Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
1.Lý luận về năng lực cạnh tranh quốc gia
1.1. Khái niệm:
C
C
ó ba cấp độ của năng lực cạnh tranh bao gồm:
ó ba cấp độ của năng lực cạnh tranh bao gồm:
-
-
Năng lực cạnh tranh quốc gia;
Năng lực cạnh tranh quốc gia;
-
-
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp;
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp;
-
-
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia đã được hình thành như là
Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia đã được hình thành như làmột khái niệm phức hợp, dựa trên một chùm (cluster) các yếu tố khác
một khái niệm phức hợp, dựa trên một chùm (cluster) các yếu tố khácnhau. Trong các yếu tố chưa xét đến một số yếu tố quan trọng như độ lớn
nhau. Trong các yếu tố chưa xét đến một số yếu tố quan trọng như độ lớn1.2. Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc
gia
Hiện tại có 2 phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia được
áp dụng rộng rãi. Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn kinh tế thế giới(WEF)
thiết lập trong bản báo cáo cạnh tranh toàn cầu. Phương pháp thứ 2 do viện
quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đưa ra trong cuốn niên giám cạnh tranh
Thế giới.
- 1 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
Cơ sở phương pháp đánh giá được xác định bởi năng suất. GDP bình
quân đầu người được xem là thước đo chung nhất về năng suất quốc gia, có
quan hệ tới mức sống người dân và sự thịnh vượng của quốc gia. GDP bình
quân đầu người phụ thuộc vào mức vốn đầu tư đầu người và trình độ công
nghệ.
Theo WEF và IMD thì năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định bởi
8 yếu tố:
1- Mức độ mở cửa của nền kinh tế, bao gồm hoạt động thương
mại và đầu tư.
2- Vai trò của chính phủ
3- Năng lực tài chính - tiền tệ
4- Kết cấu hạ tầng
5- Trình độ công nghệ
6- Trình độ quản lý doanh nghiệp
7- Lực lượng lao động
8- Thể chế kinh tế - chính trị
8 yếu tố tổng quát đó được xác định thông qua các chỉ tiêu:
1. Mức độ mở cửa hay mức độ hội nhập của nền kinh tế bao gồm
các chính sách về xuất nhập khẩu, thu hút FDI, các dịch vụ hỗ trợ giúp
6. Quản lý doanh nghiệp được đo bằng số các doanh nghiệp đã xây
dựng được chiến lược kinh doanh (chiến lược mặt hàng, chiến lược chất
lượng sản phẩm, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lược về tài
chính và chiến lược tiêu thụ sản phẩm...). Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cần
nghiên cứu khả năng của các đối thủ cạnh tranh khác, để điều chỉnh chiến
lược cho phù hợp với thực tế của thị trường, khả năng của doanh nghiệp.
- 3 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
7. Vai trò của chính phủ thường được hiểu là mức độ can thiệp của
chính phủ vào hoạt động kinh doanh, như chính sách ưu đãi, ảnh hưởng
của các nhóm lợi ích đối với hoạt động của chính phủ, sự công khai minh
bạch về tài chính, tình trạng tham nhũng, mức độ quan liêu của công chức,
bộ máy của chính phủ, chính sách thuế và các biện pháp chống thất thu
thuế, lậu thuế của chính phủ. Đánh giá năng lực của chính phủ cần quan
tâm tới tỷ lệ tiết kiệm của ngân sách và bội chi ngân sách hàng năm.
8. Thể chế kinh tế chính trị được đánh giá thông qua mức độ phù
hợp của pháp luật đối với cơ chế thị trường, hệ thống luật pháp và sự thực
thi luật pháp. Trong kinh tế thị trường thì luật pháp chống kinh doanh độc
quyền, tạo môi trường cạnh tranh công bằng được đề cao. Ngoài ra, sự
khách quan, hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với các hợp
đồng kinh tế, vai trò của trọng tài tài chính cũng được xem xét.
Trong đánh giá những năm trước, chỉ tiêu cạnh tranh được phân theo
8 nhóm chỉ tiêu như trên với hơn 500 tiêu chí khác nhau. Gần đây (từ năm
2000), người ta nhóm lại thành 3 nhóm chỉ tiêu chính về môi trường kinh
tế vĩ mô, về khoa học công nghệ và về thể chế kinh tế; Mỗi nhóm trong ba
tiêu chí trên có trọng số như nhau. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được tham
khảo và tính toán từ kho dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, Quĩ Tiền tệ quốc
tế và các tổ chức, hiệp hội quốc tế khác. Phần quan trọng còn lại là kết quả
phỏng vấn các doanh nghiệp có qui mô toàn cầu về những tiêu chí khó
định lượng hóa bằng mô hình toán học ; và các chỉ tiêu này được tường
Theo các đánh giá của WEF :
Từ 2003, Việt Nam được đưa vào danh sách các nền kinh tế có khả
năng cạnh tranh, thứ hạng cạnh tranh toàn cầu GCI còn khiêm tốn.
- 5 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
Tính đến 2003,tiêu chí kinh tế vĩ mô đạt khá:đứng thứ 38 so với 80
nước so sánh(nhóm 2) .
nhóm thứ 5 (nhóm cuối) về khoa học công nghệ (đứng thứ 68/80)
nhóm thứ 4 (nhóm gần cuối) về thể chế công (đứng thứ 62/80)
Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index
- GCI) của VN - tức năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân ở tầm vĩ
mô - bị xếp 77/104 nền kinh tế (so với 60/102 nền kinh tế trong năm 2003);
năng lực cạnh tranh kinh doanh (Business Competitiveness Index - BCI), tức
năng lực cạnh tranh ở tầm kinh doanh doanh nghiệp, xếp 79/103 nước (so với
50/95 nền kinh tế trong năm 2003). Đây là mức tụt hạng mạnh nhất trong tất
cả các nền kinh tế được xếp hạng so với năm 2003, mức giảm sút 15 bậc về
GCI (năm 2003 so với nước xếp cuối VN hơn 42 bậc, năm 2004 so với nước
xếp cuối chỉ còn cách 27 bậc) và 21 bậc về BCI (năm 2003 cách nước xếp
cuối 45 bậc, năm 2004 cách nước xếp cuối 24 bậc), tụt hơn nhiều so với các
nền kinh tế khác trong khu vực như Thái Lan (bị tụt hai bậc) hay Hàn Quốc
(giảm 11 bậc).
Xem xét kỹ vào những tiêu chí của WEF về chỉ tiêu năng lực cạnh
tranh tăng trưởng (GCI) của VN ta thấy kết quả ba nhóm như sau:
Những tiêu chí chi tiết được đánh giá có lợi thế về năng lực cạnh tranh
tăng trưởng là:
Chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng: 77/104
Chỉ số xếp hạng môi trường kinh tế vĩ mô 58
Chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô 23
Chỉ số về mức độ chi tiêu lãng phí của chính phủ 68
Chỉ số về tín nhiệm tài chính của đất nước 68
38
(
*) xếp hạng trên 104 nền kinh tế
Những tiêu chí được đánh giá là kém lợi thế trong năng lực cạnh tranh
tăng trưởng là:
Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (*)
- 7 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
Môi trường kinh tế vĩ mô
Chỉ số về tín nhiệm tài chính của đất nước 2004 68
Mức độ lãng phí trong chi tiêu của chính phủ 68
Lạm phát 2003 52
Các thể chế công
Chi tiền ngoài pháp luật trong xuất, nhập khẩu 100
Chi tiền ngoài pháp luật trong thu thuế 97
Chi tiền ngoài pháp luật trong sử dụng các dịch vụ công 91
Luật tài sản 66
Tội phạm có tổ chức 61
Tính độc lập của tư pháp 59
Thiên vị trong quyết định của quan chức chính phủ 55
Công nghệ
Mức độ sử dụng bằng sáng chế công nghệ nước ngoài 99
Thuê bao Internet 2003 99
Chất lượng cạnh tranh trong dịch vụ cung cấp Internet (ISP) 96
Luật pháp liên quan đến CNTT 94
Sử dụng điện thoại di động 2003 89
Sử dụng máy tính cá nhân 2003 84
Hợp tác giữa trường đại học và nghiên cứu công nghiệp 82
Mức độ sẵn sàng về công nghệ 81
Tỉ lệ học sinh trung học phổ thông 81
10 nước thu hút FDI cao nhất châu Á trong hai năm 2004 và 2005. Đơn vị tính là tỉ USD (nguồn:
UNCTAD)
Thứ nhất, tuy dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng 25,5% từ năm 2004
sang năm 2005, tốc độ tăng trưởng này thấp hơn của toàn khu vực Đông Nam
Á (tăng 28,8% từ 19,9 tỉ lên 25,7 tỉ USD), cũng thấp hơn mức tăng trưởng của
toàn thế giới (tăng 28,9% từ 710,6 tỉ lên 916,3 tỉ USD).
Thứ hai, trong năm 2005 dòng vốn FDI Việt Nam thu hút được chỉ
chiếm 7,9% tổng vốn FDI chảy vào các nước Đông Nam Á, chỉ chiếm 0,6%
tổng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển, và chỉ bằng 0,22% tổng vốn
FDI toàn cầu trong năm 2005.
- 9 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
Thứ ba, xét về tổng lượng vốn FDI tính đến hết năm 2005, Việt Nam
chỉ chiếm 8,3% tổng vốn đã thu hút được của Đông Nam Á, 1,13% tổng
lượng vốn đã chảy vào các nước đang phát triển, và bằng 0,3% tổng lượng
vốn FDI đã đầu tư trên toàn thế giới.
Thứ tư, điểm tiến bộ là Việt Nam đã lọt vào danh sách top 50 nước có
các hiệp định đầu tư song phương (đã ký 48 hiệp định) và hiệp định tránh
đánh thuế hai lần (đã ký 45 hiệp định). Trong danh sách này, Trung Quốc đã
ký 117 hiệp định đầu tư song phương và 95 hiệp định tránh đánh thuế hai lần
với các nước khác.
Thứ năm, khi xếp hạng 141 nền kinh tế về hiệu quả đầu tư của vốn FDI
(trên cơ sở lấy số liệu của 3 năm liên tiếp), thứ hạng của Việt Nam tuy khá
cao nhưng đang tụt dần: hạng 46 (năm 2003), hạng 52 (năm 2004) và hạng 53
(năm 2005).
Về tiêu chí này, một số nền kinh tế quanh Việt Nam có thứ hạng rất cao
như Singapore (hạng 6, 7, và 5 trong ba năm liên tiếp), Hồng Kông (hạng 8, 6,
và 3 trong các năm từ 2003 đến 2005)
ạng
Đi
ểm
H
ạng
Đi
ểm
Chỉ số năng lực cạnh tranh
tổng hợp
77
3.
89
74
3.
91
-3
-0.
02
Thể chế
74
3.
62
63
3.
66
-1
1
-0.
04
Hạ tầng
90
3.
39
88
3.
32
-2
0.
07
Hiệu quả thị trường
73
4.
10
56
4.
12
-1
7
-0.
02
Sự sẵn sàng về kỹ thuật
85
2.
85
81
2.
74
-4
0.
11
số chuyển giao công nghệ và đánh giá tín nhiệm quốc gia thuộc nhóm có thứ
hạng giảm mạnh nhưng điểm số xếp hạng lại tăng đáng kể.
Việt Nam đã có sự tiến bộ đáng kể trong nhiều lĩnh vực có ảnh hưởng
lớn tới tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là chống tham nhũng. Tuy nhiên, những
tiến bộ đó vẫn chưa theo kịp được với những diễn biến của nhiều quốc gia.
Hơn nữa, mặc dù chống tham nhũng dường như bắt đầu được cộng đồng đánh
giá cao, nhưng lãng phí trong khu vực nhà nước vẫn là vấn đề nổi cộm và việc
chống lãng phí chưa thực sự tạo được niềm tin trong cộng đồng.
Bảng thay đổi thứ hạng qua các chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng
H
ạng năm
2006
H
ạng năm
2005
T
ăng
(+)/giảm (-)
hạng
H
ạng
Đ
iểm
H
ạng
Đ
iểm
H
ạng
Đ
8
8
1.
87
-6
-0
.01
Chỉ số công nghệ thông tin 8
4
2.
19
8
6
2.
04
2
0.
15
Chỉ số chuyển giao công nghệ 1
02
4.
08
6
9
3.
92
-3
3
0.
16
3.
16
-5
0.
25
Chỉ số môi trường vĩ mô 6
8
3.
88
6
0
3.
96
-8
-0
.08
Chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô 4
5
4.
75
3
4
4.
80
-1
1
-0
.05
Chỉ số đánh giá tín nhiệm 7
5
lượng tăng trưởng thấp càng trở nên bức xúc khi Việt Nam hội nhập ngày
càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Tháng 10/2007, Tập đoàn tư vấn AT Kearney và tạp chí Chính sách đối
ngoại đã công bố bảng xếp hạng “Chỉ số toàn cầu hóa”, là một trong những
bảng xếp hạng tổng hợp nhất và uy tín nhất để đánh giá về mức độ tham gia
quá trình toàn cầu hóa của mỗi quốc gia. Đây là lần đầu tiên VN có tên trong
danh sách xếp hạng, với vị trí 48/72 quốc gia và vùng lãnh thổ. 72 quốc gia và
vùng lãnh thổ có mặt trong danh sách năm nay chiếm tới 88% dân số thế giới
và 97% tổng thu nhập thế giới.
Việc xếp hạng dựa trên khảo sát bốn nhóm tiêu chí: hội nhập kinh tế
(thương mại và vốn), giao lưu con người (lao động, du lịch, kiều hối, điện
thoại quốc tế...), kết nối công nghệ (số người dùng Internet, số trang chủ
Interner, số máy chủ Internet), và tham gia vào chính trị thế giới (tham gia
các tổ chức quốc tế, các hiệp định quốc tế, đóng góp cho việc giữ gìn hòa bình
của Liên hợp quốc, và dòng vốn trao đối giữa các chính phủ).
- 13 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
Vị trí của Việt Nam
Tuy Việt Nam mới chỉ đứng hạng
48/72, nhưng một điểm đáng lưu ý là bảng
xếp hạng năm 2007 chủ yếu dựa trên số liệu
của năm 2005.
Với những bước nhảy vọt của Việt
Nam trong hai năm 2006 và 2007, bao gồm
việc gia nhập WTO, sự tăng đột biến về vốn
nước ngoài, cũng như mới đây nhất là trở
thành ủy viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc, hoàn toàn có cơ
sở để dự báo Việt Nam sẽ chiếm vị trí cao
hơn trong bảng xếp hạng năm tới.
giới: 57
Các tiêu chí cụ thể:
- Thương mại: 10
- FDI: 33
- Điện thoại: 63
- Du lịch: 64
- Kiều hối: 15
- Người dùng Internet:
46
- Địa chỉ Internet: 71
- Máy chủ Internet: 66
- Tham gia tổ chức quốc
tế: 56
- Đóng góp cho việc giữ
gìn
hòa bình của Liên hợp
quốc: 69
- Tham gia các hiệp định:
40
- Dòng vốn chính phủ:
41
Tổng hợp: 48
(Nguồn: AT Kearney)
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
tục giữ vững vị trí đứng đầu trong bảng xếp hạng, thì Hongkong đã chiếm vị
trí thứ hai do Thụy Sĩ giữ trong năm 2006.
Malaysia tuy xếp hạng 23/72, Philippines ở hạng 38, Thái Lan vị trí 53,
Indonesia ở vị trí 69/72.
Xét trên cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, năng lực
cạnh tranh của chúng ta đều yếu kém và tụt hậu.
Trong đó đăng ký kinh doanh mất 15 ngày, tốn 12,54 USD; đăng ký mã số
thuế mất 15 ngày, tốn 188 USD; mua hoá đơn VAT từ cơ quan thuế hoặc tự in
mất 15 ngày, tốn 0,88 USD khắc dấu mất 14 ngày; thành lập công đoàn mất
15 ngày...
Nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
và trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh
này. Chúng ta sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh mạnh hơn ở cả cấp độ quốc gia,
doanh nghiệp và sản phẩm, ở cả thị trường trong nước và quốc tế, trước hết là
ngay ở thị trường trong nước.
Bởi vậy, hệ thống các tiêu chí về năng lực cạnh tranh như: quản lý kinh
tế vĩ mô, cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật, cơ sở hạ tầng giao thông,
năng lượng, thông tin và nguồn nhân lực... nếu không kịp thời được hoàn
thiện thì tất yếu sẽ gây khó khăn, trở ngại rất lớn cho các nhà đầu tư trong
nước và quốc tế.
Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lại công bố báo cáo thường niên
về khả năng cạnh tranh toàn cầu của các quốc gia. 2007, vị trí xếp hạng
của Việt Nam là 68 trong danh sách 131 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Các trụ cột cho khả năng cạnh tranh toàn cầu
của Việt Nam
Chỉ tiêu
Xếp
hạng
Nhóm các yêu cầu căn bản 77
1. Tổ chức các thể chế 70
2. Cơ sở hạ tầng 89
3. Ổn định kinh tế vĩ mô 51
4. Giáo dục cơ bản và y tế 88
Nhóm các yếu tố nâng cao
hiệu quả
71
131 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm yếu tố có điểm thấp nhất là: mức thuế
nhập khẩu (hạng 117), sự bảo vệ nhà đầu tư (hạng 121), bản chất của lợi thế
cạnh tranh (hạng 126), sự kiểm soát về phân phối quốc tế (hạng 115), chất
lượng các trường dạy quản trị (hạng 120),
Đặc biệt, trong năm 2007 tổ chức WEF đã khảo sát ý kiến về 14 tiêu chí
thường bị coi là “tiêu cực”. Những người được hỏi ý kiến sẽ chọn ra 5 tiêu chí
“tệ nhất” đối với quốc gia được chọn.
Kết quả cho thấy, đối với Việt Nam, bốn yêu tố bị coi là “có vấn đề
nhất” gồm: tham nhũng, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu lao động có tay nghề, và
sự kém hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước.
Bốn tiêu chí bị đánh giá thấp kế tiếp là: khả năng tiếp cận nguồn tài
chính, tinh thần làm việc của công nhân trong nước, chính sách không ổn
định, và các qui định về thuế.
Tuy nhiên, có bốn tiêu chí bị coi là tiêu cực trên thế giới, nhưng được
nhìn nhận “ít có vấn đề” ở Việt Nam, đó là: trộm cắp và tội phạm, bất ổn định
chính trị, chính sách quản lý ngoại hối, chính sách hạn chế lao động.
Trong số 14 vị trí đứng đầu năm nay, Mỹ vẫn giữ vị trí đứng đầu nhờ
những chỉ số rất cao về giáo dục, công nghệ, và hệ thống quản lý. Liên tiếp 5
vị trí từ số 2 đến số 6 rơi vào tay châu Âu (lần lượt là Thụy Sĩ, Đan Mạch,
- 17 -
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Nhóm 1
Thụy Điển, Đức, và Phần Lan). Đông Á tự hào chiếm 5 vị trí (theo thứ tự là
Singapore, Nhật, Hàn Quốc, Hongkong, và Đài Loan).
Tuy nhiên, với Việt Nam, có lẽ sẽ dễ đánh giá kết quả hơn nếu chúng ta
so sánh vị trí của mình với các láng giềng.
Trong số các láng giềng, so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu
năm nay so với năm 2006, nhóm các nước tăng hạng gồm có Singapore (tăng
từ hạng 8 lên hạng 7), Trung Quốc nhích nhẹ từ hạng 35 lên 34, Philippines
nhảy 4 bậc từ 75 lên 71.
Thái Lan đứng nguyên hạng 28, mặc dù các yếu tố chính trị xấu đi