng vì nó tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch
chuyển vị thế cạnh tranh. Ngành đóng tàu có cơ hội rất lớn khi nhu cầu về các loại tàu
chuyên dụng mà Hàn Quốc có khả năng sản xuất đang có xu hướng tăng cao. Xét về
ngành du lịch, chính thái độ và quan niệm của hành khách về du lịch đã mang đến
những cơ hội mới cho ngành này, chưa kể đến việc giá vé sắp tới có điều kiện giảm là
một cơ hội rõ ràng cho ngành du lịch phát triển. Nắm bắt được những cơ hội này là

-Cơ sở hạ tầng tốt
-Khoa học công nghệ tiến bộ
Chiến lược, cơ cấu và môi trường
cạnh tranh
-Cạnh tranh gay gắt giữa các doanh
nghiệp cùng ngành thúc đẩy sự phát
triển của ngành
-Sự hỗ trợ giữa các công ty cùng
ngành trong nước chống lại sự cạnh
tranh quốc tế
-Hợp tác quốc tế mở rộng thị
trường
Cơ hội
-Xu hướng tăng cao trong
nhu cầu nội địa và quốc tế
do những thay đổi trong xu
hướng quan tâm mới của
xã hội
KẾT LUẬN
Nghiên cứu mô hình kim cương của Michael Porter cho thấy năng lực cạnh
tranh của một quốc gia được định hình bởi rất nhiều các yếu tố. Mỗi quốc gia tùy vào
từng đặc điểm của mình mà xác định ra những nhân tố đóng vai trò trọng tâm, từ đó
phải củng cố xây dựng và xác định lợi thế cạnh tranh của mình. Hàn Quốc thực sự là
một đất nước đã làm được điều đó. Nhờ có việc xây dựng thành công và giữ vững
được lợi thế cạnh tranh của mình, Hàn Quốc mới có thể đạt được những bước chuyển
kì tích đến như vậy trong nền kinh tế. Tất nhiên, để tiếp tục đứng vững và vươn lên
mạnh mẽ hơn nữa trong nền kinh tế thế giới, Hàn Quốc cũng cần phải có những điều
chỉnh kịp thời, nhằm khắc phục những hạn chế ít nhiều còn đang tồn tại đồng thời
tăng cường hơn nữa những lợi thế vốn có của mình.
Câu chuyện của Hàn Quốc đã một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của

1
Đỗ Diệu Hương
(nhóm trưởng)
0951010460
- Tóm tắt cơ sở lý thuyết
- Nghiên cứu ngành du lịch Hàn Quốc
- Tổng hợp phân tích đánh giá năng lực
cạnh tranh của Hàn Quốc
- Điều chỉnh độ dài, chỉnh lý hình thức
toàn bộ văn bản
- Hoàn thành tốt
nhiệm vụ, đúng thời
hạn quy định
2
Trần Thị Kiều
Chinh
0951010376
- Nghiên cứu ngành du lịch Hàn Quốc
- Chỉnh lý nội dung, cách diễn đạt toàn bộ
văn bản
-Hoàn thành tốt
nhiệm vụ, đúng thời
hạn quy định
3
Nguyễn Bích
Ngọc
- Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc
- Nghiên cứu ngành đóng tàu Hàn Quốc
-Hoàn thành tốt
nhiệm vụ, đúng thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status